Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 39/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 10/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 39/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Ló yêu cầu bà Ngọc tra tiên vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7- CÀ MAU Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU
Bản án số:39/2025/DS-ST
Ngày: 10 9 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Nay
- Bà Trần Thị Phương Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 –
Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Mau, tỉnh Mau tham gia
phiên tòa: Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 Mau, tỉnh Cà
Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 07/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 7
năm 2025 về tranh chấp “hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
33/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Võ Thị L, sinh năm 1961. Căn cước công dân số: 095161000141,
cấp ngày 13/4/2021, tại Cục Cảnh sát quản hành chính về trật tự hội. Địa ch: Ấp T,
thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (Nay là ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau).
- B đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1983. Địa ch: Ấp C, thị trấn C, huyện V, tỉnh
Bạc Liêu (Nay là ấp C, xã V, tỉnh Cà Mau).
(Bà L có đơn vắng mặt; bà N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 4 năm 2025 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án,
nguyên đơn Thị L trình y: Nguyễn Thị Ngọc B thịt heo, L tới lui mua nên
quen biết N. Từ đó bà N hỏi vay tiền của L với số tiền 30.000.000 đồng, bà N
tự tay viết giấy mượn nợ ký tên, ghi rõ họ tên, là giấy mượn tiền ngày 06.6.2023 mà bà
L cung cấp cho Tòa án. Khi L cho vay, thỏa thuận lãi suất 5%/tháng, đóng lãi hàng tháng,
thời hạn thanh toán tiền gốc 05 tháng kể từ ngày vay. Tuy nhiên nội dung này không
ghi vào giấy mượn tiền. N chỉ ghi nội dung trả tiền cho L trong thời gian sớm nhất.
Từ khi vay tiền đến nay bà N đã thanh toán cho L được số tiền gốc 15.200.000 đồng, trả
2
làm nhiều lần, không nhớ thời gian cụ thể. L nhiều lần yêu cầu N thanh toán nợ nhưng
bà N không trả mà còn thách bà L đi thưa, từ đó bà L mới khởi kiện bà N ra Tòa án.
L xác định chỉ giao dịch vay tiền với N, không biết chồng N, vì vậy L
chỉ yêu cầu N thanh toán số tiền vay 14.800.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Số tiền bà
L cho bà N vay là tài sản riêng của L, bà L đã ly hôn với chồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 8 năm 2025:
N vay tiền của L nhiều lần, không nhớ thời gian cụ thể, khi vay không làm biên
nhận. Đến ngày 06/6/2023 bà L có đưa biên nhận cho bà N ký, trước khi ký N đọc nội
dung thể hiện bà N vay của bà L số tiền 30.000.000 đồng; thực tế bà N chỉ vay của bà L
số tiền 24.000.000 đồng, vay làm nhiều lần như đã trình bày trên. Biên nhận ngày 06/6/2023,
L đã kê tiền lãi 6.000.000 đồng, từ đó thể hiện N vay của L số tiền 30.000.000 đồng,
tuy nhiên N xác định không chứng minh được việc gộp lãi vào gốc. N thừa nhận
chữ ký và chữ viết Nguyễn Thị N tại biên nhận ngày 06/6/2023 là do bà trực tiếp ký và viết.
Quá trình vay, đã thanh toán cho L số tiền 15.200.000 đồng. Nay N chỉ đồng ý thanh
toán số tiền 14.800.000 đồng, yêu cầu trả dần, hiện tại N khó khăn. N vay tiền đ
mua bán, đây là nợ riêng, chồng bà đã chết trước khi bà vay tiền của bà L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 Mau, tỉnh Mau trình bày việc
tuân theo pháp luật của Tòa án:
Về ttụng: Nguyên đơn bà L đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ tố tụng được quy
định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn N chưa thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kin ca bà
L đối với N; buộc bà N trách nhiệm thanh toán cho bà L số tiền vay 14.800.000 đồng.
Về yêu cầu tính lãi, do L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Đình chỉ một phần
yêu cầu khởi kiện của L đối với N đối với số tiền 15.200.000 đồng, do L đơn rút
một phần yêu cầu khởi kiện.
V án phí dân sự giá ngạch N phải chịu toàn bộ án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 26 tháng 4 năm 2025, bà Võ Thị L nộp đơn khởi kiện
đến Tòa án tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn bà Nguyễn Thị N. Khi khởi kiện
N cư trú tại ấp C, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (nay là ấp C, xã V, tỉnh Cà Mau). Do
vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7
Mau, tỉnh Mau) thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3
Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng n sự.
Đồng thời, nguyên đơn L đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn N đã được triệu tập lần
thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà
L N theo quy định điểm a, b khoản 2 Điều 227 khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của L về việc yêu cầu N thanh toán số tiền vay
30.000.000 đồng.
3
[2.1]. Ngày 05 tháng 8 năm 2025 bà L có đơn rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với
bà N với số tiền 15.200.000 đồng. Lý do rút một phần yêu cầu khởi kiện, do bà N đã thanh
toán cho L số tiền 15.200.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc L rút một phần yêu
cầu khởi kiện với N hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc không trái pháp luật,
đạo đức hội nên cần ghi nhận đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của L đối với
bà N về số tiền 15.200.000 đồng.
[2.2]. Xét yêu cầu của bà L đối với bà N thanh toán số tiền vay 14.800.000 đồng.
[2.2.1]. Căn cứ giấy mượn tiền ngày 06/7/2023 do bà L cung cấp. Bà N thừa nhận có
tên vào giấy mượn tiền nêu trên. Bà N thừa nhận vay tiền nhiều lần của bà L. Từ đó
có cơ sxác định giữa L và bà N xảy ra giao dịch vay tiền trên thực tế. N xác định
còn nợ L số tiền 14.800.000 đồng đồng ý trả nợ theo yêu cầu L. Hội đồng xét xử
xét thấy việc bà N đồng ý trả nợ cho bà L nên cần ghi nhận, từ đó có căn cứ chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của L đối với bà N. Do bà N không đến Tòa án nên phải đưa vụ án ra xét
xử.
[2.2.2]. Quá trình thụ lý, N xác định trong số tiền 30.00.000 đồng N
mượn theo giấy mượn tiền ngày 06/6/2023, có 6.000.000 đồng tiền lãiL đã gộp vào
ghi biên nhận nvay số tiền 30.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc N trình bày
là không có cơ sở, chính bản thân bà N cũng xác định không có chứng cứ chứng minh việc
N gộp tiền lãi 6.000.000 đồng để buộc bà biên nhận nợ 30.000.000 đồng. Hơn nữa
quá trình giải quyết ván, bà N cũng không đặt ra yêu cầu khấu trừ số tiền lãi đã
thanh toán cho bà L, từ đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Ngoài ra, N xác định
do hiện tại kinh tế khó khăn, N yêu cầu được trả dần số nợ 14.800.000 đồng cho L.
Hội đồng xét xử xét thấy đối với phương thức và thời hạn thanh toán sẽ thực hiện giai đoạn
thi hành án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.2.3]. Về yêu cầu tính lãi: Do bà L không yêu cầu tính lãi về khoản vay đối với
N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ngoài ra, L xác định L chỉ giao dịch với N, không biết chồng N nên không
đặt ra trách nhiệm thanh toán nợ đối với chồng N. Giới hạn của việc xét xử, từ đó Hội
đồng xét xử không xem xét trách nhiệm trả nợ đối với chồng N, cũng như không đưa
chồng bà N o tham gia tố tụng trong vụ án.
[3]. Về án phí: N phải chịu số tiền án phí tương ứng với phần yêu cầu của L
được chấp nhận với số tiền án phí: 14.800.000 đồng x 5% = 740.000 đồng. L không phải
chịu án phí, L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 750.000 đồng theo Biên lai số 0011254 ngày
14/7/2025 được hoàn lại tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
[4]. Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 7 – Mau, tỉnh Cà Mau.
.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147, điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 217, Điều 219, Điều 244,
Điều 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân s
năm 2015; diểm b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với bà Nguyễn Thị N
về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
2. Buộc Nguyễn Thị N trách nhiệm thanh toán cho Thị L số tiền
14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của Võ Thị L đối với
Nguyễn Thị N về số tiền vay 15.200.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).
* Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị L đối với bà Nguyễn Thị N về
số tiền vay 15.200.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Về án phí: N phải chịu số tiền án phí 740.000 đồng (bảy trăm bốn mươi nghìn
đồng). Thị L không phải chịu án phí, L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 750.000
đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai số 0011254 ngày 14/7/2025 được hoàn
lại tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Cà Mau;
- VKSND khu vưc 7 – Cà Mau
- Phòng THADS khu vưc 7 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thụy Lan Chi
Tải về
Bản án số 39/2025/DS-ST Bản án số 39/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 39/2025/DS-ST Bản án số 39/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất