Bản án số 48/2025/HNGĐ-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 48/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 48/2025/HNGĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 48/2025/HNGĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 48/2025/HNGĐ-PT ngày 29/12/2025 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 48/2025/HNGĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Lê Văn M là người được giao trực tiếp nuôi cháu Lê Nguyễn Hồng N, sinh năm 2019 theo quyết định của Tòa án. Sau khi được giao nuôi con, anh M đã đón cháu N về trong tỉnh Đồng Nai để nhờ bố mẹ đẻ chăm nom, nuôi dưỡng cháu N; anh M làm công nhân và sinh sống tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình (cũ) đã không trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Chị Nguyễn Thị Ái V khởi kiện yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Trường
Bà Trần Thanh Hải
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ
sở 3) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2025/TLPT-HNGĐ ngày
03 tháng 11 năm 2025 về việc Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ - ST ngày 09
tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 47/2025/QĐ-PT ngày
10 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ái V, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A,
phường H, tỉnh Phú Thọ (phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình cũ); có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn M, sinh năm 1994; HKTT: Tổ B, ấp X, xã N, tỉnh
Đồng Nai. Nơi ở hiện nay: Tổ A, phường H, tỉnh Phú Thọ (Phường T, TP H,
tỉnh Hòa Bình cũ); có mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn anh Lê Văn M.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 48/2025/HNGĐ -PT
Ngày 29-12-2025
V/v tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2025, bản tự khai và quá trình giải
quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái V trình bày:
Tôi và Anh Lê Văn M kết hôn với nhau từ năm 2018, sau khi kết hôn vợ
chồng chung sống với nhau tại tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (nay
là phường H, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống chúng tôi có hai con chung là
cháu Lê Nguyễn Hồng N, sinh ngày 08/09/2019 và cháu Lê Nguyễn Phú H, sinh
ngày 27/11/2021. Đến năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn không thể chung sống nên
đã ly hôn ngày 23/9/2022. Khi ly hôn vợ chồng thỏa thuận tôi nuôi 2 cháu và
phải trả cho anh M 200 triệu, tôi đã trả được 100 triệu. Sau đó do cháu H ốm,
anh M đã đưa cháu N vào trong Đồng Nai, tôi chưa có tiền trả cho nhà anh M
nên tôi buộc phải chịu thỏa thuận để cho anh M nuôi cháu N. Sau khi thay đổi
nuôi con anh M đã chuyển khẩu cho cháu N vào trong Đồng Nai sinh sống cùng
ông bà nội cháu. Từ đó đến nay tôi chỉ được gặp cháu N 1 lần do lúc đó anh M
cãi nhau với ông bà nội nên cho cháu ra chơi 2 ngày rồi lại đưa cháu vào Đồng
Nai. Tuy nhiên anh M sau đó lại trở lại Hòa Bình sinh sống và làm việc từ đó
đến nay, để cháu N cho ông bà nội nuôi, việc đưa đón con lại phải nhờ đến chú
đưa đón. Hiện nay anh M đang làm ở Nhà máy cửa chống cháy Furtech của Chi
nhánh công ty cổ phần N2. Địa chỉ tại số A đường T, tổ A, phường T, thành phố
H, tỉnh Hòa Bình (nay là phường T, tỉnh Phú Thọ), thu nhập không ổn định,
không có chỗ ở mà chỉ ở nhờ Công ty. Anh M không trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng giáo dục con mà đưa con cho ông bà nội nuôi, đồng thời anh M và gia
đình ông bà nội cấm cản không cho tôi gặp cháu N, không cho tiếp xúc kể cả gọi
điện thoại. Việc cấm cản của anh M và gia đình đã ảnh hưởng đến tình cảm của
mẹ con tôi, ảnh hưởng tâm lý cháu N, làm cháu thiếu đi tình cảm yêu thương
chăm sóc của cả bố lẫn mẹ, đồng thời ông bà nội thường chửi bới xúc phạm
nhục mạ tôi làm ảnh hưởng đến tâm lý, sự phát triển bình thường của cháu, ảnh
hưởng tình cảm của tôi và cháu N. Nay cháu N đã đến tuổi đi học cần có sự
chăm sóc dạy bảo của mẹ nên tôi đề nghị được trực tiếp nuôi dạy cháu.
Về điều kiện nuôi con, tôi có chỗ ở ổn định, có nhà riêng ở gần trường học,
bệnh viện, có việc làm ổn định, thu nhập tốt, có thời gian, có đủ khả năng chăm
sóc nuôi dưỡng cháu N nên tôi đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai cháu và chưa
yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn M trình
bày:
3
Anh Lê Văn M có lời khai trình bày về thời gian kết hôn, ly hôn và con
chung như chị V trình bày là đúng. Anh M khai hiện đang sinh sống và làm việc
tại Hòa Bình, là công nhân nhà máy cửa chống cháy tại Hòa Bình, anh M hiện
đang để cháu N cho ông bà nội ở tỉnh Đồng Nai nuôi dưỡng, anh M khai hàng
tháng gửi về cho ông bà tiền để nuôi cháu N còn anh M vẫn làm việc và sinh
sống ở Hòa Bình, việc chăm sóc đưa đón cháu N do ông bà và chú em trai đưa
đón. Anh M không đồng ý cho chị V nuôi cháu N lý do chị V nuôi một mình
cháu H đã thường xuyên ốm đau và không muốn sau này chị V ở với người khác
thì sẽ có người khác nuôi con mình.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ, kết quả xác
minh ông bà nội cháu N là ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị H1 trú tại Tổ B, ấp X, xã
N, tỉnh Đồng Nai là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, anh M là bố cháu
N không thường xuyên sinh sống tại đây.
Tại nơi làm việc của anh M, anh Nguyễn Anh T là quản lý của anh Minh
xác N1 anh M hiện đang sống và làm việc tại Nhà máy cửa chống cháy tại địa
chỉ số A đường T, tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, nay là phường
T, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa sơ thẩm chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự
không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ ngày 09 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Điều 81; Điều 82, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ái V. Giao
cháu Lê Nguyễn Hồng N, sinh ngày 08/09/2019 cho chị Nguyễn Thị Ái V trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Ái V chưa yêu
cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Lê Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con chung mà không ai được cản trở, anh M không được làm ảnh hưởng
đến quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực
tiếp nuôi con.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.
4
Ngày 19/9/2025, bị đơn anh Lê Văn M kháng cáo đề nghị được nuôi cháu
N đến khi cháu N đủ 18 tuổi vì hiện tại cháu đang ở cùng anh, anh có đủ điều
kiện đảm bảo cho cháu cả vật chất lẫn tinh thần. Anh M đã trở lại N, Đồng Nai
để sinh sống cùng con gái và có nhiều thời gian chăm sóc, dạy bảo con gái tốt
hơn.
Tại giai đoạn phúc thẩm, anh Lê Văn M không nộp bổ sung tài liệu, chứng
cứ nào khác. Chị Nguyễn Thị Ái V cung cấp thêm hợp đồng lao động, hợp đồng
cho thuê nhà và giữ nguyên nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc cháu Lê Nguyễn Hồng N.
Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh tại Nhà máy cửa chống cháy F
– nơi anh Lê Văn M làm việc, ông Nguyễn Đức D – Giám đốc nhà máy cho
biết: Anh Minh đã làm việc tại Nhà máy K – 5 năm nay. Thời gian làm việc là
26 ngày/tháng, được nghỉ ngày Chủ nhật. Sau khi anh M ly hôn với chị V thì có
được công ty cho ở nhờ 01 gian nhà tại Công ty. Thu nhập bình quân hàng tháng
của anh M từ 6 – 7 triệu đồng, nếu tăng ca thì có thể lên tới 10 triệu đồng. Qua
theo dõi hàng năm, anh M xin nghỉ phép từ 1 – 2 lần/năm để về thăm con trong
Đồng Nai, mỗi đợt nghỉ khoảng 10 ngày. Ngoài ra ông D cũng nộp cho Tòa án
các phiếu lương của anh M từ tháng 6/2025 đến tháng 10/2025. Theo các phiếu
lương này thì trong 05 tháng gần đây, tính trung bình mỗi tháng anh M được trả
8.353.000 đồng, bao gồm cả tiền lương, tiền tăng ca, làm thêm giờ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Lê Văn M giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo, nhưng tại phần tranh luận anh M đồng ý giao cháu N cho chị V nuôi dưỡng
với điều kiện chị V phải trả cho anh M 100 triệu đồng. Nguyên đơn chị Nguyễn
Thị Ái V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không thống nhất được với bị đơn về
việc giải quyết vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Lê Văn M là người được giao trực tiếp nuôi cháu Lê
Nguyễn Hồng N, sinh năm 2019 theo quyết định công nhận thỏa thuận của các
đương sự số: 22/2023/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Tòa án
nhân dân thành phố Hòa Bình. Sau khi được giao nuôi con, anh M đã đón cháu
N về trong tỉnh Đồng Nai để nhờ bố mẹ đẻ chăm nom, nuôi dưỡng cháu N; anh
5
M làm công nhân và sinh sống tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình (cũ) đã không
trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Anh M không có nơi cư trú
ổn định, không có nhà riêng cũng không chứng minh được về điều kiện nuôi
dưỡng, chăm sóc cháu N, không chứng minh được việc gửi tiền về để nuôi
dưỡng cháu N. Chị Nguyễn Thị Ái V đã cung cấp các chứng cứ chứng minh về
điều kiện kinh tế, thu nhập, nhà ở, thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục,
đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cháu N. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định
giao con chung là cháu Lê Nguyễn Hồng N cho chị V trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giá dục là có căn cứ, đúng pháp luật. Anh M kháng cáo nhưng không cung
cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình nên không
có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án
Hôn nhân gia đình sơ thẩm 16/2025/HNGĐ - ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết
quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ tòa diện chứng cứ, ý kiến của các bên
đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái V khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn, bị đơn có nơi làm việc và cư trú tại phường H, tỉnh
Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm
quyền được quy định tại khoản 3 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
Kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn M trong thời hạn luật định, được chấp
nhận để xem xét.
[2] Về nội dung:
Xét kháng cáo của bị đơn anh Lê Văn M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số:
22/2023/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành
phố Hòa Bình về việc thay đổi nuôi con thì anh Lê Văn M được giao trực tiếp
nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Nguyễn Hồng N, sinh ngày
08/9/2019 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Ái V không phải cấp
dưỡng nuôi con chung.
6
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau: “Vợ,
chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau
khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định
giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con;
nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Theo Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số
quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, khi xem
xét quyền lợi về mọi mặt của con cần phải đánh giá khách quan, toàn diện các
tiêu chí: Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;
Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan
hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi; S gắn bó, thân thiết của con với cha,
mẹ; Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con; Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo
trộn môi trường sống, giáo dục của con; …
Kết quả xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều
cho thấy từ năm từ năm 2023 đến nay cháu N sống cùng ông bà nội ở tỉnh Đồng
Nai, không sống cùng anh Lê Văn M, anh M cũng không thường xuyên có mặt
tại địa phương, hiện nay anh M làm công nhân và cư trú tại Nhà máy cửa chống
cháy F – có địa chỉ tại phường H, tỉnh Phú Thọ từ 4 – 5 năm nay, mỗi năm về
thăm nhà ở tỉnh Đồng Nai từ 1 – 2 lần, mỗi lần khoảng 10 ngày.
Như vậy, anh Lê Văn M là người được giao trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Nguyễn Hồng N theo Quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự số: 22/2023/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm
2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực
12 – Phú Thọ), nhưng trên thực tế anh M đang làm việc, cư trú tại Nhà máy cửa
chống cháy F – có địa chỉ tại phường H, tỉnh Phú Thọ từ 4 – 5 năm nay, mỗi
năm về quê từ 1 – 2 lần, mỗi lần khoảng 10 ngày. Cháu N được người thân của
anh M tại Đồng Nai chăm sóc, đưa đón hàng ngày. Việc anh M không trực tiếp
trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên sau khi
ly hôn là không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cha mẹ theo quy định tại Điều 69
Luật Hôn nhân và gia đình và quyền của con được sống chung với người trực
tiếp nuôi. Bên cạnh đó, anh M cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh có gửi tiền về để ông bà nội nuôi cháu N. Ngoài ra, trong quá trình
cháu N sinh sống cùng ông bà nội, chị V ít được tạo điều kiện để thăm gặp, gọi
điện hỏi thăm cháu do sự cấm cản của gia đình bố mẹ anh M. Về phía nguyên
7
đơn chị Nguyễn Thị Ái V, trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, phúc
thẩm, chị V đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh về nguồn thu nhập
cố định của chị V đủ điều kiện nuôi dưỡng 02 con; các điều kiện khác để nuôi
dưỡng con chung như có đất ở, nhà ở riêng biệt, nơi ở gần với trường học, tính
chất công việc linh hoạt có thể chủ động sắp xếp được việc chăm sóc, nuôi
dưỡng cả 02 con chung. Việc giao cháu N cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục sẽ đảm bảo được các quyền lợi, điều kiện tốt hơn so với anh M.
Bên cạnh đó, anh M hiện đang làm việc tại phường H, nên việc giao cháu N cho
chị V trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng cũng giúp cho cháu N có điều kiện được
gần gũi cả bố và mẹ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào ý kiến của các
đương sự, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, xác minh hợp pháp để nhận
định, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, giao cháu N cho chị V trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ pháp lý và phù hợp với
điều kiện thực tế, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Lê Nguyễn Hồng N.
Anh Lê Văn M kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng cũng không cung cấp
thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh về điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục cháu N. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Lê
Văn M về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cần giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm để đảm bảo lợi ích tốt nhất về nuôi dưỡng con
chung chưa thành niên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc
thẩm.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh
Lê Văn M phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn M. Giữ nguyên bản án hôn
nhân gia đình sơ thẩm số 16/2025/HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 12 – Phú Thọ.
8
2. Về án phí phúc thẩm:
Anh Lê Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Anh M1
đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0002564
ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, nay được đối trừ không
phải nộp thêm.
3. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (29/12/2025)./.
Nơi nhận:
- - TANDTC;
- - VKSND tỉnh Phú Thọ;
- - TAND khu vực 12 – Phú Thọ;
- - VKSND khu vực 12 – Phú Thọ;
- - Phòng THADS KV12 – Phú Thọ;
- - Các đương sự;
- - Lưu HSVA; HCTP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Kim Trường
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm