Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 14/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT ngày 14/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 10/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/01/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 10/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 14-01-2026
V/v tranh chấp chia tài sản sau
khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Lê Hoàng Vương.
Ông Nguyễn Thanh Tùng;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư phiên tòa: Trần Hoài Thu - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đi din Vin Kim st nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Trần
Thị Phước - Kim sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh - Cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý
số: 132/2025/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp tài
sản chung sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 16/2025/HNGĐ-ST ngày 28
tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 7499/2025/QĐ-PT ngày
15 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương H, sinh năm 1981, căn cước công dân
số: 074.181.007.745 cấp ngày 30/5/2022; địa chỉ: số B đường T, tổ G, khu phố
H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh); địa chỉ hiện nay: Số M, hẻm M, Đại lộ B, phường P, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Thế T, sinh năm 1998;
địa chỉ: số A khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/5/2024), có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Lê Thị
Mỹ H1 là Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
2
- Bị đơn: Ông Ngô C, sinh năm 1977, căn cước công dân số:
074.077.000.513 cấp ngày 10/4/2021; địa chỉ: số A, đường D, tổ A, khu phố A,
phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1988;
địa chỉ: Thôn P, Đ, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên lạc: sA hẻm F đường V,
khu phố P, phường T, thành phố HChí Minh người đại diện theo y quyền
của nguyên đơn (theo Hợp đồng ủy quyền ngày 09/01/2026), có mặt.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm
2000; địa chỉ tạm trú: sA, tổ dân phố A, khu phố B, phường B, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên lạc:
Số A Đại lộ B, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là
Phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Bá C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kin ngày 28/5/2024 quá trình gii quyết v án, người
đại din hp pháp của nguyên đơn ông Lê Thế T trình bày: Trn Th Phương H
ông Ngô C v chồng nhưng do xy ra mâu thuẫn nên đã ly hôn theo Bn
án s 22/2024/HNGĐ-PT ngày 02/7/2024 ca Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Khi ly hôn, Hông C không yêu cu Tòa án gii quyết v tài sn chung và n
chung. Sau khi ly hôn, do hai bên không tha thuận được vi nhau v tài sn nên bà
H khi kiện đến Tòa án yêu cu gii quyết, c th:
- V tài sn chung:
+ S tiền 4.900.000.000 đồng còn lại có được t vic chuyn nhượng quyn
s dụng đất din ch 100m
2
thuc thửa đất s ô10, t bản đồ s 8, ta lc ti khu
dân C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành ph H Chí
Minh). Sau khi tr ra s tiền 2.200.000.000 đồng đ ông C tr n Ngân hàng
TMCP A, s tin còn li 2.700.000.000 đồng yêu cầu được chia đôi, tương đương
s tiền 1.350.000.000 đồng.
Ngun gc phần đất trên do cha m ông C nhn chuyn nhượng ca
Tng Ngc Y. Đến ngày 04/02/2004, phần đất được cp giy chng nhn cho h
ông C. Sau đó, cha mẹ ông C đã tặng cho ông C và H, đến m 2008 ông C
H đã xây dựng căn nhà 01 trệt, 01 lu, bà H đã b ra s tiền 250.000.000 đồng
đ cùng ông C xây dựng nhà. Đến ngày 16/9/2015, ông C mi làm th tc cp nht
thay đổi li t h ông Ngô C thành ông N C. Đến tháng 01/2024 chuyn
nhượng vi vi s tiền 6.500.000.000 đồng, sau khi bán được ông C ly
1.600.000.000 đồng tr n cho Ngân hàng B, s tin còn lại 4.900.000.000 đng
ông C gi cho đến nay.
+ Chia đôi quyền s dụng đất din tích 450,3m
2
thuc thửa đất s 756, t
bản đồ s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P,
Thành ph H Chí Minh) theo Giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s hu
3
nhà tài sn gn lin với đất s CN 143727, s vào s cp GCN: CS12987 do
S Tài nguyên và Môi trường tnh B cp ngày 24/10/2018 cho ông Ngô Bá C và tài
sn gn lin đất. Bà Trn Th Phương H yêu cầu được nhn bng hin vt.
Ngun gc phần đất trên do cha m ông C tng cho H ông C năm
2008.
Trên phn đất trước đây đt trống, sau khi được cha m cho thì ông C
H đã cho thuê người thuê đã y dựng nhà xưởng kết cu mái tole, vách
ng, nn gch men. Mt thi gian h không thuê na tr li mt bng, ông C
và bà H đã mua lại công trình h đầu tư và hiện đang cho ông Nguyễn Văn T1 thuê.
+ Chia đôi quyền s dụng đất diện ch đất 204,4m
2
thuc thửa đất s 755,
t bản đồ s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tnh Bình Dương (nay là phường
P, Thành ph H Chí Minh) theo Giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s
hu nhà tài sn gn lin với đt s CN143743, s vào s CS 12988 do S Tài
nguyên Môi trường tnh B cp cho ông Ngô C, được cp nhật động chuyn
nhượng cho Trn Th Phương T2 ngày 25/7/2022 tài sn gn liền đất.
Trn Th Phương Hu cầu được nhn bng hin vt.
Ngun gc phần đất trên do cha m ông C tng cho H ông C năm
2007, cấp đi s năm 2018.
Do H ông C không vay được Ngân hàng nên mi nh T2 vay dùm
bng cách H ông C chuyn nhượng cho em rut H là Trn Th Phương
T2 đ nh T2 đng tên dùm trong giy chng nhn quyn s dụng đất đ thế
chp cho Ngân hàng TMCP A nhm vay dùm s tiền 2.000.000.000 đng. Hin
nay vn còn n Ngân hàng.
Trên đất 03 căn nhà trọ đưc H ông C xây dựng năm 2019. Hiện
nhà tr ông C đang cho thuê mỗi tháng 10.000.000 đồng, t tháng 2/2024 cho đến
nay thì ông C thu, còn trước đó bà H và ông C thu.
+ Chia đôi xe ô Toyota Camry, bin s đăng 51F - 247.79T mang tên
Ngô Minh V. Bà Trn Th Phương H yêu cầu được nhn bng giá tr.
+ Chia đôi lợi tức được t vic cho thuê 03 căn ntr gn lin vi din
tích đất diện tích đt 204,4m
2
thuc thửa đất s 755, t bản đồ s 62, ta lc ti
phường P, thành ph T, tỉnh Bình Dương (nay phường P, Thành ph H Chí
Minh) nhà xưởng gn lin vi diện tích đất 450,3m
2
, thửa đất s 756, t bản đ
s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành
ph H Chí Minh) mà ông C đã thu và hiện đang giữ t tháng 02/2024 tạm tính đến
ngày xét x tháng 7/2024 (10.000.000 đồng + 23.000.000 đồng) x 6 tháng =
198.000.000 đồng. Bà H yêu cầu chia đôi tương đương số tiền 99.000.000 đồng.
- V n chung: Ông Ngô C có trách nhim tr n chung cho Ngân ng
TMCP A s tiền 2.200.000.000 đồng.
Ngày 12/11/2024, nguyên đơn đã rút một phn yêu cu khi kin, không yêu
cầu Tòa án đối vi xe ô tô Toyota Camry, bin s đăng ký 51F - 247.79T.
Ngày 01/7/2025, nguyên đơn yêu cầu thay đổi yêu cu khi kin, không yêu
cu Tòa án gii quyết đối vi phần đất diện tích đt 204,4m
2
thuc thửa đất s 755,
4
t bản đồ s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tnh Bình Dương (nay là phường
P, Thành ph H Chí Minh) cùng vi tài sn gn lin với đất và li tức thu được t
nhà đất; không yêu cu gii quyết n chung vi Ngân hàng A s tin 2.200.000.000
đồng, chu cu Tòa án gii quyết các tài sn sau:
+ S tiền 4.900.000.000 đồng còn lại có được t vic chuyn nhượng Quyn
s dng diện tích đt 100m2 thuc thửa đất s ô10, t bản đồ s 08, ta lc ti khu
dân C, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông C đang quản lý. Sau khi tr ra s
tiền 2.200.000.000 đồng đ ông C tr n Ngân hàng TMCP A, s tin còn li
2.700.000.000 đồng yêu cầu được chia đôi, tương đương s tin 1.350.000.000
đồng.
+ Chia đôi quyền s dụng đất din tích 450,3m
2
thuc thửa đất s 756, t
bản đồ s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P,
Thành ph H Chí Minh) theo Giy chng nhn quyn s dụng đt s CN 143727,
s vào s cp GCN: CS12987 do S Tài nguyên Môi trưng tnh B cp ngày
24/10/2018 cho h ông Ngô C tài sn gn liền đất nhà xưởng kết cu
mái tole, vách tường, nn gch men. Trn Th Phương H yêu cầu được nhn
bng hin vt.
Chia đôi lợi tức được t việc cho thuê nhà xưởng gn lin vi din tích
450,3m
2
thuc thửa đất s 756, t bản đồ s 62, ta lc ti phưng P, thành ph T,
tỉnh Bình Dương ông C đã thu hiện đang giữ t tháng 02/2024 tạm tính đến
tháng 7/2024: (23.000.000 đồng x 6 tháng = 138.000.000 đồng. H yêu cu chia
đôi tương đương số tiền 69.000.000 đồng.
- B đơn ông NC trình bày: Ông Ngô C bà Trn Th Phương H
tìm hiu nhau t nguyện đi đến hôn nhân năm 2006. Quá trình chung sống, do
v chng xy ra mâu thuẫn nên đã ly hôn theo Bản án s 22/2024/HNGĐ-PT ngày
02/7/2024 ca Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Nay qua yêu cầu khi kin ca
bà H v chia tài sn chung, ông C có ý kiến như sau:
+ S tiền 4.900.000.000 đồng còn lại có được t vic chuyn nhượng quyn
s dụng đt din tích 100m
2
thuc thửa đất s ô10, t bản đ s 08, ta lc ti khu
dân C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành ph H Chí
Minh).
Ngun gc ca phần đất trên là do cha m ông C và ông C cùng b tin nhn
chuyn nhượng ca Tng Ngc Y đ cho ông C vào đầu năm 2004 (thời đim
này ông C vi H chưa kết hôn (tháng 1/2006 mi kết hôn). Đến ngày
04/02/2004, phần đất được cp giy chng nhn cho h ông C. Đến ngày 16/9/2015
thì ông C làm th tc cp nhật thay đổi li t h ông Ngô C thành ông Ngô
C. Đến năm 2005, cha mẹ ông C b tin ra xây cho ông C căn nhà căn n01 trệt
đến khi kết hôn vi bà H thì cha m bà H cho mượn 06 cây vàng đ bán ri xây tiếp
phía trên 01 lu. Khi xây dng không xin phép xây dựng nên không có đ cung cp
cho Tòa án.
Đến tháng 01/2024 ông C chuyn nhượng nhà đất trên vi s tin
6.250.000.000 đồng, sau khi bán được ông C lấy 1.680.000.000 đng tr n cho
Ngân hàng B, s tin còn lại 4.570.000.000 đng ông C gi nhưng hiện không còn
5
trong s tiền 4.570.000.000 đng thì s tin n Ngân hàng A 2.500.000.000
đồng, s tin còn lại 2.070.000.000 đồng ông C không đồng ý chia vì đây tài sn
riêng ca ông C, ông C bán đ tr n do bà H gây ra.
+ Quyn s dụng đất din tích 450,3m
2
thuc thửa đất s 756, t bn đồ s
62, ta lc ti phưng P, thành ph T, tỉnh Bình Dương (nay phưng P, Thành
ph H Chí Minh) theo Giy chng nhn quyn s dụng đất s CN 143727, s vào
s cp GCN: CS12987 do S Tài nguyên Môi trường tnh B cp ngày
24/10/2018 cho h ông Ngô C tài sn gn liền đất nhà xưởng kết cu
mái tole, vách tường, nn gch men.
Ngun gc phần đất trên của ông đ li cho cha m ông C, đến năm
2008 cha m ông C tng cho riêng ông C ông C đưc cp giy chng nhn
quyn s dụng đất, đến năm 2018 cấp đổi li s mi.
Trên phần đất trước đây là đt trống, sau khi được cha m cho vào năm 2008
thì ông C đã cho thuê, khi thuê họ đã xây dựng nhà xưởng có kết cu mái tole, vách
ng, nn gạch men đ làm nhà xưởng, sau đó h không thuê na tr li mt
bng nên ông C đã mua lại công trình h đầu đến nay tiếp tc cho ông T1 thuê.
Do đó, qua yêu cầu khi kin ca bà H thì ông C không đồng ý.
+ Đối vi tin li tc t việc cho thuê nhà đất ông C không đồng ý chia,
toàn b li tức thu được xut phát t tài sn riêng ca ông C.
Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 16/2025/HNGĐ-ST ngày 28 tháng
7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết
định:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Phương
H đối với bị đơn ông Ngô C về việc “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn” đối
với:
+ Xe ô tô Toyota Camry, bin số đăng ký 51F - 247.79T;
+ Quyền sử dụng đất diện tích đất 204,4m
2
thuộc thửa đất số 755, tờ bản
đồ số 62, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là) phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CN143743, số vào sổ CS 12988 do Sở
tài Nguyên Môi trường tỉnh B cấp cho ông Ngô C, được cập nhật động
chuyn nhượng cho Trần Thị Phương T2 ngày 25/7/2022. Trên đất căn
nhà cấp 4 có kết cấu mái Tole, vách tường, nền gạch men.
+ Lợi tức được từ việc cho thuê 03 n nhà trọ gắn liền với diện tích
đất diện tích đất 204,4m
2
,thuộc thửa đất số 755, t bản đồ số 62, tọa lạc tại
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố HChí
Minh).
+ Nchung: Nợ Ngân hàng TMCP A số tiền 2.200.000.000 đồng (Hai tỷ
hai trăm triệu đồng).
6
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị
Phương H đối với bị đơn ông Ngô C về việc “Tranh chấp tài sản sau khi ly
hôn”.
- Ông Ngô C được quyền quản lý, sử dụng phần đất diện tích 450,3m
2
(160m
2
đất 290,3m
2
đất trồng cây lâu năm), thửa đất số 756, tờ bản đồ số
62, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành
phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất CN 143727, số vào sổ cấp GCN: CS12987 do Sở
Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/10/2018 cho hộ ông Ngô C,
được đính chính lại chủ sử dụng đất Ngô Bá C ngày 28/11/2023. Ông Ngô Bá C
được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là căn nhà cấp 4 diện tích 321,9m
2
kết cấu mái tôn, vách tường, nền gạch men.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Ngô C có trách nhiệm thanh toán cho Trần Thị Phương H số
tiền 6.416.027.500 đồng (sáu tỷ bốn trăm mười sáu triệu không trăm hai mươi
bảy nghìn năm trăm đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, bị đơn ông Ngô Bá C kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị
Phương H.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
đề nghgiữ nguyên bản án thẩm. Bđơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu
cầu sửa bản án thẩm về phần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn chia 20% tài sản cho H, yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kim sát phát biu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng tại
Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông Ngô C kháng cáo nhưng không cung cấp được
chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng o của ông Ngô C làm trong thời hạn kháng cáo n
hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] V ni dung kháng cáo ca b đơn Ngô Bá C, xét thy:
7
[2.1] Trần Thị Phương H ông Ngô C vợ chồng đã ly hôn
theo Bản án số 22/2024/HNGĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân
dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).
[2.2] Quyền sử dụng đất diện tích 100m
2
gắn liền căn nhà 01 trệt, 01 lầu
thửa đất số ô10, tờ bản đồ số 08, tọa lạc tại khu dân cư C, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh):
- Quyền sử dụng đất diện tích 100m
2
nguồn gốc của Tống Ngọc Y
chuyn nhượng cho ông Ngô C. Ông C đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 04/02/20224. Đến ngày 16/9/2015 được cập nhật đổi tên người
sử dụng đất từ hộ ông ngô C thành ông Ngô C. Ngày 04/01/2024 ông C
đã chuyn nhượng cho ông Nguyễn Văn H2, ông H2 đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào
Điều 27, Luật Hôn nhân
gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 13 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày
03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân gia đình Điều 46
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đxác định quyền sử dụng đất trên là tài
sản riêng của ông C trước thời kỳ hôn nhân (năm 2004 ông C đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2006 H ông C mới đăng
kết hôn) phù hợp quy định của pháp luật. Hiện nay H ông C thống nhất
đã chuyn nhượng cho ông H2 số tiền thực tế là 6.250.000.000 đồng, đây là tổng
giá trị chuyn nhượng bao gồm quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất.
Nguyên đơn bị đơn thống nhất giá chuyn nhượng nhà đất trên
6.250.000.000 đồng, trong đó căn nhà 01 trệt, 01 lầu 900.000.000 đồng. Sau
khi khấu trừ stiền 900.000.000 đồng giá trị căn nhà thì giá trị quyền sử dụng
đất 5.350.000.000 đồng. Tòa án cấp thẩm xác định công sức đóng góp của
H trong việc bảo quản, gìn giữ, tôn tạo đất 20% giá trị đất nên trích công sức
đóng góp cho H 5.350.000.000 đồng x 20% giá trị quyền sử dụng đất nêu
trên tương đương số tiền là 1.070.000.000 đồng là có căn cứ.
- Căn nhà gắn liền với đất kết cấu 01 trệt, 01 lầu gắn liền quyền sử
dụng đất diện tích 100m
2
như trên, bà H xác định đã bỏ số tiền 250.000.000
đồng đ xây dựng nhà. Ông C cho rằng trước khi kết hôn với bà H thì cha mẹ
ông C đã bỏ tiền xây dựng cho ông C căn nhà 01 trệt, đến khi kết hôn với H
mới vay cha mẹ bà H 06 cây vàng đ xây dựng thêm 01 lầu phía trên. Tuy nhiên,
ông C cũng xác định do nhà xây dựng không phép nên không cung cấp được
chứng cứ chứng minh cho Tòa án. Do ông C không cung cấp được chứng cứ đ
chứng minh căn nhà là tài sản riêng trước thời kỳ hôn nhân không chứng
minh được nguồn tiền xây dựng nhà do một mình bỏ ra nên căn cứ vào sự tự
thừa nhận của bị đơn về việc sau khi kết hôn với H, mượn cha mẹ H
tiền đ hoàn thiện căn nhà 01 trệt 01 lầu nên căn cứ cho rằng tài sản được
hình thành trong thời kỳ hôn nhân của ông C, bà H.
Tòa án cấp thẩm xác định, ông C và H đầu tư xây dựng thêm 01 lầu
phía trên, bà H chỉ đóng góp 250.000.000 đồng nên ông C có công sức đóng góp
nhiều hơn nên cần chia giá trị căn nhà 900.000.000 đồng được chia theo tỷ lệ bà
H được hưởng 40% tương đương số tiền 360.000.000 đồng và ông C được
8
hưởng 60% tương đương số tiền 540.000.000 đồng theo quy định tại Điều 59
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 khoản 4 Điều 7 Thông liên tịch
01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2017 hướng dẫn thi
hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.
Như vậy, tổng số tiền H được chia 360.000.000 đồng
+1.070.000.000 đồng = 1.430.000.000 đồng.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất trong thời kỳ hôn
nhân các bên có vay tiền tại Ngân hàng B - Chi nhánh B, sau khi chuyn nhượng
nhà đất thuộc ô10, H ông C đã dùng số tiền 1.680.000.000 đồng đ tất
toán khoản vay tại Ngân hàng. Do khoản nợ tại Ngân hàng này đã được các bên
tất toán bằng nguồn tiền chuyn nhượng nhà đất nên mỗi người phải chịu ½
nghĩa vụ trả nợ tương đương số tiền 840.000.000 đồng. Do số nợ này đã được
trả nên sau khi đối trừ nghĩa vụ của hai bên thì số tiền H được chia
1.430.000.000 đồng – 840.000.000 đồng = 590.000.000 đồng.
Ông C xác định số tiền còn lại số tiền 4.570.000.000 đồng sau khi trả cho
Ngân hàng B thì ông C giữ, hiện không còn nên không đồng ý chia nhưng không
chứng minh được việc sử dụng số tiền 4.570.000.000 đồng vào mục đích chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày
của ông C, buộc ông C phải thanh toán lại cho Hằng số tiền 590.000.000
đồng (1).
[2.4] Đối với quyền sdụng đất diện tích 450,3m
2
thuộc thửa đất số 756,
tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) toàn bộ tài sản gắn liền đất. Tòa án cấp
thẩm xác định đây là tài sản riêng của ông Ngô C tính công sức đóng
góp trong việc bảo quản, gìn giữ, tôn tạo đất cho H 20% giá trị đất có
căn cứ và phù hợp pháp luật.
Như vậy, theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thì diện tích đất
450,3m
2
x 60.000.000 đồng (giá đất trồng cây lâu năm) giá trị:
27.018.000.000 đồng. Do đó, H được hưởng phần công sức
27.018.000.000 đồng x 20% = 5.403.600.000 đồng (2).
- Quyền sử dụng đất trên gắn liền căn nhà cấp 4 có kết cấu mái tole, vách
tường, nền gạch men. H ông C thừa nhận khi cha mẹ ông C cho đất
trống. Đến năm 2008 cho thuê thì người thuê đã đầu tư xây dựng công trình trên
đất đ làm nhà xưởng, sau đó người thuê đã trả lại mặt bằng. H, ông C ai
cũng cho rằng mình là người bỏ tiền ra mua lại công trình rồi đầu lại cho
ông Nguyễn Văn T1 thuê lại nhưng không ai cung cấp được tài liệu chứng cứ
đ chứng minh đã bỏ tiền ra đ mua lại và đầu tư, trong khi thời đim này ông C
H đang trong thời kỳ hôn nhân nên n cứ cho rằng căn nhà này tài
sản trong thời kỳ hôn nhân nên mỗi người được ½ tương đương số tiền 321,9m
2
x 3.126.000 đồng/m
2
x 60% = 603.755.000 đồng/2= 301.677.500 đồng (3).
- Đối với lợi tức được từ việc cho thuê nhà gắn liền với phần đất
450,3m
2
. Phía H cho rằng, ông C người đã thu tiền thuê hàng tháng từ
9
tháng 02/2024 đến nay. Qua xem xét hợp đồng thuê ngày 01/3/2024 được ký kết
giữa ông C với ông Nguyễn Văn T1 thì thời hạn thuê bắt đầu từ ngày 01/3/2024
đến ngày 01/3/2027 với tổng số tiền 402.500.000 đồng như cấp sơ thẩm xem xét
về công sức đóng góp đ tạo lập, duy trì và phát trin khối tài sản chung thì ông
C công sức đóng góp nhiều hơn (đất tài sản riêng của ông C trước thời kỳ
hôn nhân) nên cần chia hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc cho thuê nhà đất thuộc
thửa đất số 756, tờ bản đồ số 62 theo tỷ lệ H được hưởng 30% tương đương
số tiền 120.750.000 đồng ông C được hưởng 70% giá trị hoa lợi, lợi tức
tương đương số tiền 281.750.000 đồng. Ông C phải thanh toán lại cho H số
tiền 120.750.000 đồng (4).
Như vậy, tổng s tiền ông C phải thanh toán lại cho H n sau:
590.000.000 đồng (1) + 5.403.600.000 đồng (2) + 301.677.500 đồng (3) +
120.750.000 đồng (4) = 6.416.027.500 đồng.
[3] Người đại diện hợp pháp của bị đơn yêu cầu định giá lại tài sản
tranh chấp Toà án thẩm định giá vào tháng 3/2025 đến nay đã lâu nên cần
định giá lại. Xét thấy, trước khi mở phiên toà cũng như trong đơn kháng cáo của
bị đơn không yêu cầu định giá lại, tại phiên toà phúc thẩm lại yêu cầu
không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, Toà án cấp thẩm xét xử căn cứ, phù
hợp pháp luật; ông C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới
giá trị chứng minh cho yêu cầu kháng của mình nên Hội đồng xét xử phúc thẩm
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
[5] Xét quan đim giải quyết vụ án của đại diện Viện Kim sát tại phiên
tòa là phù hợp.
[7] Các phần khác của bản án thẩm hiệu lực pháp luật k tthời
đim hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của ông C không được chấp
nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên ông C phải nộp án phí phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Ngô Bá C.
2. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 16/2025/HNGĐ-
ST ngày 28 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ
Chí Minh.
10
3. Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm:
Bị đơn ông Ngô Bá C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được
trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên
lai thu số 0017455 ngày 15/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí
Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- TAND Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí
Minh ;
- Phòng Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh;
- Các đương sự (đ thi hành);
- Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Hoàng Vương
Tải về
Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT Bản án số 10/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất