Bản án số 406/2025/DS-PT ngày 08/07/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 406/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 406/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 406/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 406/2025/DS-PT ngày 08/07/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Tháp |
Số hiệu: | 406/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 08/07/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 406/2025/DS-PT
Ngày: 08-7-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông
Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
Bà Phạm Thị Liên Hiệp
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Vũ Đình Quang - Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Được - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23/6 và ngày 08/7/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Đng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số: 198/2025/TLPT-
DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân khu vực 7
– Đng Tháp) bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 314/2025/QĐ-PT ngày
02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thanh N (tên thường gọi là M), sinh năm 1978
(Có mặt).
Địa chỉ: Số A, Khóm A, xã T (thị trấn M, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. H Phát K, sinh năm 1949.
2.2. H Sĩ N1, sinh năm 1979.
2.3. H Thị Đoan T, sinh năm 1977 (Có mặt).
2.4. H Thị Hng T1, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: Số B, ấp T, xã T (xã T, huyện L), tỉnh Đng Tháp.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Hồ Phát K, anh Hồ Sĩ N1, chị Hồ
Thị Hồng T1: Chị H Thị Đoan T, sinh năm 1977 (Có mặt). Địa chỉ: Số B, ấp T,
xã T (xã T, huyện L), tỉnh Đng Tháp (Hợp đng ủy quyền ngày 09/12/2024).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị M1, sinh năm
1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Khóm A, xã T (thị trấn M, huyện T), tỉnh Đng Tháp.
4. Người kháng cáo: Ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T,
chị H Thị Hng T1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG V ÁN:
- Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh N trình bày:
Vào ngày 28/8/2024, gia đình chị T gm: Ông H Phát K, anh H Sĩ N1,
chị H Thị Hng T1 và chị H Thị Đoan T có vay của anh Nguyễn Thanh N số
tiền 2.000.000.000 đng (Hai tỷ đng), mục đích vay để đáo nợ Ngân hàng, lãi
suất thỏa thuận 1,66%/tháng. Thời hạn trả 03 ngày, khi vay hai bên chỉ làm biên
nhận, không có thế chấp tài sản. Tuy nhiên, sau khi đến hạn trả nợ do gia đình
chị T không trả được nợ nên đã thế chấp cho anh N 05 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và 01 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do hộ ông H Phát K đứng
tên. Đến ngày 09/9/2024, gia đình chị T có trả được cho anh N số tiền
800.000.000 đng (nhận chuyển khoản 500.000.000 đng và nhận trực tiếp
300.000.000 đng) còn lại số tiền gốc 1.200.000.000 đng nên gia đình chị T có
làm lại biên nhận còn nợ anh N số tiền trên và xé biên nhận số tiền vay
2.000.000.000 đng và thỏa thuận thời hạn trả tiếp số tiền gốc và lãi là 10 ngày
sau. Đng thời, anh N đã trả lại 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính
cho gia đình chị T để gia đình chị T làm thủ tục chuyển nhượng đất trả tiền cho
anh N nên anh N chỉ giữ lại 01 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
Sau nhiều lần anh N đòi số tiền còn nợ nhưng phía gia đình chị T không
trả nợ nên anh N làm đơn khởi kiện yêu cầu gia đình chị T phải có nghĩa vụ trả
số tiền 1.200.000.000 đng. Anh N nộp đơn cho Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò
ngày 23/9/2024, trong thời gian Tòa án đang xem xét đơn khởi kiện thì đến ngày
04/10/2024 gia đình chị T có trả tiếp cho anh N được số tiền 1.000.000.000 đng.
Sau khi nhận số tiền này thì anh N đã trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà cho gia đình chị T. Còn lại số tiền gốc 200.000.000 đng thì gia đình
chị T hẹn vài ngày sau sẽ trả đủ nhưng sau đó không trả nên anh N làm đơn khởi
kiện thay đổi số tiền gốc mà gia đình chị T còn nợ để yêu cầu Tòa án tiếp tục giải
quyết. Số tiền nợ 200.000.000 đng mà gia đình chị T còn nợ lại anh N khẳng
định là vốn không phải tiền lãi như phía chị T trình bày. Do đó, anh Nguyễn
Thanh N yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H
Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 có nghĩa vụ liên đới trả lại cho anh N số tiền
3
vốn 200.000.000 đng và không yêu cầu tính lãi.
Số tiền anh N cho gia đình chị T vay là do anh N vay mượn của bạn bè để
cho gia đình chị T vay không phải là số tiền do vợ chng anh N và chị M1 cho
vay, nên anh N yêu cầu chị T, ông K, anh N1, chị T1 phải có nghĩa vụ liên đới
trả số tiền còn nợ 200.000.000 đng (Hai trăm triệu đng) cho anh N, anh N
không yêu cầu tính lãi, nếu sau khi có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật mà gia đình chị T không trả nợ thì yêu cầu tính lãi chậm trả theo quy
định.
- Bị đơn chị Hồ Thị Đoan T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền
của ông Hồ Phát K, anh Hồ Sĩ N1, chị Hồ Thị Hồng T1 trình bày:
Thừa nhận vào ngày 28/8/2024, gia đình chị T gm: Ông H Phát K, anh
H Sĩ N1, chị H Thị Hng T1 và chị H Thị Đoan T có vay của anh Nguyễn
Thanh N số tiền 2.000.000.000 đng (Hai tỷ đng), mục đích vay để gia đình đáo
nợ Ngân hàng, lãi suất thỏa thuận 9.000 đng/1.000.000 đng/ngày (tương
đương 0,9%/ngày), vay 2.000.000.000 đng tiền lãi tương đương 18.000.000
đng/ngày, thời hạn vay thỏa thuận là khi nào gia đình chị T đáo nợ Ngân hàng
xong và Ngân hàng giải ngân thì gia đình chị T sẽ trả vốn, lãi cho anh N. Khi vay
tiền thì không có thế chấp tài sản gì mà chỉ làm biên nhận nợ. Tuy nhiên, do việc
đáo nợ Ngân hàng gặp trục trặc Ngân hàng không cho vay lại nên gia đình chị T
không có tiền để trả cho anh N nên đã giao cho anh N giữ 05 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và 01 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác có
trên đất bản chính do hộ ông H Phát K đứng tên. Sau đó, gia đình chị T đã phải
vay mượn ở ngoài để trả cho anh N, cụ thể ngày 09/9/2024, đã vay của anh Võ
Minh V số tiền 1.000.000.000 đng trả cho anh N gm 500.000.000 đng trả tiền
mặt, chị T nhận trực tiếp từ anh V, sau khi nhận tiền xong thì chị T gọi điện cho
anh N đến nhận và anh N đã lái xe ô tô đến đậu trước cửa nhà của anh V ri chị
T trực tiếp ra đưa tiền cho anh N và anh N đếm đủ 500.000.000 đng tiền mặt.
Còn lại 500.000.000 đng thì anh V chuyển khoản trực tiếp qua tài khoản con
gái của anh N tên Nguyễn Lao Thị Như L nên số tiền vay gốc gia đình chị T còn
nợ anh N 1.000.000.000 đng (Một tỷ đng) và tiền lãi. Về tiền lãi lúc đầu thỏa
thuận 1.000.000 đng một ngày là 9.000 đng số tiền vay 2.000.000.000 đng
thì tiền lãi một ngày là 18.000.000 đng nhưng khi gia đình chị T trả số tiền vay
gốc được 1.000.000.000 đng thì anh N bớt tiền lãi còn 8.000 đng/1.000.000
đng/ngày tức là 16.000.000 đng/ngày/2.000.000.000 đng. Do đó, từ ngày
28/8/2024 đến ngày 09/9/2024 gia đình chị T trả 1.000.000.000 đng thì anh N
tính tiền lãi là 208.000.000 đng, bớt 8.000.000 đng nên tính tròn 200.000.000
đng tiền lãi. Khi gia đình chị T trả số tiền vay gốc 1.000.000.000 đng mà chưa
có trả tiền lãi thì anh N kêu vợ anh N viết biên nhận số tiền vay 1.200.000.000
đng theo như nội dung biên nhận ngày 09/9/2024 mà anh N cung cấp cho Tòa
án. Gia đình chị T có k biên nhận nợ số tiền 1.200.000.000 đng này nhưng
4
phía anh N không cho gia đình chị T ghi rõ số tiền vốn 1.000.000.000 đng và
tiền lãi 200.000.000 đng mà anh N nói phải ghi chung số tiền còn nợ lại
1.200.000.000 đng và gia đình chị T hẹn 02 tuần sẽ trả tiếp. Đến ngày
04/10/2024, gia đình chị T đã trả tiếp cho anh N số tiền gốc 1.000.000.000 đng
(Một tỷ đng), còn lại 200.000.000 đng (Hai trăm triệu đng) theo biên nhận
thì chưa trả. Nhưng số tiền còn nợ anh N 200.000.000 đng theo biên nhận mượn
tiền đề ngày 09/9/2024 thực chất là tiền lãi mà gia đình chị T còn nợ anh N chứ
không phải là tiền vốn. Sau khi gia đình chị T trả được số tiền vốn 1.000.000.000
đng còn lại 200.000.000 đng tiền lãi thì chị T có xin chị M1 bớt tiền lãi thì chị
M1 có đng bớt cho gia đình chị T mấy chục triệu tiền lãi nhưng chưa nói bớt
cụ thể là bao nhiêu.
Nay, chị T yêu cầu Tòa án tính lại lãi suất, cụ thể số tiền khi cho vay vợ
chng anh N nói anh N có vay của người khác số tiền là 400.000.000 đng với
lãi suất 7.000 đng/1.000.000 đng/ngày nên cho gia đình chị T vay lại với lãi
suất 8.000 đng/1.000.000 đng/ngày, số tiền 400.000.000 đng tương đương
3.200.000 đng/ngày thì chị T thống nhất số tiền lãi của số tiền và từ ngày
28/8/2024 cho đến ngày 09/09/2024 là 13 ngày số tiền lãi gia đình chị T đng
trả cho anh N là 3.200.000 đng x 13 ngày = 41.600.000 đng. Còn số tiền
1.600.000.000 đng là của hai vợ chng anh N, chị M1 cho vay và anh N trình
bày cho vay lãi suất 1,66%/tháng nên chị T yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng như anh
N trình bày. Số tiền lãi sẽ được tính từ ngày 28/8/2024 đến ngày 09/9/2024 là 13
ngày, cụ thể lãi là: 1.600.000.000 đng x 1,66%/tháng x 13 ngày = 11.509.000
đng. Từ ngày 10/9/2024 đến ngày 04/10/2024 số tiền vốn còn lại 1.000.000.000
đng tiền lãi 26 ngày là: 1.000.000.000 đng x 1,66% x 26 ngày = 14.386.000
đng. Như vậy, số tiền lãi mà gia đình chị T đng trả cho anh N là 41.600.000
đng + 11.509.000 đng + 14.386.000 đng = 67.495.000 đng (Sáu mươi bảy
triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đng).
Hiện nay, bản chính của 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà do hộ ông H Phát K đứng tên thì phía anh N đã
trả lại cho gia đình chị T xong.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị M1 trình bày:
Chị M1 là vợ của anh Nguyễn Thanh N, số tiền mà anh N cho ông K, anh
N1, chị T và chị T1 vay là số tiền do anh N vay mượn của bạn cho vay không
phải là số tiền của vợ chng chị M1, anh N cho vay. Do đó, chị M1 không có yêu
cầu gì trong vụ kiện này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp (Tòa án nhân dân khu
vực 7 – Đồng Tháp) (viết tắt bản án sơ thẩm) đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh N.
5
Buộc ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T và chị H Thị
Hng T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Nguyễn Thanh N số tiền vay còn
nợ là 200.000.000 đng (Hai trăm triệu đng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông H Phát K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T và chị H Thị Hng T1 phải có
nghĩa vụ liên đới nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đng (Bảy triệu
năm trăm nghìn đng).
Anh Nguyễn Thanh N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả
cho anh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đng (Năm triệu đng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015154 ngày 24/10/2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền,
nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Ngày 26/3/2025, bị đơn ông H Phát K, anh H Sĩ
N1, chị H Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 không thống nhất bản án sơ thẩm
nên đã kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đng
trả số tiền lãi còn lại là 67.495.000 đng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn chị H Thị Đoan T, đng thời chị T là người đại diện theo ủy quyền
của ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Hng T1 trình bày: Giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp
nhận toàn bộ toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn đng trả số tiền
lãi còn lại là 67.495.000 đng.
- Anh Nguyễn Thanh N trình bày: Không đng kháng cáo của bị đơn, đề
nghị Hội đng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đng Tháp phát biểu kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai
đoạn phúc thẩm: Thủ tục kháng cáo của ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H
Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội
6
đng xét xử và Thư k phiên tòa kể từ khi thụ l vụ án đến thời điểm xét xử phúc
thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố
tụng theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đng xét xử áp dụng khoản 1
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông
H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1, giữ nguyên
bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án
nhân dân huyện Lấp Vò.
(Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết
vụ án dân sự số 307/PB-VKS-DS ngày 08/7/2025).
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện
Viện kiểm sát, Hội đng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ l và giải quyết sơ thẩm
vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về
quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm ông H
Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 không thống nhất
bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc bị đơn nộp đơn kháng cáo ngày 26/3/2025
là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,
nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị Nguyễn Thị M1 là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nên
Hội đng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn cho rằng vào ngày 28/8/2024 có cho bị đơn
vay số tiền 2.000.000.000 đng, mục đích vay đáo hạn Ngân hàng, thỏa thuận lãi
suất 1,66%/tháng, thời hạn trả 03 ngày, có làm biên nhận. Ngày 09/9/2024 bị đơn
trả 800.000.000 đng tiền gốc nên viết biên nhận còn nợ lại 1.200.000.000 đng
tiền gốc và thỏa thuận trả tiếp số tiền gốc và lãi là 10 ngày sau. Đến ngày
04/10/2024 bị đơn trả tiếp được số tiền 1.000.000.000 đng, hẹn vài ngày sau sẽ
trả đủ nhưng đến nay không trả. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ
liên đới trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ 200.000.000 đng, không yêu cầu
tính lãi.
Bị đơn cho rằng vào ngày 28/8/2024 có vay của nguyên đơn số tiền
2.000.000.000 đng, có làm biên nhận để đáo nợ Ngân hàng, lãi suất thỏa thuận
7
9.000 đng/1.000.000 đng/ngày, thời hạn vay thỏa thuận khi nào gia đình bị đơn
đáo nợ Ngân hàng và giải ngân thì sẽ trả gốc, lãi cho nguyên đơn. Ngày 09/9/2024,
bị đơn trả cho nguyên đơn 1.000.000.000 đng, còn lại 1.000.000.000 đng nhưng
nguyên đơn tính tiền lãi 208.000.000 đng, bớt 8.000.000 đng nên yêu cầu bị
đơn viết biên nhận nợ 1.200.000.000 đng, hẹn 02 tuần sẽ trả tiếp. Đến ngày
04/10/2024 bị đơn trả tiếp cho nguyên đơn 1.000.000.000 đng. Do đó, bị đơn
không đng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ đng trả số tiền 67.495.000
đng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng số tiền nguyên đơn cho bị
đơn vay không phải ngun tiền của vợ chng nên không có yêu cầu gì trong vụ
án.
Từ đó, đã làm phát sinh tranh chấp hợp đng vay tài sản giữa các đương sự
được quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Hội đng xét xử xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bởi các lẽ như sau:
- Các đương sự thừa nhận vào ngày 28/8/2024 anh Nguyễn Thanh N có cho
gia đình chị T gm: Ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Hng T1 và chị
H Thị Đoan T vay số tiền 2.000.000.000 đng (Hai tỷ đng), mục đích vay để
gia đình chị T đáo nợ Ngân hàng. Đến ngày 09/9/2024 gia đình chị T có trả tiền
cho anh N nên đã làm lại biên nhận số tiền 1.200.000.000 đng (Một tỷ hai trăm
triệu đng). Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại khoản 2
Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Bị đơn cho rằng vào ngày 09/9/2024 trả cho nguyên đơn 1.000.000.000
đng, còn lại 1.000.000.000 đng nhưng nguyên đơn tính tiền lãi 208.000.000
đng, bớt 8.000.000 đng nên yêu cầu bị đơn viết biên nhận nợ 1.200.000.000
đng, hẹn 02 tuần sẽ trả tiếp. Đến ngày 04/10/2024 bị đơn trả tiếp cho nguyên
đơn 1.000.000.000 đng. Do đó, bị đơn không đng yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, chỉ đng trả số tiền 67.495.000 đng. Xét lời trình bày của bị đơn
là không có cơ sở, vì Biên nhận mượn tiền ngày 09/9/2024 không thể hiện có
tiền lãi và bị đơn thừa nhận chữ k và viết họ tên, nội dung trong Biên nhận
mượn tiền ngày 09/9/2024, không bị đe dọa, ép buộc.
Bị đơn có cung cấp một USB và bản tường trình ghi lại nội dung cuộc điện
thoại trao đổi giữa anh N và chị T. Anh N thừa nhận giọng nói người nam trong
đoạn ghi âm là giọng của anh N và đúng nội dung hai bên trao đổi nhưng đó chỉ
là các cuộc gọi điện thoại anh N đòi tiền gia đình chị T thiếu nợ số tiền vốn, còn
tiền lãi anh N không có đòi. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T cũng thừa nhận mỗi lần
chị T nói về tiền lãi thì anh N lớn tiếng, quát, ri cúp máy, không có đề cập gì
đến tiền lãi. Ngoài ra, bị đơn không có chứng cứ nào khác để chứng minh số tiền
8
200.000.000 đng mà anh N khởi kiện là tiền lãi. Do đó, không có căn cứ xác
định số tiền mà bị đơn còn nợ anh N là tiền lãi như chị T trình bày.
- Chị T cho rằng vay của vợ chng anh N để đáo nợ Ngân hàng. Anh N
không thừa nhận và cho rằng số tiền cho bị đơn vay là tiền cá nhân. Mặt khác,
tại Biên nhận mượn tiền ngày 09/9/2024 thể hiện bên nhận tiền ông K, người liên
quan anh N1, chị T, chị T1 k tên xác nhận, không có tên hay nội dung thể hiện
số tiền có chị Nguyễn Thị M1 và quá trình giải quyết vụ án, đơn đề nghị vắng
mặt tại Tòa án đề ngày 07/01/2025 chị M1 xác định số tiền anh N cho bị đơn vay
là số tiền do anh N vay mượn của người khác không phải là số tiền của vợ chng.
Do đó, chị M1 không có yêu cầu gì trong vụ án này. Như vậy, có căn cứ xác định
số tiền bị đơn cùng vay của anh N chứ không phải vay của vợ chng anh N nên
anh N khởi kiện yêu cầu ông K, anh N1, chị T và chị T1 có nghĩa vụ trả cho anh
N là phù hợp.
- Về tiền lãi: Căn cứ vào Biên nhận mượn tiền ngày 09/9/2024 không thể
hiện các bên có thỏa thuận lãi. Quá trình giải quyết vụ án các đương sự cũng thừa
nhận từ ngày vay tiền đến nay bị đơn chưa trả khoản tiền lãi nào cho nguyên đơn
và nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết tiền lãi. Do đó, Hội đng xét xử
không xem xét, giải quyết.
- Đối với 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất, hiện nay anh N đã trả lại cho bị đơn. Các đương sự
không có yêu cầu gì nên Hội đng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu
ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 cùng
liên đới trả số tiền 200.000.000 đng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Tại phiên tòa, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội đng xét
xử xét thấy, trình bày của bị đơn là không có đủ căn cứ, đng thời bị đơn cũng
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của
mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đng xét xử chấp
nhận.
[5] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa như nêu
trên. Hội đng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp
nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận, nên phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông H Phát K thuộc diện người cao
tuổi nên được xét miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản
1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
9
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H
Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1.
2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3
năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp (Tòa án nhân dân
khu vực 7 – Đng Tháp).
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thanh N.
Buộc ông H Phát K, anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T và chị H Thị
Hng T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho anh Nguyễn Thanh N số tiền vay còn
nợ là 200.000.000 đng (Hai trăm triệu đng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông H Phát K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T và chị H Thị Hng T1 phải có
nghĩa vụ liên đới nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 đng (Bảy triệu
năm trăm nghìn đng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông H Phát K được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Anh H Sĩ N1, chị H Thị Đoan T, chị H Thị Hng T1 phải liên đới chịu
300.000 đng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 300.000 đng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007419
ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp
(Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đng Tháp).
Hoàn trả lại cho anh H Sĩ N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007473 ngày 09/5/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp (Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 7 – Đng Tháp).
10
Hoàn trả lại cho chị H Thị Hng T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
300.000 đng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007474 ngày
09/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đng Tháp (Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đng Tháp).
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- Phòng TT,KT & THA TAND Tỉnh;
- TAND khu vực 7 – Đng Tháp;
- Phòng THADS khu vực 7 – Đng Tháp;
- Đương sự;
- Lưu: VT, TDS, HSVA
(Quang)
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên và đóng dấu)
Hứa Quang Thông
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Bản án số 865/2025/DS-PT ngày 05/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm