Bản án số 432/2021/DS-PT ngày 04/05/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 432/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 432/2021/DS-PT ngày 04/05/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 432/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/05/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH Y tế A và Nguyễn Thị Mộng C tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 432/2021/DS-PT
Ngày: 04-5-2021
V/v
Tranh chấp bồi thường thiệt
hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm
”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Giảng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu
Bà Phạm Thị Thảo
Thư phiên tòa: Trương Nguyễn Thu Trang Thư Tòa án nhân dân
Thành phHồ C Minh.
Đại diện Vin kiểm sát nn dân Thành ph H C Minh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Trong c ngày 26 tháng 4 04 tháng 5 năm 2021, ti trụ sở a án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số
38/DSPT ngày 13/01/2020 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự thẩm số 287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019 của Tòa
án nhân dân Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1022/2021/QĐXXPT-DS ngày
15/3/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Y tế A.
Địa chỉ trụ sở: Số 6 XD, (lô Md5-1, khu A XC), XB, P. XA, Quận O, TP.
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Bà Lê Thị B, sinh năm 1989 và bà
Nguyễn Ái G, sinh năm 1995 (Giấy ủy quyền ngày 06/01/2020).
Địa chỉ: Phòng 1602, toà nhà GP, 35 XH, phưng XG, Qun XE,
Thành ph H Chí Minh. (có mt)
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng C, sinh năm 1980. (có mt)
Địa chỉ: 13 PM, Đường số 1, HV, Phường PA, Quận O, TP. Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo u quyền: Ông Nguyễn Trần D, sinh năm
1986 (Giấy ủy quyền ngày 08/01/2019). (có mt)
2
Đa ch: 17 TK, phưng TĐ, Qun XE, Thành ph H Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Công ty TNHH
Y tế A đại diện hợp pháp theo ủy quyền Thị B Nguyễn Ái G
trình bày:
Vào sáng ngày 19/6/2018, Nguyễn Thị Mộng C đến Bệnh viện M để
thăm khám. Thông tin bà C cung cấp cho các bác sĩ của Bệnh viện M là: khoảng
3 đến 4 tuần trước khi đến Bệnh viện M (cuối tháng 5 hoặc đầu tháng 6) bà C đã
dùng hai lần thuốc ngừa thai khẩn cấp. Những tuần sau đó, bà C bị chảy máu bất
thường nên bà quyết định đến Bệnh viện M; trước đây, bà đã từng sinh mổ 2 lần.
Các bác đã thực hiện hai khảo sát sau: Xét nghiệm ththai nhanh bằng nước
tiểu (que thử thai Quickstick), kết quả âm tính; Siêu âm được thực hiện bởi một
chuyên gia siêu âm thai, kết quả siêu âm cho thấy không túi thai túi
dịch hỗn hợp, nhiều khả năng là máu đông. Từ kết quả trên, bác sĩ Bệnh viện M
quyết định tháo lưu máu trong lòng tử cung bằng phương pháp hút hoặc bằng
thuốc Misoprostol (phương pháp dùng thuốc Misoprostol là do C chọn
lo ngại phương pháp hút sẽ gây đau). Sau đó C về nhà và được được c
dặn dò rằng nếu bà C bị chảy máu nhiều thì bà phải quay lại bệnh viện.
C bắt đầu bị chảy máu nhiều vào tối muộn trở lại Bệnh viện M vào
lúc 11h30 đêm cùng ngày (19/6/2018). Khi đó, xét nghiệm ththai nhanh bằng
nước tiểu có kết quả dương tính. C được thăm khám bởi bác sĩ trực khoa sản
được thực hiện thủ thuật hút lòng tử cung cầm máu. Bà ngưng xuất huyết sau
đó nằm viện vài ngày trước khi xuất viện. Khi C xuất viện vào ngày
22/6/2018, khăng khăng yêu cầu các bác điều trị phải xóa bỏ thông tin về
việc bà đã dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp trong tóm tắt xuất viện của bà, một tài
liệu quan trọng trong hồ sơ bệnh án nên các bác của Bệnh viện M đã tchối
sửa hồ sơ bệnh án theo yêu cầu của bà.
Vào lúc 9h47 ng ngày 23/6/2018, C đã đăng tải trên trang Facebook
“C Nguyen” của một bài viết tiêu đề “KHI BẠN THAI NHƯNG
BỆNH VIỆN NÓI KHÔNG VÀ CHO THUỐC PHÁ THAI ĐỂ ĐẨY DỊCH Ứ”.
Trong bài viết này, C đã nói rằng bà được cho thuốc phá thai trong khi
đang thai kể lại một cách đầy kịch tính tình huống được cấp cứu tại
Bệnh viện M chiến đấu giữa sự sống cái chết, tự hỏi về đạo đức của các
bác sĩ Bệnh viện M và kết luận bằng cách yêu cầu mọi người chia sẻ bài viết của
mình. Thực tế C đã đăng i viết này sau khi đã được bác giải thích
ràng rằng đã bị sảy thai thể do đã uống thuốc ngừa thai khẩn cấp vài
tuần trước đó (điều bà không đề cập đến trong bài viết của mình), đây
cũng nguyên nhân dẫn đến tình trạng chảy máu kéo dài của và đó do
tại sao đến thăm khám tại Bệnh viện M. Hơn nữa, hầu hết những tả
đã xảy ra tại Bệnh viện M vào tối hôm đó hoàn toàn đều lời dựng chuyện của
bà, bởi lẽ một số nhân chứng bao gồm người chăm c bà, y bác đều
chứng kiến sự thật diễn ra lúc đó không đúng như lời bà klại. dụ như, C
hoàn toàn tỉnh táo, không hề phản ứng khi được thông báo rằng xét
3
nghiệm thai kỳ dương tính và cũng chưa bao giờ "khóc như một đứa trẻ”.
Rất nhiều chi tiết khác trong bài viết của hoàn toàn sai sthật được
sáng c nên. Cách câu chuyện được kể nhằm mục đích cố tình gây ấn tượng
mạnh mẽ để thu hút cảm c của các mẹ của tất cả mọi người nói chung.
đã kể lại sự việc như thể đây một sự cố y khoa nghiêm trọng, là một tội ác
m tắt lại một cách đơn giản các bác của Bệnh viện M đã giết chết bào
thai của bà.
Bài viết của đã thu hút sự quan tâm của công chúng với hơn 3000 lượt
chia sẻ, 101 lời bình luận và hơn 4.500 người thích bài viết của bà. Ngay lập tức,
bài viết đã được lan truyền trên mạng, đến với các nhà báo sau đó tin tức
được khuyếch tán tràn lan tạo nên một cuộc khủng hoảng truyền thông nhấn
chìm M. Gần 300 bài báo đã được đăng tải bằng hình thức báo giấy cũng như
báo mạng. Rất nhiều trong số đó giọng điệu công kích tiêu đề phản cảm
chỉ đơn thuần kể lại những C đã viết, làm người đọc hiểu sai bản chất sự
việc phương pháp điều trị của Bệnh viện M; khiến người đọc tin rằng Bệnh
viện M đã mắc phải một sai lầm y khoa tồi tệ.
Dưới áp lực truyền thông, Bác sĩ N – Tổng Giám đốc bệnh viện đã triệu tập
một cuộc họp khẩn cấp vào tối muộn thứ bảy ngày 23/6/2018; ông cùng với tất
cả những người quản tại Bệnh viện M đã phải dành toàn bộ ngày chủ nhật
24/6 và thứ hai 25/6 để xem xét toàn bộ sự việc đã xảy ra. Tất cả điều dưỡng, n
hộ sinh và các bác liên quan đều được phỏng vấn. Ban quản các cán
bộ y tế chủ chốt của Bệnh viện đã dành toàn bộ thời gian vào thứ hai (25/6)
thứ ba (26/6) để tham gia vào các cuộc họp trả lời các câu hỏi của nhà báo.
Các nhà báo liên tục gọi điện đến Bệnh viện M để hỏi thông tin yêu cầu một
cuộc họp báo phải được tổ chức gấp rút để cung cấp cho họ thông tin chính xác
đã nhiều bài báo được đăng tải đã hủy hoại danh tiếng của Bệnh viện M.
do đó, Bệnh viện M đã phải thuê một công ty truyền thông để giúp giải
quyết cuộc khủng hoảng truyền thông.
Theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Bệnh viện M đã thành lập
một Hội đồng chuyên môn vào ngày 26/6/2016, bao gồm các chuyên gia nổi
tiếng đầu ngành từ Bệnh viện U. Hội đồng chuyên môn đã xem xét kỹ hồ
bệnh án, chất vấn các c nhân viên liên quan đưa ra kết luận các
chẩn đoán, phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân của Bệnh viện M là phù
hợp. Hơn thế nữa, các nhà báo đã liên hệ Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Bộ
Y tế, buộc các quan này phải phản ứng chính thức đối với sự việc. o
ngày 26/6/2018, Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh BY tế đã ban hành ng văn yêu
cầu Bệnh viện M giải trình về trường hợp của bà C. Sở Y tế Thành phố Hồ Chí
Minh đã đến Bệnh viện M và niêm phong toàn bộ hồ sơ bệnh án của bà C.
Căn cứ vào diễn biến sự việc nêu trên, những thông tin sai lệch mà Bà C đã
cung cấp, cách thức bà kêu gọi người đọc chia sẻ lan truyền thông tin, sau đó
được các phương tiện truyền thông, cả báo giấy lẫn báo mạng, thậm chí
truyền hình đưa tin, ràng một sự phỉ báng căn cứ, làm tổn hại đến danh
tiếng uy tín của Bệnh viện M các bác sĩ. Sự việc buộc Bệnh viện M phải
tiến hành những biện pháp tốn kém nhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng
truyền thông hạn chế thiệt hại cho uy tín của Bệnh viện M do bài viết trên
4
Facebook của C; buộc Bệnh viện M cùng toàn thể đội ngũ y bác phải mất
một khoảng thời gian và công sức đáng kể để truyền đạt sự thật đến công chúng.
Do C đã hành vi vi phạm pháp luật như đã nêu trên, căn cvào
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự 2015, Bệnh viện M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà C: Xóa bỏ toàn bộ
các bài viết trên trang Facebook của liên quan đến vụ việc này; Phải xin lỗi
công khai Bệnh viện M bằng cách gửi thư xin lỗi đến ít nhất 3 tờ báo theo chỉ
định của Bệnh viện M; Phải bồi thường cho Bệnh viện M những thiệt hại sau:
Chi phí lập vi bằng: 6.200.000 đồng; Chi phí thuê công ty truyền thông xử
khủng hoảng truyền thông: 1.362.308.640 đồng; Bồi thường tổn thất về tinh thần
do uy tín của Bệnh viện M bị xâm phạm bằng số tiền là 13.900.000 đồng.
Bị đơn Nguyễn Thị Mộng C
đại diện hợp pháp theo uỷ quyền ông
Nguyễn Trần D trình bày:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn vì: Bác sĩ của Bệnh viện
M chủ quan, thiếu sót phần cẩu thả trong việc áp dụng phương pháp lâm
sàng, kiểm tra cận lâm sàng, không đánh giá tiền sử bệnh của bệnh nhân dẫn đến
việc kết luận tình trạng bệnh của bệnh nhân không chính xác, y hậu quả
nghiêm trọng cho sức khoẻ của C, cụ thể: Que thử thai cho kết quả âm tính.
Đối với trường hợp này, cần xác định rằng que thử thai không đảm bảo việc cho
kết quả chính xác 100% là bệnh nhân thai hay không thai, do đó Bác
không được căn cứ vào kết quả que thử thai âm tính để khẳng định một bệnh
nhân không có thai; Chính vì việc này nên mới dẫn đến kết quả kiểm tra que thử
thai lần 2 ngày 20/6/2018 cho kết quả dương tính (bệnh nhân mang thai);
Bác sĩ thực hiện siêu âm vùng chậu ngã âm đạo: kết quả siêu âm xác định không
thai nhưng có dịch ứ. Từ các kết quả trên, bác sĩ kết luận bà C không có thai,
dẫn đến việc cho bà C sử dụng thuốc Misoprotol tab 200mcg.
Tuy nhiên, việc căn cứ vào những kết quả kiểm tra nêu trên để kết luận
đưa ra phương án điều trị chưa đầy đủ thiếu sở, bởi lẽ: Kết quả siêu âm
chỉ xác định có dịch ứ mà không xem xét và đề cập đến vị trí vết mổ thai cũ, dẫn
đến không phát hiện được nhau thai bám sẹo vết mổ cũ. Trong khi đó, việc
này bắt buộc phải kiểm tra nếu không khi điều trị sdẫn đến nguy hiểm chết
người hoặc để lại hậu quả nghiêm trọng, khi điều trị dễ dẫn đến chảy máu
nghiêm trọng chỗ thai m, thậm chí thể làm nứt vỡ sẹo m tử cung; Bác
chưa thực hiện xét nghiệm chỉ sBeta HCG, trong khi đó việc thử chỉ tiêu này
sở chính xác để xác định việc bệnh nhân thai hay không, từ đó mới đưa
ra kết quchính xác làm sở cho việc điều trị. Do bác sĩ không tiến hành t
nghiệm chỉ số Beta HCG nên việc đưa ra kết luận C không thai hoàn
toàn không chính xác và không đảm bảo các trình tự về mặt y khoa. Sau khi cho
C uống thuốc Misoprotol tab 200mcg xảy ra tình trạng băng huyết nặng
như C đã đề cập trong bản tự khai, bác Bệnh viện M mới tiến hành xét
nghiệm chỉ số Beta HCG xác định C bbăng huyết do sảy thai, đồng
thời tiến hành phẫu thuật để nạo hút buồng tử cung và đặt bóng chèn.
Tuy nhiên sau đó bệnh viện vẫn chưa xác định được có nhau thai bám ở sẹo
vết mổ cũ, dẫn đến việc còn sót nhau thai ở sẹo và bà C tiếp tục bị ra máu, do đó
5
bà C phải tiếp tục khámBệnh viện U. Kết quả C lại phải tiếp tục phẫu
thuật lần thứ hai trong tình trạng rất nguy hiểm do lần phẫu thuật trước đó chỉ
cách 07 ngày, rất nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của bản thân bà C.
Bệnh viện nhiều lần khẳng định việc bà C sử dụng thuốc tránh thai Postinor
dẫn đến bị sảy thai. Tuy nhiên, căn cứ theo Quyết định số 315/QĐ-BYT về việc
ban hành tài liệu chuyên môn “hướng dẫn chẩn đoán điều trị các bệnh sản
phụ khoa” của Bộ Y tế ngày 29 tháng 01 năm 2015 thì chế tác dụng của
thuốc chủ yếu lên chất nhầy cổ tử cung, gây ức chế rụng trứng chỉ khoảng 57%.
Bên cạnh đó, theo công dụng của thuốc được công bố tại trang web chính thức
của Postinor: https://postinor.com.vn/su-dung-postinor-nhu-the-nao/ cũng khẳng
định Nếu bạn đã mang thai, bởi Postinor sẽ không tác dụng ngừa thai
mặc dù nó không gây hại cho bạn hoặc thai nhi.” “Thuốc ngừa thai khẩn cấp
không tác dụng nếu bạn đã mang thai cũng không ảnh hưởng đến việc
thành lập bào thai hay em bé.”
Như vậy, việc Bệnh viện M cho rằng C bị sảy thai do uống thuốc ngừa
thai khẩn cấp không phù hợp về mặt chuyên môn cũng như trên thực tế. Do
đó, bà C không loại trừ việc Bệnh viện M khẳng định như vậy để lẩn tránh trách
nhiệm làm bà C bị sảy thai.
Từ đó, có thể kết luận rằng những sai sót chuyên môn của các bác mà bà
C đã nêu trên đây thực tế y những tổn thất không chỉ vmặt sức khoẻ không
thể đắp được, còn gây cho gia đình C sự tốn kém về mặt chi phí
khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời mất hội làm việc thu nhập trong thời
gian điều trị bệnh của bà C và của người thân.
Các chng cứ do Bệnh viện M cung cấp không có giá trị pháp lý, không đủ
cơ sở chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Bệnh viện M, cụ thể:
- Các hình ảnh được thừa phát lại ghi nhận trong Vi bằng không xác định
được nguồn gốc xuất xứ của chứng cứ: Theo Vi bằng số 920 ngày 25/06/2018
của VPTPL Quận 8, Bệnh viện M đã cung cấp 06 hình ảnh do Dương Thành
Thúy Đoan chụp lại từ màn hình máy tính bàn hiệu LG làm chứng cứ trong vụ
án này. 06 hình ảnh tài liệu nhìn được là nguồn chứng cứ theo quy định tại
khoản 1 Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Bệnh viện M
không chứng minh được xuất xứ của 06 hình ảnh trong vi bằng được chụp lại từ
máy tính LG có Model là bao nhiêu.
- Biên bản họp hội đồng chuyên môn không đảm bảo tính khách quan,
không có giá trị pháp lý về hình thức và nội dung, cụ thể:
Thứ nhất, không đảm bảo tính khách quan: Bệnh viện M nơi gây ra tai
biến cho bệnh nhân. Tuy nhiên trong hội đồng chuyên môn lại3/6 thành viên
là người của Bệnh viện M, gồm ông Giám đốc Bệnh viện M, bác s Nguyễn Thi
S PGĐ y khoa Bệnh viện M, nguyễn Thị T là điều dưỡng viên của Bệnh viện
M.
Thứ hai, hình thức biên bản không đúng quy định pháp luật: Thành phần
của hội đồng chuyên môn không đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật
khám, chữa bệnh năm 2009, Cụ thể: Ông Giám đốc Bệnh viện M, bác sỹ
6
Nguyễn Thi S PGĐ y khoa Bệnh viện M, nguyễn Thị T đều không phải là
chuyên gia theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật khám, chữa bệnh năm 2009.
Thứ ba, nội dung biên bản không phù hợp với nguyên tắc theo quy định,
đánh giá không chính xác, không đánh giá đầy đủ và toàn diện các phương pháp
lâm sàng, cụ thể:
Trong biên bản họp chỉ 2 ý kiến chuyên môn của bác sỹ Hà Tố Qvà bác
sỹ Mỹ P (của Bệnh viện U) chỉ dựa trên kết quả siêu âm thông tin không đầy
đủ do chính Bệnh viện M đưa ra. Không có sự thảo luận giữa các thành viên hội
đồng là trái với nguyên tắc tại khoản 2 Điều 75 Luật khám, chữa bệnh năm 2009
“Hội đồng hoạt động theo nguyên tắc thảo luận tập thể”. Không sự tham gia
của các bên liên quan tranh chấp C. Do đó, không hợp pháp về hình
thức, cũng như nội dung để làm cơ sở giải quyết vụ án.
- Bệnh viện M không tài liệu, chứng cứ chứng minh bài viết trên trang
cá nhân của bà C gây ảnh tiêu cực từ truyền thông.
Thứ nhất, Facebook trang nhân, do đó C được toàn quyền thể hiện
tâm tư, cảm xúc của chính mình. Hơn nữa, những nội dung trong trang nhân
bà C thể hiện đều là sự thật, cụ thể: Bệnh viện M khẳng định bà C không có thai
tại buổi thăm khám sáng ngày 19/06/2019 đó sự thật. Toàn bộ sự việc từ lúc
C sau khi sử dụng thuốc theo đơn của c Bệnh viện M toa thì bị băng
huyết phải quay lại M để cấp cứu đó cũng sự thật. Tối ngày 19/06/2019, bà C
được Bệnh viện M thông báo thai thai đã đó sự thật. C không
nghĩa vụ phải chứng minh hay không việc C khóc như một đứa trẻ,
cảm xúc đó thuộc quyền cá nhân bà C. Bệnh viện M đã lấy ý kiến của nhân viên,
bác đang làm việc tại Bệnh viện M để khẳng định rằng “Bà C hoàn toàn tỉnh
táo, không khóc như một đứa trẻ” bao biện không đủ độ tin cậy, bên cạnh
đó cũng không loại trừ khả năng chính Bệnh viện M đã áp đặt ý chí lên nhân
viên, bác để họ phải đưa ra ý kiến “Bà C hoàn toàn tỉnh o, không khóc như
một đứa trẻ”. Qua đó thể nhận thấy rằng, Bệnh viện M đang một hành
động vô tâm, Bệnh viện M đang vô tâm trước nỗi đau của bệnh nhân. Bệnh viện
M cho rằng, bà C không ghi nhận nội dung C đã dùng viên thuốc tránh thai
khẩn cấp trước đó dẫn đến thai”, quan điểm này hoàn toàn không phù hợp,
bởi lẽ: Tại thời điểm xuất viện ngày 22/06/2018, chính Bệnh viện M cũng không
xác định được nguyên nhân của sự việc, chỉ nói là thể thì làm sao thể yêu
cầu C đưa ra những nội dung không thuộc chuyên môn của C, những nội
dung đó không phải sự thật. Do đó, C không nghĩa vụ phải thể hiện
những điều không đúng với sự thật đó trong bài viết.
Thứ hai, Bệnh viện M không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh có sự
khủng hoảng truyền thông từ bài viết của Bà C, cụ thể: Tại mục 6 đơn khởi kiện,
bản tự khai, bản ý kiến ngày 02/08/2019, Bệnh viện M khẳng định các số liệu
“bài viết thu hút sự quan tâm của công chúng với hơn 3000 lượt chia sẻ, 101 lời
bình luận hơn 4500 thích; gần 300 bài báo được đăng tải với hình thức báo
giấy cũng như báo mạng, rất nhiều trong số đó giọng điệu công kích và tiêu
đề phản cảmm sở xác định mức ảnh hưởng, sự khủng hoảng truyền thông
từ bài viết của C. Tuy nhiên, đến thời điểm kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công
7
khai chứng cứ ngày 14/08/2019, Bệnh viện M không cung cấp tài liệu, chứng
cứ chứng minh cho số liệu được Bệnh viện M đã đưa ra tại mục 6 đơn khởi kiện
“bài viết thu hút sự quan tâm của công chúng với hơn 3000 lượt chia sẻ, 101
lời bình luận hơn 4500; gần 300 bài báo được đăng tải với hình thức báo
giấy cũng như báo mạng, rất nhiều trong số đó giọng điệu công kích tiêu
đề phản cảm” để chứng minh có sự khủng hoảng truyền thông từ bài viết của bà
C. Bệnh viện M cho rằng sau bài viết ngày 23/06/2018, C đã đăng thêm
những bài viết khác liên quan đến vụ việc. Tuy nhiên, Bệnh viện M không cung
cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh có tồn tại nhng bài viết khác có liên quan vụ
việc.
Thứ ba, chính những hành động không đúng đắn, phát ngôn thiếu chuyên
môn của lãnh đạo Bệnh viện M đã gây ra n ng luận trong giới y bác sĩ,
cộng đồng và dư luận, cụ thể: Bệnh viện M đã tổ chức họp báo và phát biểu trên
các kênh truyền thông “khẳng định ngày 19/06/2018 kiểm tra Beta HCG
xác định C thai hay không thì vẫn sử dụng thuốc Misoprotol phù hợp,
chính phát biểu sai lầm thiếu chuyên môn đó của những người đứng đầu
Bệnh viện M đã tạo ra làn sóng phản ứng từ chính giới y, bác trong ngành
cả cộng động truyền thông. Theo mục III phụ lục 1 hợp đồng ứng phó đã thể
hiện, Bệnh viên M đã YÊU CẦU công ty TRUYỀN THÔNG sử dụng những thủ
thuật như nâng đỡ viral, seeding comment mua lượt share về nội dung câu
chuyện y đức” để tạo sự lan truyền sự việc cho giới truyền thông cộng đồng.
Chính hành động sdụng các thủ thuật trên của Bệnh viên M nguyên nhân
khơi dậy, lan truyền sự việc trong từ giới truyền thông. Do đó, bà C không có lỗi
trong cuộc khủng hoảng truyền thông của Bệnh viện M. Bệnh viên M phải tự
chịu đối với sai sót về chuyên môn, về những hành động thiếu chuẩn mực, y
đức, thiếu trách nhiệm và vô tâm đối với bệnh nhân.
Tại Đơn yêu cầu phản tố ngày 06/5/2019, bà C yêu cầu Tòa án xem xét các
sai phạm của Bệnh viện M cụ thể như sau:
1/ Xâm phạm Quyền được khám bệnh, chữa bệnh: Ngày 25/06/2018, C
trở lại Bệnh viện M tái khám theo đúng lịch hẹn, khi đang được thăm khám
trong Phòng khám sản cùng bác Vĩnh Thành thì Ban giám đốc Bệnh viện M
(gồm Giám đốc điều nh Giám đốc truyền thông) đã đường đột vào trong
phòng khám, cắt ngang buổi thăm khám của bà C và buộc bà C phải ra về. Bà C
đã ngất xỉu khi đang đợi thang máy và được nhân viên y tế tại đây đưa ngược trở
lại khoa sản. Như vậy, hành vi ngăn cản không cho C được tái khám của
Giám đốc Bệnh viện M trước hết đã vi phạm đạo đức nghề y, đồng thời còn vi
phạm quyền của người bệnh quy định tại Điều 7 Luật khám bệnh, chữa bệnh
năm 2009.
Không những thế, đối với trường hợp của C, việc C đang trong tình
trạng cần phải được theo dõi chặt chẽ sau khi phẫu thuật nhưng lại bị ngăn cản
nguy tiềm tàng dẫn đến các tình trạng nguy hiểm đối với bản thân C do
không được kiểm tra thăm khám kịp thời. Thực tế ngay sau khi bị ngăn cản
không được tiếp tục khám chữa bệnh bà C đã bị ngất xỉu, sau đó khi kiểm tra tại
Bệnh viện U cũng xác định C vẫn còn bị sót khối nhau sẹo MLT (O00.8.0)
như kết luận tại hồ sơ bệnh án của bà C tại Bệnh viện này.
8
2/ Xâm phạm Quyền được n trọng mật riêng tư: Ngày
26/06/2018, Bệnh viện M tổ chức họp báo vào lúc 15:00 công bố toàn bộ hồ
bệnh án thông tin nhân của C cho các quan báo chí phương tiện
truyền thông mà chưa có bất kỳ sự đồng ý nào của bà C. Việc Bệnh viện M tự ý
công bố hồ bệnh án thông tin nhân của Bệnh nhân đã vi phạm nghiêm
trọng nguyên tắc khám bệnh, chữa bệnh tại khoản 2 Điều 3 Quyền được tôn
trọng bí mật riêng tư quy định tại Điều 8 Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.
Hồ bệnh án thông tin cực kỳ bí mật nhạy cảm của mỗi nhân, do
đó, việc cung cấp thông tin bệnh án của C trên báo chí không được sự
đồng ý của bà C là vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của bà C.
3/ Xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của C: Ngày 29/06/2018,
Công ty TNHH Y tế A công văn s532-2018/MH-CEO báo cáo Bộ y tế về
vụ việc. Trong đó, tại kết luận Công ty TNHH Y tế A khẳng định nội dung
“Không biết do , mặc chúng tôi nghi ngờ rằng bệnh nhân đã không
nói cho chồng ấy biết về việc ấy đã dùng thuốc tránh thai khẩn cấp
lẽ thấy lỗi về điều đó nên quyết định viết nên một câu chuyện kết tội các bác
của chúng tôi đã giết thai nhi của ấy bằng cách cho uống thuốc phá thai
trong khi cô ấy đang mang thai”. Kết luận trên đây được Công ty TNHH Y tế A
công khai gửi trực tiếp cho các quan, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế
Tp.HCM, Phòng thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây một kết luận hoàn toàn bịa đặt, suy diễn sự vu khống trắng
trợn mà hậu quả của nó là gây ra sự hiểu nhầm nghiêm trọng dẫn đến ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hạnh phúc của gia đình C; tác động đến tâm nặng nề,
cũng như làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nhân
C.
Do đó, bà C yêu cầu phản tố:
1/ Buộc người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Y tế A phải xin
lỗi C trước tòa tiến hành cải chính thông tin, xin lỗi công khai bằng ch
gửi văn bản với nội dung được bà C đồng ý đăng trên ít nhất 03 (ba) tờ báo theo
chỉ định của bà C.
2/ Buộc Công ty TNHH Y tế A đính chính kết luận tại công văn số 532-
2018/MH-CEO do Công ty TNHH Y tế A gửi Bộ Y tế ngày 29/06/2018 xóa
bỏ “Bản tin đính chính trên trang Fanpage M”.
3/ Tuyên phạt Công ty TNHH Y tế A theo quy định của pháp luật về các
hành vi vi phạm nguyên tắc hành nghề khám chữa bệnh của Luật khám bệnh,
chữa bệnh như bà C trình bày trên đây.
4/ Buộc Công ty TNHH Y tế A bồi thường một lần cho C các khoản
thiệt hại với tổng số tiền 143.212.310 đồng (bằng chữ: Một trăm bốn mươi ba
triệu hai trăm mười hai ngàn ba trăm mười đồng), bao gồm các thiệt hại sau:
Tổn thất về chi phí điều trị, chăm sóc mất thu nhập trong thời gian điều
trị bệnh với số tiền 45.912.310 đồng, gồm các chi phí: Chi phí điều trị tại
Bệnh viện M 35.656.321 đồng; Chi phí điều trị tại Bệnh viện U 9.253.189
đồng; Chi phí điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy (Xét nghiệm, thuốc Rối loạn lo âu
9
khác F41 1.002.800 đồng; Thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm
(50 lần mức lương sở) với số tiền là 69.500.000 đồng; Thiệt hại về tinh thần
do danh dự, nhân phẩm, uy n bị xâm phạm (10 lần mức lương sở) với số
tiền 13.900.000 đồng; Thiệt hại về tinh thần do công bố sử dụng thông tin
cá nhân trái phép (10 lần mức lương cơ sở) với số tiền là 13.900.000 đồng.
Bản án sơ thm số 287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân
Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Căn cứ khoản 6 Điều 26; khoản 1 Điều 35; các Điều 146, 147, 203 Bộ
luật TTTDS;
- Căn cứ Điều 34, 38 và 592 BLDS 2015;
- Căn cứ Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ hướng
dẫn về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sdụng
án phí và lệ phí tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
1.1. Buộc Nguyễn Thị Mộng C xóa bỏ toàn bộ các bài viết trên trang
nhân Facebook của bà C liên quan đến vụ việc này;
1.2. Buộc Bà C phải xin lỗi công khai Công ty TNHH Y tế A bằng cách gửi
thư xin lỗi đến ít nhất 3 tờ báo theo chỉ định của Công ty TNHH Y tế A;
1.3. Buộc bà Nguyễn Thị Mộng C phải bồi thường cho tổn thất về tinh thần
do uy tín của Bệnh viện M bị m phạm 13.900.000đ (Mười ba triệu chín
trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày người đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án
không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi
theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trtại thời điểm thi
hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải bồi
thường cho nguyên đơn chi phí thuê Công ty truyền thông xử khủng hoảng
truyền thông: 1.362.308.640 đồng và chi phí lập vi bằng 6.200.000 đồng.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự
thẩm 53.055.259 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự
thẩm nguyên đơn đã nộp 26.641.480 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số AA/2017/0026390 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân s
Quận O Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, nguyên đơn còn phải nộp
26.413.779 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm mươi ba ngàn bảy trăm bảy mươi
chín) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự thẩm 4.170.000 đồng nhưng được
trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm nguyên đơn đã nộp 3.880.308
10
đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0031034 ngày
07/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, nguyên đơn còn phải nộp 289.692 đồng (Hai trăm tám mươi chín ngàn
sáu trăm chín mươi hai) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án thẩm
đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày, ktừ ngày
Tòa tuyên án.
Ngày 30/10/2019, nguyên đơn có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo
một phần Bản án dân sthẩm s287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019
của Tòa
án nhân dân Quận O. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. do
kháng cáo: Không đồng ý về việc Toà thẩm không chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bị đơn bồi thường chi phí
khắc phục thiệt hại chi phí lập vi bằng thuê công ty truyền thông xử
khủng hoảng truyền thông.
Ngày 01/11/2019, bị đơn đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn
bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019
của Tòa án nhân
dân Quận O. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận
yêu cầu phản tố của bị đơn. do kháng cáo: Toà án thẩm chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không sở, không phù hợp với
quy định pháp luật; Toà án thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố
của bị đơn là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn
không rút yêu cầu phản tố, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đã bổ sung xác định cụ thể nội
dung yêu cầu. Tòa án đã trưng cầu và thu thập thêm tài liệu chứng cứ là Kết luận
của Hội đồng chuyên môn thuộc Bộ Y tế.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp
luật ttụng trong quá trình giải quyết vụ án, phân tích nhận định về nội dung
kháng cáo của đương sự, đã có ý kiến nhận xét và đề nghị như sau:
- Về tố tụng:
Giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ
theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung:
Tại giai đoạn phúc thẩm, Tòa án thu thập bổ sung kết luận của Hội đồng
chuyên môn thuộc Bộ Y tế. Từ kết luận này sở chấp nhận một phần yêu
cầu phản tố của bị đơn vyêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe. Tuy nhiên,
do vấn đề này chưa được giải quyết tại cấp sơ thẩm nên căn cứ khoản 3 Điều 308
Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị phúc thẩm hủy bản án thẩm để giải quyết lại
sơ thẩm.
11
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét x
nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn của bị đơn đảm bảo đúng quy định
về thời hạn thủ tục kháng cáo. Quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết
vụ án thẩm đã xác định đúng. Về người tham gia tố tụng trong vụ án, cấp
thẩm đã đưa tham gia đủ tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Đối với nội dung tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh tại vụ án, căn cứ
khoản 2 Điều 80 Luật Khám bệnh, Chữa bệnh quy định các bên tranh chấp
trách nhiệm tự hòa giải, trường hợp hòa giải không thành thì các bên quyền
khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Đây quy định về điều kiện
khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét tại Biên bản họp” ngày 22/6/2018
n bản số 523-2018/MH-CEO ngày 26/6/2018 của Bệnh viện M thì thể
xác định đây trường hợp các bên đã hòa giải tranh chấp không thành nên có
đủ điều kiện khởi kiện.
[3] Căn cứ hồ sơ vụ án giai đoạn thẩm i liệu chứng cứ thu thập bổ
sung tại giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét thấy:
Căn cứ Hồ sơ bệnh án và theo kết luận của Hội đồng chuyên môn thuộc Bộ
Y tế (tại Văn bản số 946/BYT-BMTE ngày 09/02/2021 của Bộ Y tế), sở
xác định trước khi khám tại Bệnh viện M vào ngày 19/6/2018, Nguyễn Thị
Mộng C tiền sử mlấy thai 02 lần, trước khi khám tại Bệnh viện M trong
khoảng 1 tháng C sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp 02 lần. Trong lần
mang thai này, C tình trạng thai làm tổ sẹo mcũ, gai rau phát triển vào
lớp cơ tử cung, đây một tình trạng bệnh lý nguy hiểm.
Đối chiếu với toàn bộ nội dung bài viết của C đăng trên trang mạng
Facebook “C Nguyen” vào ngày 23/6/2018, thấy các tình tiết nêu trên hoàn toàn
không được bà C đề cập tại bài viết.
Bài viết của C thể hiện nội dung một mmang thai khoẻ mạnh nh
thường đã gặp sự cố y khoa khi khám, chữa bệnh.
Như vậy, từ việc bài viết không thể hiện đầy đủ toàn bộ các d liệu thông
tin, các tình tiết nội dung sviệc đã làm cho người đọc hiểu không đúng bản
chất toàn bộ sự việc. Từ bài viết đăng của bà C dẫn đến hiệu ứng lan truyền trên
mạng xã hội và cả các phương tiện thông tin truyền thông đã ảnh hưởng xấu đến
uy tín của Bệnh viện M. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị
đơn gỡ bỏ bài đăng, xin lỗi công khai bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần
do uy tín bị xâm phạm là có căn cứ, theo quy định tại Điều 34, khoản 2 Điều 592
Bộ luật dân sự. Tuy nhiên xét vnội dung, phạm vi việc xin lỗi cần được phúc
thẩm sửa án sơ thẩm cho phù hợp với tính chất, mức độ lỗi và phương thức thực
hiện phải cụ thể để đảm bảo cho việc thi hành án.
12
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với yêu cầu bồi thường chi phí lập
vi bằng và thuê công ty truyền thông xử lý khủng hoảng truyền thông: Chứng cứ
nguyên đơn cung cấp “Hợp đồng ứng phó xử khủng hoảng truyền
thông” số 014/2018/HĐCOM/SPL-MH ngày 26/6/2018. Xét thấy: Bài viết của
bị đơn đăng vào ny 23/6/2018 nhưng nguyên đơn hợp đồng xử truyền
thông thời gian từ ngày 20/6/2018, như vậy khoản chi phí này không hợp
và việc lập vi bằng là chi phí thu thập chứng cứ, như án sơ thẩm đã nhận định, vì
vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
[5] Căn cứ kết luận của Hội đồng chuyên môn thuộc Bộ Y tế (Tại Văn bản
số 946/BYT-BMTE ngày 09/02/2021 của Bộ Y tế) đã xác định: Bệnh viện M
trong lần khám đầu ngày 19/6/2018: “không phát hiện được người bệnh thai
tại sẹo mổ cũ”; “không chẩn đoán được tình trạng có thai của người bệnh, từ đó
dẫn đến xử trí không phù hợp”; trong lần nhập viện ngày 20/6/2018: “chưa
chẩn đoán chính xác bệnh của người bệnh “chửa tại sẹo mổ lấy thai” nên
xử lý chưa triệt để. Ngưi bệnh sau đó đã được Bệnh viện U điều trị triệt để.
Hội đồng xét thấy sxác định Bệnh viện M cũng đã sai sót trong
khám, chữa bệnh cho bà Nguyễn Thị Mộng C, sai sót này đã ảnh hưởng đến sức
khỏe của C nên buộc nguyên đơn phải trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại
trong trường hợp này khoản chi phí điều trị của bị đơn tại Bệnh viện U và
khoản đắp tổn thất về tinh thần, theo quy định tại Điều 73, 76 Luật Khám
bệnh, Chữa bệnh Điều 590 Bộ luật dân sự. Nội dung kháng cáo này của bị
đơn là có căn cứ chấp nhận.
[6] Về kháng cáo của bị đơn đối với yêu cầu phản tố về việc nguyên đơn
xâm phạm quyền được khám bệnh, chữa bệnh: Bị đơn cho rằng nguyên đơn, cụ
thể giám đốc điều hành giám đốc truyền thông của Bệnh viện M, đã
hành vi ngăn cản, không cho bị đơn được i khám tại Bệnh viện M vào ngày
25/6/2018, đồng thời bị đơn cung cấp bản dịch File ghi âm số 003” nội dung
các cuộc nói chuyện để chứng minh. Hội đồng xét thấy nội dung tài liệu của b
đơn cung cấp không chứng minh được hành vi xâm phạm quyền được khám
bệnh, chữa bệnh như án sơ thẩm đã nhận định.
[7] Về “Thông cáo báo chí” lúc 22
h
45 ngày 23/6/2018 của Bệnh viện M,
được công khai tại buổi họp báo ngày 26/6/2018: Xuất phát từ bài đăng không
thể hiện đầy đủ toàn bộ các dữ liệu thông tin, các tình tiết nội dung sự việc của
bị đơn (như nhận định tại mục [3]), sự việc này chắc chắn sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến uy tín hoạt động bình thường của Bệnh viện M nên Bệnh viện M
phải thông tin phản hồi về bài viết của bị đơn. Những thông tin cần thiết có
liên quan đến bệnh án cần thiết phải đưa ra sở để phản hồi đối với các
thông tin tại bài đăng của bị đơn. Đây các biện pháp cần thiết, hợp để ngăn
chặn, hạn chế thiệt hại phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 584, khoản 4 và 5
Điều 585 Bộ luật dân sự.
Về Công văn số 532-2018/MH-CEO ngày 29/06/2018 của Công ty TNHH
Y tế A gửi Bộ Y tế, đây văn bản nội bộ nguyên đơn báo cáo theo yêu cầu của
quan chủ quản trước thông tin luận từ bài viết của bị đơn. Nội dung
13
phần trích dẫn của bị đơn cũng là ý kiến báo cáo của nguyên đơn về do
bị đơn yêu cầu Bệnh viện phải xóa bỏ thông tin có sử dụng thuốc ngừa thai khẩn
cấp khi lập hồ bệnh án. Cách thức trình bày ý kiến tại công văn của nguyên
đơn chưa phù hợp nhưng đây đoạn trích trong một văn bản mang tính chất
báo cáo nội bộ, chưa đủ sở chng minh hậu quả xâm phạm danh dự, nhân
phẩm của bị đơn, như án sơ thẩm đã nhận định.
[8] Từ những căn cứ nhận định trên, có sở xác định việc bị đơn đăng tải
công khai trên trang mạng hội bài viết không đầy đủ thông tin sự việc, theo
hướng một chiều, thu hút đông đảo số lượng người đọc truyền thông luận
đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của Bệnh viện M; đồng thời cũng có cơ sở xác định
Bệnh viện M phần sai sót trong việc khám, điều trị cho bđơn đã ảnh hưởng
đến sức khỏe của bị đơn. Mỗi bên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
tương ứng với đối tượng bị xâm phạm mức độ lỗi theo quy định pháp luật
như đã viện dẫn. Vì vậy, có căn cứ sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận một
phần kháng cáo của bị đơn không chấp nhận các nội dung kháng cáo về yêu
cầu nguyên đơn xin lỗi, đính chính, xử phạt các khoản bồi thường số tiền
110.371.431 đồng. Các chứng cứ vụ án đã được thu thập đầy đủ không sự
vi phạm nghiêm trọng tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, do đó không
căn cứ hủy án như đề nghị của Viện kiểm sát.
[9] Án phí thẩm: Các đương sự không hồ xin miễn, giảm án phí
nên phải chịu theo quy định. Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu
và được trả lại tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 34, 38, 584, 590 và 592 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 73, 76
Luật Khám bệnh, Chữa bệnh.
Căn cứ Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ hướng
dẫn về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn; Sửa Bản án sơ thẩm s 287/2019/DS-ST ngày 21/10/2019 của
Tòa án nhân dân Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Buộc Nguyễn Thị Mộng C xóa bỏ toàn bộ bài viết “KHI BẠN
THAI NHƯNG BỆNH VIỆN NÓI KHÔNG CHO THUỐC PHÁ THAI ĐỂ
14
ĐẨY DỊCH Ứ” đăng ngày 23/6/2018, cả các bài bằng tiếng Việt tiếng Anh
đăng sau đó, trên trang Facebook cá nhân “C Nguyen” của bà C.
1.2. Buộc bà Nguyễn Thị Mộng C phải xin lỗi công khai Bệnh viện M bằng
cách đăng lên 3 tờ báo Báo Thanh niên, Báo Tuổi trẻ Báo Phụ nữ, mỗi bài
đăng một kỳ (một số), nội dung như sau:
“XIN LỖI CÔNG KHAI
Tôi Nguyễn Thị Mộng C, tài khoản trang Facebook “C Nguyen”, vào
ngày 23/6/2018 tôi đăng trên trang Facebook “C Nguyen” bài viết tựa đề
“KHI BẠN THAI NHƯNG BỆNH VIỆN NÓI KHÔNG CHO THUỐC
PHÁ THAI ĐỂ ĐẨY DỊCH Ứ”.
Bài viết đã không thể hiện đầy đủ các thông tin của sự việc, từ đó người
đọc hiểu không chính xác nội dung toàn bsự việc, làm ảnh hưởng đến uy n
của Bệnh viện M.
Tôi Nguyễn Thị Mộng C công khai xin lỗi Bệnh viện M”.
Chi phí đăng báo do bà Nguyễn Thị Mộng C phải chịu.
1.3. Buộc Nguyễn Thị Mộng C phải bồi thường tổn thất về tinh thần do
uy tín của Bệnh viện M bị xâm phạm là 13.900.000 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải bồi
thường chi phí thuê công ty truyền thông xử khủng hoảng truyền thông
1.362.308.640 đồng và chi phí lập vi bằng là 6.200.000 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn:
Buộc Công ty TNHH Y tế A phải bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Thị
Mộng C stiền 9.253.189 đồng bồi thường tổn thất về tinh thần do sức
khỏe bị xâm phạm là 69.500.000 đồng.
4. Không chấp nhận các yêu cầu phản tố khác còn lại của bị đơn về yêu cầu
nguyên đơn xin lỗi, đính chính, xử phạt và các khoản bồi thường với số tiền
110.371.431 đồng.
5. Kể từ ngày người đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền, nếu
người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi tương ứng
với thời gian chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
dân sự 2015.
6. Án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn phải chịu là 55.417.854 đồng, được
trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 26.641.480 đồng (theo biên lai thu số
AA/2017/0026390 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án n sự Quận O).
Nguyên đơn phải nộp thêm 26.691.374 đồng.
Bị đơn phải chịu 6.213.571 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp
3.880.308 đồng (theo biên lai thu số AA/2018/0031034 ngày 07/5/2019 của Chi
cục Thi hành án dân sự Quận O). Bị đơn còn phải nộp thêm 2.333.263 đồng.
Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu. Trả lại cho Công ty
TNHH Y tế A tiền tạm ứng 300.000 đồng (theo biên lai thu số
AA/2018/0031790 ngày 04/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận O);
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Mộng C tiền tạm ứng 300.000 đồng (theo biên lai thu
tiền số AA/2018/0031788 ngày 01/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân s
Quận O).
15
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Cấp cao tại TPHCM;
- TAND Tối cao;
- VKSND TP.HCM;
- Cục THADS TPHCM;
- TAND Quận O, TPHCM;
- Chi cục THADS Quận O, TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu HS; (T.20)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hồng Giảng
Tải về
Bản án 432/2021/DS-PT Hồ Chí Minh Bản án 432/2021/DS-PT Hồ Chí Minh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 432/2021/DS-PT Hồ Chí Minh Bản án 432/2021/DS-PT Hồ Chí Minh

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất