Bản án số 419/2020/HC-PT ngày 20/08/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 419/2020/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 419/2020/HC-PT ngày 20/08/2020 của TAND cấp cao tại TP.HCM
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại TP.HCM
Số hiệu: 419/2020/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2020
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bà Phạm Thị Thanh kiện UBND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 419/2020/HCPT
Ngày20-8-2020
V/v Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản
đất đai.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: : Nguyễn Thị Thụy Vũ
Các Thẩm phán: : Phạm Thị Duyên
: Trần Thị Hòa Hiệp
- Thư ký phiên tòa: : Hoàng Thị Kim Nhi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dâncấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại trụ sTòa án nhân n cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
348/2020/TLPT-HC ngày 19 tháng 6 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản ánhành chính thẩm s01/2020/HC-STngày14 tháng02năm 2020
của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2221/2020/QĐPT-
HCngày27 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Người khi kin:
Bà Phạm Thị T, sinh năm 1957 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số K136/71, tổ 71, khu phố 8, phường C, thành phố T, tỉnh Bình
Dương.
Người đại diện hợp pháp (theo văn bản ủy quyền ngày 24/6/2019): Ông Trần
T, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: Số 727/34 đường L, tổ 10, khu 7, phường P, thành phố T, tỉnh Bình
Dương.
2. Người bị kiện:
UBND thành phố T;
Địa chỉ: Số 01 đường Q, phường P, thành phố Th, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp (theo văn bản ủy quyền ngày 15/01/2020): Ông
Chí T Phó Chủ tịch UBND thành phố T (có đơn xin xét xử vắng mặt);
2
Địa chỉ: Số 01, đường Q, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phạm Thị B, sinh năm 1943 (vắng mặt);
3.2. Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1987 (vắng mặt);
3.3. Bà Lê Thanh T, sinh năm 1987 (vắng mặt);
3.4. Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số K136/71, tổ 71, khu phố 8, phường C, thành phố T, tỉnh
Bình Dương;
3.5. Bà Phan Hồng C, sinh năm 1957, địa chỉ: Số 222/11 đường L, Phường 1,
Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà C (theo văn bản ủy quyền ngày 04/9/2019):
Ông Lâm Phú X, sinh năm 1974 (có mặt);
Địa chỉ: Số 630A, khu phố N, phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
4. Người kháng cáo: Ông Trần T đi diện theo ủy quyền của người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo Đơn khởi kiện ngày 23/6/2019 của bà Phạm Thị T:
Tại bản án s181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương
giải quyết vụ kiện tranh chấp đòi đất cho ở nhờ giữa nguyên đơn bà Phan Hồng C,
sinh năm 1957, ngtại 222/11, đường L, Phường 1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí
Minh với bị đơn ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1947, ngụ tại K136/71, khu phố 8,
phường C, thành phố Tt, tỉnh Bình Dương (Ông M chết ngày 21/12/2016)
những người thừa kế quyền nghĩa vụ tố tụng gồm Phạm Thị T, Nguyễn Minh
C, Nguyễn Ngọc H, Phạm Thị B và Lê Thanh T đã quyết định như sau:
- Khoản 4.2 điều 4 của bản án: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Hồng C
cho những người thừa kế của ông Nguyễn Văn M gồm Phạm Thị T, Nguyễn
Minh C, Nguyễn Ngọc H các thành viên trong hộ gia đình ông Nguyễn Văn M
gồm bà Phạm Thị T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Ngọc H, Phạm Thị B Thanh
T được quản lý, sử dụng diện tích đất 200m
2
gắn liền ngôi nhà chính 73,9m
2
; chái
tôn phía trước 22,5m
2
; nhà tắm phía sau 26,2m
2
; 01 phần chuồng heo 15,03m
2
(kí
hiệu A) sơ đồ bản vẽ kèm theo tứ cận; Bắc giáp rạch; Nam giáp đất giao trả lại
cho Phan Hồng C; Đông giáp đất trả lại cho Phan Hồng C Tây giáp nhà,
đất bà Lê Thị R.
- Khoản 4.2 điều 4 quyết định: Buộc những người thừa kế của ông Nguyễn
Văn M gồm Phạm Thị T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Ngọc H các thành viên
trong hộ gia đình ông Nguyễn Văn M gồm Phạm Thị T, Nguyễn Minh C,
Nguyễn Ngọc H, Phạm Thị B và Lê Thị T tháo dỡ một phần chái tôn có diện tích
0,8m
2
03 cột xi măng để giao trả cho Phan Hồng C diện tích 197,4m
2
(ký
hiệu B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
3
- Khoản 4.4 điều 4 của bản án quyết định: Phan Hồng C trách nhiệm
bồi hoàn giá trị sử dụng còn lại các tài sản trên diện tích đất 197,4m
2
cho bà Phạm
Thị T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Ngọc H và Lê Thanh T các tài sản gồm: Nhà tạm
mái tôn, khung gỗ, nền gạch tàu, vách tôn diện tích 3,45m2; giếng khoan
moteur tổng cộng số tiền là 24.413.800 đồng.
Phạm Thị T không đồng ý thi hành bản án số 181/2017/DS-ST ngày
27/9/2017 của TAND tỉnh Bình ơng cho rằng bản án trên vi phạm nghiêm
trọng quyền lợi của mình, cụ thể: Bản án trên không xem xét, buộc Phan Hồng
C bồi thường số cây trồng lâu năm cho gia đình bà T gồm: 04 cây dừa ( 02 cây
khoảng 20 năm tuổi 02 cây khoảng 04 năm tuổi); 07 cây cau ( 02 cây khoảng
15 năm tuổi, 02 cây khoảng 08 năm tuổi, 02 cây khoảng 05 năm tuổi 01 cây
khoảng 01 năm tuổi); 01 cây măng cụt khoảng 20 năm tuổi; 01 cây mít khoảng 15
năm tuổi; 03 cây khế khoảng 15 năm tuổi; 04 cây tràm khoảng 18 năm tuổi, 01
cây mai khoảng 05 tuổi và 01 cây săn máu khoảng 05 năm tuổi.
vậy, Phạm Thị T đã khiếu nại đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố HChí Minh xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng chưa được
giải quyết. Nội dung này được thể hiện tại Công văn số 1353/CCTHADS ngày
21/9/2018 của Thi hành án dân sự thành phố T kiến nghị Chánh án Tòa án nhân
dân cấp cao tại Thành phố HCMinh xem xét bản án số 181 lại theo trình tự
giám đốc thẩm.
Trong khi bản án số 181 chưa được thi hành, Phan Hồng C khởi kiện vụ
án tranh chấp tài sản gắn liền trên đất với bà Phạm Thị T (án chồng án, 01 quan hệ
pháp luật bị giải quyết thành 02 lần), tại bản án số 99/2018/DS-ST ngày
15/10/2018 bản án số 28/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của TAND tỉnh Bình
Dương tuyên buộc Phan Hồng C bồi thường cho T số cây trồng trên diện
tích đất sẽ giao lại cho bà C 197,4m
2
với số tiền 7.760.000 đồng .
Hiện nay, bà Phan Hồng C chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho T số
tiền 24.413.800 đồng của bản án số 181 và số tiền 7.760.000 đồng của bản án s
28, quan thi hành án thành phố Th chưa thi nh xong bản án số 181 của
TAND tỉnh Bình Dương tại Biên bản về việc giải quyết việc thi hành án ngày
11/6/2019 (thể hiện đến hôm nay việc thi hành án vẫn chưa được các bên giải
quyết xong),nhưng UBND thành phố T lại ban hành Quyết định hành chính số
1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 để thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã cấp cho Phan Hồng C số H42031 được UBND thị (nay thành phố) T
cấp cho bà C ngày 25/8/2008.
Với căn cứ là: Để thực hiện và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất cho các đương sự theo Bản án số
181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương là trái quy định của
pháp luật Phan Hồng C chưa thực hiện nghĩa vụ thi hành bồi thường cho
Thanh số tiền theo bản án dân sự phúc thẩm số 181/2019/DS-PT ngày 27/9/2017
bản dân sphúc thẩm s28/2019/DS-PT ngày 19/3/209 của TAND tỉnh nh
4
Dương; trái quy định tại điểm a khoản 1 Điều 84 của Nghị định số 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
đất đai năm 2013 như sau:
Người nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nộp hồ đối với
trường hợp nhận quyền sử dụng đất theo kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại,
tố cáo về đất đai; xử hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền với đất, tài sản gắp liền với đất theo thỏa thuận, quyết định hoặc bản án của
Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của quan thi hành án đã được thi
hành…”.
Bà Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án:
1. Hủy quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân
thành phố T do ông Nguyễn Trọng  Phó chủ tịch đã ký.
2. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T bồi thường tổn thất tinh thần là 10 tháng
ơng sở : (1.490.00ồng/01 tng x 10 tháng) = 14.900.000 đồng.
3. Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T phải công khai xin lỗi đã ra quyết
định trái pháp luật, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà T.
* Tại văn bản số 1868/UBND-NC ngày 22/8/2019, người đại diện hợp pháp
của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày:
Vụ tranh chấp đòi đất cho nhờ giữa Phan Hồng C ông Nguyễn Văn
M đã được quan Tòa án giải quyết theo thẩm quyền TAND tỉnh Bình
Dương đã tuyên xtại Bản án phúc thẩm số 181/2017/QĐ-PT ngày 27/9/2017
nội dung: “…Kiến nghị UBND thành phố T thu hồi GCNQSDĐ số H42031 đã cấp
cho Phan Hồng C ngày 25/8/2008 để điều chỉnh lại diện tích thực tế C sử
dụng theo quyết định của bản án…”. Bản án phúc thẩm trên hiệu lực kể từ
ngày tuyên án và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một căn cứ theo
nội dung bản án, yêu cầu của người được thi hành án ng đã Quyết định số
338/QĐ-CCTHADS ngày 26/10/2017 về việc thi hành theo yêu cầu.
Theo khoản 6, Điều 87 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đất đai quy định về thủ
tục hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì: 6. Việc thu hồi Giấy chứng nhận
đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 điều 106 của Luật Đất đai
chỉ được thực hiện khi bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được
thi hành”. Do vậy, việc UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1424/QĐ-
UBND ngày 15/5/2019 là phù hợp với quy định pháp luật
Từ những sở nêu trên, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đề nghị
TAND tỉnh Bình Dương xem xét bác đơn của Phạm Thị T khởi kiện vụ án
hành chính yêu cầu hủy Quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của
UBND thành phố Thủ Dầu Một về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số H42031 do UBND thành phT cấp cho Phan Hồng C ngày 25/8/2008;
yêu cầu UBND thành phố T bồi thường tổn thất về tinh thần 10 tháng lương cơ sở
5
14.900.000 đồng; yêu cầu UBND thành phố T công khai xin lỗi đã ra quyết
định trái pháp luật.
* Tại Văn bản ghi ý kiến ngày 09/9/2019 và lời trình bày của người đại diện
của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Điều 106 Hiến pháp năm 2013, điều 19 Luật tố tụng dân sự 2015 đã quy
định: “Bản án, quyết đinh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành
phải được quan, tổ chức, nhân tôn trọng, quan, tổ chức, cá nhân
liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành’.
- TAND cấp cao tại Thành phố HChí Minh Thông báo số 471/TB-TA
ngày 21/5/2019 về việc trả lời kiến nghị của Chi Cục Thi hành án dân sự thành
phố Thủ Dầu Một và khiếu nại giám đốc thẩm của Phạm Thị Thanh, nội dung:
“Không có căn cứ kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 181/2017/DS-ST ngày
27/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương theo thủ tục giám đốc thẩm”. Đồng thời
cũng xác định: “Bản án phúc thẩm số 28/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của TAND
tỉnh Bình Dương đã xử lý triệt để cây trồng trên đất”.
- Tại mục 4.5 Quyết định của bản án dân sự phúc thẩm số 181/2017/DS-PT
ngày 27/9/2017 của TAND tỉnh Bình Dương tuyên: “Kiến nghị Ủy ban nhân dân
thành phố Thủ Dầu Một thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H42031
đã cấp cho bà Phan Hồng Phúc ngày 25/8/2008 để điều chỉnh lại diện tích đất thực
tế bà Cúc sử dụng theo quyết định của bản án”.
- Khoản 6 Điều 87 Nghị định 43/2014/ND-CP ngày 15/5/2014 của Chính
Phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 quy định: Việc thu hồi Giấy
chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của
Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân
dân đã được thi hành”.
- Tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2009 quy định
về Bản án, quyết định được thi hành là Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc
thẩm”.
Do vậy, việc UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1424/QĐ-UBND
ngày 15/5/2019 của UBND thành phố ThDầu Một để thu hồi Giấy chứng nhận
Quyền sử dụng đất số H43021 do UBND thị T cấp cho Phan Hồng C vào
ngày 25/8/2008 thực hiện theo kiến nghị tại mục 4.5 của Bản án dân sự phúc
thẩm số 181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 đang hiệu lực thi hành hoàn toàn
phù hợp với quy định pháp luật, nên thuộc trường hợp người bị kiện UBND
thành phố T người quyền lợi, nghĩa vliên quan không nghĩa vụ phải
chứng minh theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 79 Luật Ttụng hành chính
năm 2015.
- Trong đơn khởi kiện, bà Phạm Thị T (người khởi kiện) nói hiện nay
Phan Hồng C chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Phạm Thị Th theo bản án
dân sự phúc thẩm số 181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 và số 28/2019/DS-PT ngày
6
19/3/2019 của TAND tỉnh Bình ơng không đúng, bởi lẽ C đã thực hiện
xong nghĩa vụ thi hành án cho bà T như sau:
- Biên lai số 02254 ngày 27/6/2019 của Chi Cục Thi hành án thành phố về
việc nộp số tiền 24.143.800 đồng theo bản án phúc thẩm số 181/2017/DS-PT
- Biên lai số 02253 ngày 27/6/2019 của Chi Cục Thi hành án thành phố về
việc nộp số tiền 7.760.000 đồng theo bản án phúc thẩm số 28/2019/DS-PT.
*Tại bản án hành chính thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 14 tháng 02 năm
2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dươngđã tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị T đối với các yêu cầu
sau:
- Hủy quyết định số 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân
thành phố Tt do ông Nguyễn Trọng  phó chủ tịch đã ký.
- Buộc y ban nhân dân thành phố T bồi thường tổn thất tinh thần 10
tháng lương cơ sở là: (1.490.000đồng/01 tháng x 10 tháng) = 14.900.000 đồng
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố T phải công khai xin lỗi đã ra quyết
định trái pháp luật, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thanh.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27/2/2020, ông Trần T đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của người khởi kiện trình bày giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo với lý do gia đình bà Phạm Thị T đã sinh sống ổn định trên đất
bị thu hồi gia đình thương binh; bản án số 28/2019/DS-PT ngày 19/3/2019
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương không giải quyết dứt điểm về lối đi trên đất
cho bà T và cơ quan thi hành án đang giải quyết các vướng mắc trong quá trình thi
hành bản án chưa xong thì Ủy ban thành phố T lại ban hành quyết định thu hồi
không đúng quy định.
Đại diện của người quyền lợi, nghĩa vliên quan xác định án thẩm đã
xét xử có căn cứ, đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi chính đáng
của Phan Hồng C do phía người khởi kiện biểu hiện cố ý kéo dài thời gian
thi hành án.
Người bị kiện có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 4 Điều 225
Luật Ttụng hành chính Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị
kiện.
Đại diện Viện Kiểm sát khẳng định quá trình thụ lý xét xử phúc thẩm, những
người tiến hành tố tụng đã tiến hành đúng quy định, người tham gia tố tụng đã
tuân thủ đầy đủ thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ án: trình tự thủ tục nội dung
của Quyết định 1424 /QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố
Thủ Dầu Một được ban hành trên sở kiến nghị của bản án số 28/2019/DS-PT
7
ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã hiệu lực pháp luật.
Đồng thời, Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một cũng đã có quyết định về
việc thi hành bản án theo yêu cầu của Phan Hồng C, các tranh chấp đã được
giải quyết theo quy định của pháp luật, Cúc đã thực hiện xong nghĩa vụ cho
Phạm Thị Thanh theo hai bản án dân sự phúc thẩm. Ngoài ra, Tòa án nhân n
cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã thông báo trả lời đơn không căn cứ
để kháng nghị bản án số 181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bình Dương. Như vậy, Ủy ban nhân dân thành phố T đã ban hành Quyết định
1424 đúng quy định. Bản án thẩm được ban hành đúng quy định pháp luật,
kháng cáo của người bị kiện không sở, đnghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình tiến hành tố tụng, cấp thẩm đã tuân thủ các quy định của
Luật tố tụng hành chính. Về nội dung bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng về trình tự
thủ tục, căn cứ ban hành Quyết định 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 của Ủy ban
nhân dân thành phố T và áp dụng pháp luật phù hợp để tuyên xử không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị T với các do: các tranh chấp dân sự giữa
các bên đã được Tòa án xét xử tuyên bởi các bản án số 181/2017/DS-PT ngày
27/9/2017 và bản án số 28/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương - các bản án này đã được Chi cục Thi hành án thành phố T tổ chức
thi hành và Phan Hồng C đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án. Việc Ủy ban
nhân n thành phố T ban hành Quyết định 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 thu
hồi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số H42031 ngày 25/8/2008 của Ủy ban
nhân dân thị T ( nay là thành phố T ) đã cấp cho Phan Hồng C trên sở
kiến nghị của bản án số 181/2017/DS-PT để thực hiện và cấp lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất cho các đương
sự theo các bản án dân sự phúc thẩm đã tuyên. Quyết định này cũng đúng theo
quy định của Điều 106 Luật Đất đai Nghị định 3/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Tại thời
điểm ban hành Quyết định 1424/QĐ-UB thì các bản án dân sự có liên quan đều đã
hiệu lực pháp luật và được thi hành. Như vậy, các vấn đtranh chấp về quyền
lợi, nghĩa vụ của các bên đã được giải quyết xong. Ngoài ra, Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ CMinh đã văn bản số 471/TB-TA ngày 21/5/2019 trả
lời kiến nghị của Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một khiếu nại giám
đốc thẩm của Phạm Thị T với nội dung: không căn cứ kháng nghị bản án
dân sự phúc thẩm số 181/2017/DS-PT ngày 27/9/2017 của a án nhân dân tỉnh
Bình Dương theo thủ tục giám đốc thẩm”, đồng thời cũng xác định Bản án dân
sự phúc thẩm số 28/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình
8
Dương đã xử triệt để cây trồng trên đất”. Từ các do này, bản án tuyên không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T là có căn cứ.
[2] Hội đồng xét xử thấy rằng người khởi kiện kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm nhưng không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới so với giai đoạn xét xử
thẩm. Hơn nữa, Quyết định 1424/QĐ-UB ngày 15/5/2019 của Ủy ban nhân dân
thành phố T quyết định ban nh trong lĩnh vực thi hành bản án dân sự đã
hiệu lực pháp luật - không thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Đúng
ra không thụ lý giải quyết, trường hợp tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết mới phát hiện
thì phải đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy vậy, việc thụ giải quyết của tòa án
thẩm với kết quả là bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện nên hậu quả pháp
không phát sinh so với việc đình chỉ giải quyết nên Hội đồng xét xử chỉ nêu để
rút kinh nghiệm.
[3] Từ phân tích trên, xét thấy không sở để chấp nhận kháng cáo của
người khởi kiện, theo ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân n cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử thống nhất giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Do bà Phạm Thị T là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Phạm Thị Thanh, giữ
nguyên bản án hành chính thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 14/02/2020 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Áp dụng:
Khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 164, Điều 193 và 194 Luật
Tố tụng hành chính;
Điều 106 Luật Đất đai năm 2003;
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
Tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Phạm Thị T đối với
các yêu cầu sau:
- Hy Quyết đnh s 1424/QĐ-UBND ngày 15/5/2019 ca y ban nhân dân
thành ph T.
- Buc y ban nhân dân thành ph T bồi thường tn tht tinh thn bng 10
tháng lương cơ sở.
- Buc y ban nhân dân thành ph T khai xin lỗi đã ra quyết định trái
pháp lut, ảnh hưởng quyn và li ích hp pháp ca bà Thanh.
2. Bà Phạm Thị T được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
9
Các quyết định khác của án thẩm không có kháng cáo kháng ngh đã
hiu lc t ngày hết thi hn kháng cáo kháng ngh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- TAND tỉnh Bình Dương;
- Cục THADS tỉnh Bình Dương;
- Đương sự;
- Lưu HS, VT.
Nguyễn Thị Thụy Vũ
CÁC THẨM PHÁN
Phạm Thị Duyên Trần Thị Hòa Hiệp
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thụy Vũ
Tải về
Bản án số 419/2020/HC-PT Bản án số 419/2020/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất