Bản án số 389/2024/HC-PT ngày 26/09/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 389/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 389/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 389/2024/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 389/2024/HC-PT ngày 26/09/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 389/2024/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/09/2024 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 36/QĐ-VKS-HC ngày 26/01/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa; hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 389/2024/HC-PT
Ngày: 26/9/2024
V/v: “Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh
vực quản lý đất đai về thu hồi
GCNQSDĐ, HVHC không giải quyết
khiếu nại, văn bản trả lời đơn và yêu
cầu bồi thường thiệt hại”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Chí Công
Các Thẩm phán:
Ông Trần Đức Kiên
Bà Trần Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia
phiên tòa: bà Bùi Ngô Ý Nhi, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với Điểm cầu thành phần - Trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trực
tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số 88/2024/TLPT-HC ngày 29 tháng 3
năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai về
thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hành vi hành chính về việc không
giải quyết khiếu nại, văn bản trả lời đơn và yêu cầu bồi thường thiệt hại”, do có
kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chủ
tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với Bản án hành chính sơ thẩm số
02/2024/HC-ST ngày 12/01/2024.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1881/2024/QĐ-PT ngày 09
tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Ái L; địa chỉ cư trú: nhà số A đường N,
phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Yên S; địa chỉ cư trú: 55Đ C8, Khu
đô thị V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại điểm cầu thành phần.
2
2. Người bị kiện:
2.1. Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Đại D; chức vụ: Phó Chủ tịch; vắng mặt
và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
- Bà Nguyễn Diệu H; chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi
trường thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị Bích K, nhân viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N,
tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Ông Lê Ngọc C - Công chức ĐC-XD-NN&MT xã V, thành phố N, tỉnh Khánh
Hòa; có mặt tại điểm cầu thành phần.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phạm Thị T, bà Trần Thị Lan A; địa chỉ cư trú: thôn T, xã V, thành phố N,
tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.2. Ông Nguyễn Trần Chí D1; địa chỉ cư trú: Lô G đường A, Khu đô thị M, xã V,
thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.3. Ông Hồ Văn C1, bà Trần Thị Kim A1, ông Hồ Văn S1; địa chỉ cư trú: thôn T,
xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.4. Ông Hồ Xuân L1, ông Hồ Văn S2; địa chỉ cư trú: thôn T, xã V, thành phố N,
tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.5. Ông Nguyễn Đặng Mạnh Q; địa chỉ cư trú: thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh
Khánh Hòa; vắng mặt.
3.6. Bà Hồ Thị S3; địa chỉ cư trú: thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Ái L; địa chỉ cư trú: nhà số A đường
N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại điểm cầu thành phần.
3.7. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ: A H,
phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Bà Nguyễn Diệu H; chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi
trường thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3
- Bà Nguyễn Hồng Đ, nhân viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N,
tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.8. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ:
A H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Xuân T1; chức vụ: Phó Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng Đ tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
3.9. Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trường Nhật N; chức vụ: Phó Chủ
tịch; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Lê Ngọc C – Công chức ĐC-XD-
NN&MT xã V; có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người kháng cáo: người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, người khởi kiện bà Nguyễn
Thị Ái L và người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Yên S trình bày:
Ngày 04/8/2009, bà Hồ Thị S3 có Đơn xin giao đất lập dự án trồng rừng. Tháng
12/2009, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố N có văn bản số 4508/UBND cho
hộ bà S3 lập dự án trồng rừng khu vực núi G (tại thôn T, xã V, thành phố N). Trên
cơ sở này, hộ bà S3 lập dự án trồng rừng vào tháng 01/2011. Ngày 25/12/2012,
UBND thành phố N có Quyết định số 5232/QĐ-UBND về việc cho thuê đất để
trồng rừng với diện tích là 12,417ha đối với bà Hồ Thị S3.
Sau những lần thay đổi: Từ cho thuê đất 10 năm lên 40 năm, cho thuê đất trả
tiền hàng năm sang trả tiền thuê một lần, UBND thành phố N cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CK728299, số vào sổ CH 02387 cấp
ngày 18/9/2017 cho bà Hồ Thị S3.
Ngày 26/9/2017, bà Hồ Thị S3 lập Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đất
thuê cho bà Nguyễn Thị Ái L, hợp đồng đã được công chứng. Sau khi hoàn thành
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập chuyển quyền sử dụng đất, lệ
phí trước bạ) theo quy định, bà Nguyễn Thị Ái L đã nộp toàn bộ hồ sơ đăng ký
biến động và sang tên tại Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 để thực hiện thủ tục chỉnh
lý biến động và cấp lại GCNQSDĐ từ bà Hồ Thị S3 sang Nguyễn Thị Ái L và đã
được Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh N1 thông báo cập nhật, chỉnh lý
biến động sang tên từ bà Hồ Thị S3 sang tên Nguyễn Thị Ái L theo Thông báo số
16508/CNNT ngày 26/10/2017.
4
Như vậy, theo quy định của pháp luật, bà Nguyễn Thị Ái L đã có quyền trên lô
đất thuê từ ngày 26/10/2017, với diện tích là 12,417 ha theo GCNQSDĐ số
CK728299, số vào sổ CH 02388 cấp ngày 18/9/2017 mà bà S3 đã thuê của nhà
nước, sau đó chuyển nhượng hợp pháp cho bà L.
Ngày 02/01/2018, bà L đã nộp GCNQSDĐ số CK728299, số vào sổ CH02387
cấp ngày 18/9/2017 tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của thành phố N để cấp
đổi sang tên bà L.
Từ phiếu chuyển hồ sơ số 13423/VPĐK ngày 10/10/2017 của Văn phòng Đ - Chi
nhánh N1, Chi cục Thuế thành phố N có Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất,
đã xác định rõ tên chủ tài sản: Nguyễn Thị Ái L và Thông báo nộp thuế thu nhập
cá nhân đối với cá nhân chuyển nhượng bất động sản là bà Hồ Thị S3.
Văn phòng Đ-Chi nhánh N1 có Thông báo số 621/CNNT ngày 12/01/2018 gửi
Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N về việc giải quyết hồ sơ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thuê của bà L, trong đó ghi: Văn phòng Đăng ký đất
đai - Chi nhánh N1 sẽ trình UBND thành phố N cấp Giấy chứng nhận cho bà
Nguyễn Thị Ái L. Phòng T có công văn số 3330/TNMT ngày 12/4/2018 trả lời
Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh N1 nhưng cũng không có ý kiến gì khác.
Khi UBND thành phố N cho bà S3 thuê đất, đã có sự kiểm tra, tham mưu của
UBND xã V và các cơ quan chuyên môn đã tiến hành rà soát về nguồn gốc, đo
đạc diện tích đất, xác minh cụ thể ranh giới.
Khi bà L nộp GCNQSDĐ số CK728299 để cấp đổi sổ theo quy định thì UBND
thành phố N cho rằng đất mà bà S3 thuê có sự chồng lấn với đất bà Phạm Thị T
và bà Trần Thị Lan A nên có Quyết định số 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 để
thu hồi Giấy CNQSD đất số CK228299 cấp cho bà Hồ Thị S3 và Quyết định số
1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 điều chỉnh diện tích cho thuê đất tại Quyết
định số 5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND thành phố N từ 12,417 ha
xuống còn 10,316ha, với lý do: diện tích cho thuê có chồng lấn 2,0499 ha. Việc
UBND thành phố N thu hồi Giấy CNQSD đất của bà S3 là trái với quy định tại
khoản 2, 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 về đính chính, thu hồi Giấy chứng
nhận đã cấp.
Công văn số 6112/UBND-TNMT ngày 15/9/2021 của UBND thành phố N trả lời
đơn cho bà L, có nội dung: “UBND thành phố xét thấy thủ tục chỉnh lý biến
động sang tên đối với Hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất giữa bà Hồ Thị S3
với bà chưa hoàn thiện thủ tục theo quy định, căn cứ khoản 3 Điều 188 Luật Đất
đai năm 2013, bà chưa có đầy đủ các quyền liên quan đến lô đất bà Hồ Thị S3
thuê của Nhà nước tại núi G, thôn T, xã V, thành phố N. Do đó, bà không có
quyền khiếu nại” là không đúng quy định của pháp luật vì theo Thông báo số
16508/CNNT ngày 26/10/2017 của Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 đã thông báo
cập nhật, chỉnh lý biến động từ bà Hồ Thị S3 sang tên bà Nguyễn Thị Ái L.
5
Tại Phiếu hướng dẫn số 4010/UBND-Ttra ngày 14/6/2022 của UBND thành phố
N về việc hướng dẫn gửi đơn khiếu nại, UBND thành phố đã hướng dẫn bà L
gửi đơn khiếu nại đến Sở T2 để được giải quyết cũng là không đúng. Do vậy, bà
Nguyễn Thị Ái L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính sau:
- Quyết định 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N về việc
thu hồi Giấy CNQSD đất số CH 02387 ngày 18/9/2017 do UBND thành phố N
cấp cho bà Hồ Thị S3.
- Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 về việc điều chỉnh diện tích
cho thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND
thành phố N về việc cho thuê đất để trồng rừng đối với bà Hồ Thị S3.
- Các văn bản trả lời đơn của UBND thành phố N số 4987/UBND-TNMT ngày
21/6/2019, số 3675/UBND-TNMT ngày 27/5/2020, số 7545/UBND-TNMT
ngày 05/10/2020, số 1406/UBND-TNMT ngày 10/3/2021, số 6112/UBND-
TNMT ngày 15/9/2021 và công văn hướng dẫn số 4010/UBND-Ttra ngày
14/6/2022.
- Buộc UBND thành phố N cấp lại GCNQSDĐ mà bà L đã thuê; đồng thời phải
bồi thường thiệt hại cho bà L số tiền 604.560.000 đồng (0,916 triệu x 55 tháng x
12 ha) do bà không tiến hành được việc trồng rừng theo dự án được duyệt mà
đáng ra đã trồng cây và khai thác một đợt để có thu nhập.
* Tại văn bản số 1783/UBND-TNMT ngày 17/3/2023, Ủy ban nhân dân thành phố
N trình bày ý kiến:
1. Đối với Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố
thành phố N:
Tại Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N về
việc điều chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày
25/12/2012 của UBND thành phố, có nội dung điều chỉnh diện tích:
103.670,3m
2
(điều chỉnh giảm 20.499,7m
2
, do chồng lấn diện tích với bà Phạm
Thị T và bà Trần Thị Lan A).
2. Quyết định số 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N về
việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02387 do UBND thành
phố cấp ngày 18/9/2017:
Căn cứ chủ trương của UBND thành phố N “đồng ý cho hộ bà Hồ Thị S3 lập dự
án trồng rừng tại khu vực Núi G” tại văn bản số 4508/UBND ngày 10/12/2009
và ngày 25/12/2012, UBND thành phố N ban hành Quyết định thuê đất số
5232/QĐ-UBND. Diện tích: 124.170m
2
; thời hạn thuê: 10 năm; Địa chỉ thuê
trồng: Khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N và Trưởng phòng Tài nguyên và
Môi trường ký hợp đồng thuê đất số 01/2013/HĐTĐ ngày 26/4/2013.
6
Căn cứ đơn ghi ngày 19/8/2014 của bà Hồ Thị S3 về việc xin điều chỉnh thời
gian thuê đất, ngày 24/11/2014, UBND thành phố N ban hành Quyết định số
6169/QĐ-UBND, với nội dung điều chỉnh thời hạn cho thuê đất là 40 năm (ngày
12/12/2014, phụ lục hợp đồng cho thuê đất được ký điều chỉnh các nội dung cho
thuê theo Quyết định số 6169/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 của UBND thành phố
N. Thời hạn thuê: 40 năm.
Từ những cơ sở trên, UBND thành phố cấp giấy chứng nhận số CH01592/22402
ngày 06/8/2015, cho bà Hồ Thị S3 (căn cứ theo Hợp đồng thuê đất số
01/2013/HĐTĐ ngày 26/4/2013 do Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường
ký). Trong đó có nội dung: Diện tích: 124.170m
2
, thời hạn thuê đất 40 năm (từ
ngày 7/5/2013 đến ngày 6/5/2053), nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất
trả tiền thuê đất hàng năm. Đến ngày 20/01/2016, chỉnh lý tên người thuê đất là
bà Nguyễn Thị Ái L. Ngày 29/3/2017, chỉnh lý xóa tên người thuê đất bà Nguyễn
Thị Ái L. Giấy này bị hủy do sai quy định.
Ngày 06/8/2015, UBND thành phố cấp giấy chứng nhận số CH01592/22402 cho
bà Hồ Thị S3. Trong đó có nội dung thuê đất rừng với diện tích: 124.170m
2
, thời
hạn thuê đất 40 năm (từ ngày 7 tháng 5 năm 2013 đến ngày 6 tháng 5 năm
2053), nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm.
Ngày 03/12/2015, bà Hồ Thị S3 ký hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L theo Hợp đồng được Văn phòng C3 chứng nhận số 12577,
quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGĐ. Sau khi Bà Hồ Thị S3 và Nguyễn Thị Ái L đã
hoàn thành các thủ tục chỉnh lý biến động sang tên, ngày 26/01/2016, Văn phòng
Đ – Chi nhánh N1 đã chỉnh lý sang tên người thuê đất là bà Nguyễn Thị Ái L hồ
sơ số 008295.CN.001. Đến ngày 29/3/2017, Văn phòng Đ – Chi nhánh N1 chỉnh
lý xóa nội dung xác nhận cho thuê lại ngày 20/01/2016, lý do bà Hồ Thị S3 được
nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm. Ngày 14/9/2017, Văn phòng Đ
– Chi nhánh N1 đã chỉnh lý thu hồi giấy chứng nhận đã nêu do cấp đổi giấy
chứng nhận.
Đến ngày 18/9/2017, UBND thành phố cấp GCNQSDĐ số CH02387 cho bà Hồ
Thị S3, với diện tích: 124.170m
2
, thời hạn thuê đất 40 năm, nguồn gốc sử dụng:
Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần (căn cứ theo phụ lục Hợp đồng
thuê đất số 01/2013/HĐTĐ ký ngày 2/12/2014 và ngày 06/6/2018 do Trưởng
phòng Tài nguyên và Môi trường ký).
Ngày 26/9/2017, bà Hồ Thị S3 ký hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L theo Hợp đồng được Văn phòng C3 chứng nhận số 17534,
quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGĐ. Ngày 29/9/2017, bà Hồ Thị S3 và Nguyễn Thị
Ái L nộp hồ sơ chỉnh lý biến động sang tên tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
UBND thành phố N, thủ tục chỉnh lý biến động sang tên chưa hoàn tất.
7
Quá trình giải quyết hồ sơ, do phần diện tích đất bà Hồ Thị S3 đã được thuê và
cấp giấy chứng nhận có phần chồng lấn với diện tích bà Phạm Thị T và bà Trần
Thị Lan A đang quản lý, sử dụng nên ngày 18/6/2019, UBND thành phố N có
Quyết định điều chỉnh diện tích đất số 1649/QĐ-UBND của UBND thành phố N
về việc điều chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày
25/12/2012 của UBND thành phố; trong đó điều chỉnh diện tích thuê đất còn
103.670,3m
2
(giảm 20.499,7m
2
). Đồng thời, ngày 18/6/2019, UBND thành phố N
có quyết định số 1650/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH02387 do UBND thành phố cấp ngày 18/9/2017, Văn phòng Đ –
Chi nhánh N1 đã thu hồi và bấm lỗ GCNQSDĐ số CH02387. Tuy nhiên, ngày
18/6/2019, UBND thành phố N ban hành quyết định số 1650/QĐ-UBND về việc
thu hồi GCNQSDĐ số CH02387 do UBND thành phố cấp ngày 18/9/2017, lý
do: UBND thành phố đang xem xét lại phần diện tích cho thuê tại quyết định số
1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N là không phù hợp với
phần diện tích tại giấy chứng nhận số CH02387 do UBND thành phố cấp ngày
18/9/2017 cho bà Hồ Thị S3.
Ngày 26/9/2017, bà Hồ Thị S3 ký hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L theo Hợp đồng được Văn phòng C3 chứng nhận số 17534,
quyển số 07 TP/CC-SCC/HĐGĐ. Bà Hồ Thị S3 và bà Nguyễn Thị Ái L nộp hồ
sơ chỉnh lý biến động sang tên tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND thành
phố N ngày 29/9/2017, thủ tục chỉnh lý biến động sang tên chưa hoàn tất.
Quá trình giải quyết hồ sơ, do phần diện tích đất bà Hồ Thị S3 đã được thuê và
cấp giấy chứng nhận có phần chồng lấn với diện tích bà Phạm Thị T và bà Trần
Thị Lan A đang quản lý, sử dụng nên ngày 18/6/2019, UBND thành phố N có
Quyết định điều chỉnh diện tích đất số 1649/QĐ-UBND của UBND thành phố N
về việc điều chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày
25/12/2012 của UBND thành phố; trong đó điều chỉnh diện tích thuê đất còn
103.670,3m
2
(giảm 20.499,7m
2
); đồng thời, ngày 18/6/2019, UBND thành phố N
có Quyết định số 1650/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số CH02387 do
UBND thành phố cấp ngày 18/9/2017, Văn phòng Đ – Chi nhánh N1 đã thu hồi
và bấm lỗ GCNQSDĐ số CH02387.
Sau khi thu hồi GCNQSDĐ số CH02837, trong quá trình lập thủ tục cấp lại
GCNQSDĐ đối với phần đất còn lại không bị chồng lấn ranh giới theo Quyết
định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N về việc điều
chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định 5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của
UBND thành phố, UBND thành phố tiếp tục nhận đơn ghi ngày 19/6/2020 của
các hộ dân, gồm: ông Hồ Văn S2, ông Hồ Xuân L1, bà Hồ Thị C2, ông Hồ Văn
C1, ông Hồ Văn S1, nội dung đề nghị xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (tại phần diện tích đất đang cho thuê trồng rừng đối với hộ bà Hồ Thị
S3), nên UBND thành phố tạm ngưng việc cấp GCNQSDĐ. Đến ngày
8
31/3/2021, UBND xã V đã có văn bản số 383/UBND về việc báo cáo rà soát tình
hình sử dụng đất của các hộ tại khu đất bà Hồ Thị S3 thuê đất tại Núi G, thôn T,
xã V, trong đó các nội dung báo cáo khu vực chồng lấn đất như sau:
Đối chiếu sơ đồ khu đất do Văn phòng Đ – Chi nhánh N1 đo vẽ ngày 09/01/2019,
UBND xã xác định 03 thửa 1, 2, 3 tương ứng 01 phần diện tích thửa số 37, 32 tờ
số 1 bản đồ lâm nghiệp xã V (có tên trong sổ mục kê 2008 do ông Phan H1 kê
khai) là do các hộ họ H2 (gồm Hồ Xuân L2, Hồ Văn S2, Hồ Xuân L1, Hồ Thị C2,
Hồ Văn S1, Hồ Văn C1) đã khai hoang, quản lý và sử dụng đất từ năm 1995,
1996 đến nay, có phần diện tích tiếp tục chồng lấn là 87.040,3m
2
trong số diện
tích 103.670,3m
2
tại Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND
thành phố N (có nội dung: về việc điều chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định số
5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND thành phố; trong đó diện tích
điều chỉnh 103.670,3m
2
(đã điều chỉnh giảm 20.499,7m
2
, do chồng lấn diện tích
với bà Phạm Thị T và bà Trần Thị Lan A so với diện tích thuê ban đầu). Sau khi
trừ phần diện tích chồng lấn với các hộ dân 87.040,3m
2
thì phần diện tích còn lại
của bà Hồ Thị S3 16.630m
2
.
3. Đối với các văn bản khác: Công văn số 4987/UBND-TNMT ngày 21/6/2019,
số 3675/UBND-TNMT ngày 27/5/2020, số 7545/UBND-TNMT ngày
05/10/2020, số 1406/UBND-TNMT ngày 10/3/2021, số 6112/UBND-TNMT
ngày 15/9/2021 và Công văn hướng dẫn số 4010/UBND-Ttra ngày 14/6/202 là
các văn bản trả lời đơn cho bà Nguyễn Thị Ái L hoặc hướng dẫn cho bà L biết để
gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
4. Về việc yêu cầu buộc bồi thường cho hộ bà Nguyễn Thị Ái L:
Sau khi trừ phần diện tích chồng lấn với các hộ dân 87.040,3m
2
thì phần diện
tích còn lại của bà Hồ Thị S3 16.630m
2
. Theo báo cáo của UBND xã V tại văn
bản số 383/UBND ngày 31/3/2021: từ năm 2017, hộ bà S3 vẫn chưa trồng rừng
trên đất xin thuê, lý do bà S3 không trồng rừng trên đất xin thuê liên quan việc
một số hộ dân (họ H2) đã trồng rừng trên đất vào những năm trước đó, dẫn đến
tranh chấp giữa bà S3 và các hộ dân, nên đề án trồng rừng của Bà S3 lập không
khả thi từ năm 2012 đến năm 2017. Đến năm 2019, UBND thành phố mới có
quyết định thu hồi giấy chứng nhận của bà S3 để chỉnh sửa diện tích do diện tích
trồng rừng trong đề án của bà S3 chồng lấn nhiều hộ dân.
Như vậy, diện tích xin thuê trồng rừng của bà Hồ Thị S3 (sau khi đã trừ phần
diện tích chồng lấn với bà Phạm Thị T và bà Trần Thị Lan A) nay lại tiếp tục
chồng lấn các hộ dân hộ Hồ và hiện trạng trên khu đất chồng lấn các hộ này đã
trồng cây (theo báo cáo của UBND xã V tại văn bản số 383/UBND ngày
31/3/2021 về việc UBND xã V xác nhận nguồn gốc và phần diện tích chồng lấn
là thuộc các hộ này do các hộ khai hoang trước năm 1992). Do đó, việc bà
9
Nguyễn Thị Ái L đề nghị UBND thành phố N bồi thường cho hộ Bà L là không
có cơ sở.
5. Về việc cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị Ái L: UBND thành phố đề nghị
bà Hồ Thị S3 lập lại bản trích đo (trừ đi phần diện tích đang tranh chấp, chồng
lấn các hộ dân họ Hồ) và có đơn đề nghị thuê lại phần diện tích còn lại (nếu có
nhu cầu), đồng thời bà Hồ Thị S3 phải hoàn chỉnh lại thủ tục và lập lại đề án
trồng rừng đối với phần diện tích mới sau khi điều chỉnh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND xã V trình bày:
UBND xã V đã có văn bản số 383/UBND ngày 31/3/2021 về việc báo cáo rà
soát tình hình sử dụng đất của các hộ dân tại khu đất bà Hồ Thị S3 thuê tại núi G,
thôn T, xã V, trong đó có nội dung báo cáo khu vự chồng lấn đất như sau: đối
chiếu sơ đồ khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đ đo vẽ ngày 09/01/2019, UBND
xã xác định 03 thửa tương ứng một phần diện tích số 37, 32 tờ số 01 bản đồ lâm
nghiệp xã V (có tên trong sổ mục kê 2008 do ông Phan H1 kê khai) là do các hộ
họ H2 (gồm Hồ Xuân L2, Hồ Văn S2, Hồ Xuân L1, Hồ Thị C2, Hồ Văn S1, Hồ
Văn C1) đã khai hoang, quản lý, sử dụng từ năm 1995, 1996 đến nay, có phần
diện tích tiếp tục chồng lấn là 87.040,3m
2
trong số diện tích 103.670,3m
2
tại
Quyết định số 1649 ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N (Có nội dung điều
chỉnh diện tích thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của
UBND thành phố N: trong đó diện tích điều chỉnh giảm còn 103.670,3m
2
). Sau
khi trừ phần diện tích chồng lấn với các hộ dân thì phần diện tích còn lại của bà
Hồ Thị S3 là 16.630m
2
.
Từ năm 2017, bà S3 vẫn chưa trồng rừng trên đất thuê, lý do bà S3 không trồng
rừng liên quan đến việc một số hộ dân (họ Hồ) đã trồng rừng trên đất vào những
năm trước đó, dẫn đến tranh chấp giữa bà S3 và các hộ dân, nên đề án trồng
rừng của bà S3 lập không khả thi từ năm 2012 đến năm 2017. Năm 2019, UBND
thành phố N mới có quyết định thu hồi giấy chứng nhận của bà S3 để chỉnh sửa
diện tích do diện tích đất trồng rừng trong đề án của bà S3 chồng lấn nhiều hộ
dân.
Như vậy, diện tích xin thuê trồng rừng của bà S3 (sau khi đã trừ phần diện tích
chồng lấn với bà Phạm Thị T và bà Trần Thị Lan A) nay lại tiếp tục chồng lấn các
hộ dân họ Hồ và hiện trạng trên khu đất chồng lấn các hộ dân này đã trồng cây.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Phòng Tài nguyên và Môi trường thành
phố N trình bày:
Đối với vụ án nêu trên, UBND thành phố N đã có văn bản số 1783/UBND-
TNMT ngày 17/3/2023. Phòng T thống nhất với nội dung tại văn bản só
1783/UBND-TNMT ngày 17/3/2023 của UBND thành phố N và không có ý kiến
gì thêm.
10
* Tại văn bản số 11605/CNNT ngày 13/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 trình bày:
I. Về giải quyết hồ sơ của bà Nguyễn Thị Ái L thuê lại quyền sử dụng đất của bà
Hồ Thị S3 tại thửa 234, tờ bản đồ 49, khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N:
1.1. Về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất:
Bà Hồ Thị S3 được UBND thành phố N cấp GCN số CH 02387 ngày 18/9/2017
tại thửa 234, tờ bản đồ 49, khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N, diện tích
124.170m (RSX), thời hạn sử dụng: Thuê đất 40 (bốn mươi) năm, kể từ ngày
07/5/2013 đến hết ngày 06/5/2053. Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước cho thuê đất
trả tiền một lần.
1.2. Về trình tự thủ tục giải quyết hồ sơ của bà Nguyễn Thị Ái L thuê lại quyền
sử dụng đất của bà Hồ Thị S3:
Ngày 26/9/2017, bà Hồ Thị S3 lập hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L theo Hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất số 17534, quyển số
07 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/9/2017 do Văn phòng C3 chứng nhận. Thông tin
về chuyển giao quyền thuê đất là Giấy chứng nhận số CH02387 ngày18/9/2017
tại thửa 234, tờ bản đồ 49, khu vực núi G, thôn T, xã V, TP N.
Ngày 29/9/2017, bà Nguyễn Thị Ái L liên hệ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
của UBND thành phố N nộp hồ sơ chuyển giao quyền thuê đất nêu trên theo mã
biên nhận số 1071746501. Sau khi thẩm định hồ sơ, Chi nhánh N1 có Phiếu
chuyển thông tin địa chính số 13423/PCTTĐC ngày 09/10/2017 gửi đến Chi cục
thuế để xác định nghĩa vụ tài chính. Ngày 23/10/2017, bà Hồ Thị S3 và bà
Nguyễn Thị Ái L đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo giấy nộp tiền số 2221149
và 2221159 theo thông báo số 16104/17/CCT-TB-LPTB và số 16104/17/CCT-
TB-TNCN ngày 12/10/2017 của Chi cục Thuế thành phố N.
Ngày 24/10/2017, Chi nhánh N1 đã cập nhật vào sổ địa chính (điện tử) phần
đăng ký thửa đất với nội dung “Bà Hồ Thị S3 chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L, sinh năm 1975, CMND số 220905696, diện tích thuê
124.170,0m (RSX). Thời hạn thuê đất 40 năm, từ ngày 07/5/2013 đến
06/5/2053” (Điều 25 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ
T3). Thủ tục này theo quy định không xác nhận trên giấy chứng nhận (Điều 17
Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3).
Ngày 26/10/2017, Chi nhánh N1 có Thông báo số 16508/CNNT gửi UBND xã V
về việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính đồng thời gửi Thông báo này cho bà
Hồ Thị S3 và bà Nguyễn Thị Ái L để biết.
Trong suốt thời gian thẩm định hồ sơ của bà Nguyễn Thị Ái L, Chi nhánh N1
không nhận đơn thư tranh chấp khiếu nại liên quan đến thửa đất. Từ những cơ sở
11
trên, việc thẩm định hồ sơ cho thuê lại quyền sử dụng đất tại thửa 234, tờ bản đồ
49, khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N theo đúng trình tự thủ tục của pháp
luật về đất đai theo quy định tại khoản 3 điều 188 luật đất đai 2013, Điều 35
Quyết định số 2314/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 của UBND tỉnh K; Điều 25
Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, Điều 17 Thông tư 23/2014/TT-
BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T3.
II. Về hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận của bà Nguyễn Thị Ái L theo Giấy tiếp
nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả mã hồ sơ số 1071800108 ngày 02/01/2018:
Ngày 02/01/2018, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND thành phố N tiếp
nhận hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị Ái L tại thửa 234, TBD 49
khuvực núi G, thôn T, xã V, thành phố N, Khánh Hòa, mã hồ sơ số 1071800108.
Ngày 12/01/2018, Chi Nhánh N1 ban hành văn bản số 621/CNNT gửi Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố N lấy ý kiến về việc giải quyết hồ cấp đổi Giấy
chứng nhận cho bà Nguyễn Thị Ái L.
Ngày 05/3/2018, Chi Nhánh N1 ban hành văn bản số 3065/CNNT gửi Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố N (lần 2) về việc thông báo giải quyết hồ sơ của
bà Nguyễn Thị Ái L.
Ngày 13/3/2018, Chi Nhánh N1 ban hành văn bản số 3631/CNNT gửi UBND
thành phố N về việc giải quyết hồ sơ cấp đổi Giấy chứng nhận của bà Nguyễn
Thị Ái L do đã 02 lần có văn bản thông báo giải quyết hồ sơ đến Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố N nhưng chưa có phản hồi.
Ngày 10/4/2018, Chi Nhánh N1 ban hành văn bản số 5501/CNNT gửi cho bà
Nguyễn Thị Ái L về việc thông báo tiến độ giải quyết thủ tục hành chính hồ sơ
cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất của bà Nguyễn Thị Ái L.
Ngày 12/4/2018, Phòng T có văn bản số 3330/TNMT gửi Chi nhánh N1 về việc
phúc đáp Văn phòng Đăng ký đất đai – Chi nhánh N1 về việc giải quyết hồ sơ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuê với nội dung: “Vì liên quan đến hồ sơ
thuê đất nông nghiệp do phòng T ký Hợp đồng thuê đất với bà Hồ Thị S4 có ràng
buộc các hạn chế nhất định đối với người sử dụng đất nên việc thỏa thuận dân
sự của những người sử dụng đất tiếp theo (nếu đủ điều kiện) buộc phải thực
hiện tương tự như trường hợp của bà Hồ Thị S3”. Ngày 17/5/2018, Chi Nhánh
N1 nhận được văn bản số 4765/TNMT của Phòng Tài nguyên và Môi trường
thành phố N phản hồi về việc xin gia hạn giải quyết nội dung giải quyết hồ sơ
của bà Hồ Thị S3 tại xã V, thành phố N.
* Hủy hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính của bà Hồ Thị S3 chuyển giao quyền
thuê đất cho bà Nguyễn Thị Ái L:
12
Ngày 18/6/2019, UBND thành phố N ban hành Quyết định số 1650/QĐ-UBND
về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02387 ngày
18/9/2017 do UBND thành phố N cấp cho bà Hồ Thị S3 đối với thửa 234, tờ bản
đồ 49, khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N, thể hiện nội dung lý do thu hồi:
“Căn cứ điểm b khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày
06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 4 Điều 87 Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 vì Giấy chứng nhận cấp cho bà Hồ Thị
S3 thuê đất diện tích 124.170,0m bị chồng lấn với bà Phạm Thị T và bà Trần Thị
Lan A với tổng diện tích 20.499,7m2 là không đúng”. Đồng thời, UBND thành
phố N giao: “Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 thực hiện việc thu hồi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Hồ Thị S3 ...”.
Ngày 24/12/2019, Chi nhánh N1 có Công văn số 29602/CV-CNNT gửi Chi cục
Thuế thành phố N về việc hủy hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính đối với thửa 234,
tờ bản đồ 49, khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N của bà Hồ Thị S3 chuyển
giao quyền thuê đất cho bà Nguyễn Thị Ái L, lý do:“UBND thành phố N đã ban
hành Quyết định số 1650/QĐ- UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số CH 02387 ngày 18/9/2017 do UBND thành phố N cấp cho bà Hồ Thị
S3”.
Vì vậy, Chi nhánh N1 không có cơ sở giải quyết hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận
cho bà Nguyễn Thị Ái L vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà Hồ Thị S3 đã bị UBND thành phố N
thu hồi theo Quyết định số 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019.
Theo Thông báo số 537/TB-UBND ngày 14/06/2022 kết luận của Phó Chủ tịch
UBND thành phố N về cuộc họp nghe báo cáo giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị
Ái L có nội dung: “Đề nghị Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai tại thành phố
N rà soát hiệu chỉnh thống nhất hồ sơ (nếu có) theo quá trình đơn vị đã thụ lý
trước đây giải quyết và có Thông báo kết quả giải quyết hồ sơ cấp đổi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất cho bà Nguyễn Thị Ái L theo thẩm quyền”.
Ngày 14/7/2022, Chi nhánh N1 ban hành thông báo từ chối giải quyết số
9470/TB-CNNT gửi cho bà Nguyễn Thị Ái L để kết thúc hồ sơ cấp đổi giấy
chứng nhận và đề nghị bà liên hệ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh
N1 (D L, phường L) để nhận lại hồ sơ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Đặng Mạnh Q trình bày:
ông được cha là ông Nguyễn Mạnh Q1 cho diện tích đất khoảng 17.398,9m
2
từ
năm 2002, từ đó đến nay ông trồng trọt keo, tràm, bạch đàn, chăn nuôi heo rừng,
dê, phần đất có tứ cận: phía Tây giáp rẫy ông Hồ S5, phía Nam giáp rẫy ông Hồ
Văn X, phía Đông và B giáp rẫy ông Hồ Văn C1, Hồ Văn S1.
Vừa qua, ông được
biết phần đất ông đang quản lý, sử dụng bị chồng lấn ranh với đất bà S3 đã được
13
cấp GCNQSDĐ. Đất của ông chưa được cấp GCNQSDĐ vì điều kiện kinh tế
còn khó khăn, chưa có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi cấp sổ đỏ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Hồ Văn C1 và Hồ Văn S1 trình
bày: năm 2000, ông C1, ông S1 khai hoang diện tích đất khoảng 4,3ha để trồng
bạch đàn, keo gỗ hương, sử dụng ổn định từ đó đến nay; vị trí đất: phía Đông và
B giáp đất ông Nguyễn Đặng Mạnh Q, phía Nam giáp đất ông Hồ Văn S2 và ông
Hồ Xuân L1, phía Tây giáp đất ông Hồ Sử . Vừa qua, ông C1, ông S1 được biết
phần đất mà các ông đang quản lý, sử dụng bị chồng lấn ranh với đất bà S3 đã
được cấp GCNQSDĐ. Đất của các ông chưa được cấp GCNQSDĐ vì điều kiện
kinh tế còn khó khăn, chưa có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi cấp
sổ đỏ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hồ Thị S3 (người đại diện theo ủy
quyền của bà S3 là bà Nguyễn Thị Ái L): nội dung bà L trình bày đã có tại đơn
khởi kiện ghi ngày 05/9/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 20/12/2022.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Hồ Xuân L1 và Hồ Văn S2 trình
bày: năm 1996, ông L1, ông S2 khai hoang diện tích đất khoảng 4,8ha để trồng
bạch đàn, keo gỗ hương, sử dụng ổn định từ đó đến nay; vị trí đất: phía Bắc giáp
đất ông Hồ Văn C1 và Hồ Văn S1, phía Nam và phía Tây giáp đất bà Phạm Thị T
và Hồ S5, phía Đông giáp phần núi cao. Vừa qua, ông L1, ông S2 được biết phần
đất mà các ông đang quản lý, sử dụng bị chồng lấn ranh với đất bà S3 đã được
cấp GCNQSDĐ. Đất của các ông chưa được cấp GCNQSDĐ vì điều kiện kinh
tế còn khó khăn, chưa có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính khi cấp sổ
đỏ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Trần Chí D1: Tòa án đã
nhiều lần triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông D1 không đến Tòa để trình bày ý
kiến, không tham gia phiên đối thoại.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 12/01/2024, Tòa án
nhân dân tỉnh Khánh Hòa:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ái
L.
1.1. Hủy Quyết định 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N
về việc thu hồi GCNQSDĐ số CH 02387 ngày 18/9/2017 do UBND thành phố N
cấp cho bà Hồ Thị S3.
1.2. Hủy Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố
N về việc điều chỉnh diện tích cho thuê đất tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND
14
ngày 25/12/2012 của UBND thành phố N về việc cho thuê đất để trồng rừng đối
với bà Hồ Thị S3.
1.3. Hủy các văn bản trả lời đơn của UBND thành phố N: số 4987/UBND-TNMT
ngày 21/6/2019, số 3675/UBND-TNMT ngày 27/5/2020, số 7545/UBND-
TNMT ngày 05/10/2020, số 1406/UBND-TNMT ngày 10/3/2021, số
6112/UBND-TNMT ngày 15/9/2021 và công văn hướng dẫn số 4010/UBND-
Ttra ngày 14/6/2022.
2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ái L.
2.1. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ái L buộc UBND thành phố N cấp lại
GCNQSDĐ mà bà Nguyễn Thị Ái L đã thuê.
2.2. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ái L buộc UBND thành phố N phải bồi
thường thiệt hại cho bà L số tiền 604.560.000đ (Sáu trăm linh bốn triệu năm
trăm sáu mươi ngàn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí; chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/01/2024, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa kháng cáo bản án sơ
thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ái L.
Ngày 26/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa có
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 36/QĐ-VKS-HC, kháng nghị phúc thẩm
đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 12/01/2024 đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
bà Nguyễn Thị Ái L.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Người bị kiện giữ nguyên nội dung kháng cáo; người khởi kiện giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện; các bên đương sự không đối thoại được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
- Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giữ
nguyên kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều
241 của Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận kháng cáo của người bị kiện; chấp
nhận kháng nghị và sửa Bản án hành chính sơ thẩm để bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bà Nguyễn Thị Ái L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
15
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm
tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Ngày 25/01/2024, người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa kháng cáo bản án sơ
thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm để bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ái L; ngày 26/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Khánh Hòa có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 36/QĐ-VKS-
HC. Đơn kháng cáo của đương sự, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Khánh Hòa là trong thời hạn quy định tại các Điều 206 và Điều
213 của Luật Tố tụng hành chính, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
thành phố N; Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh
Hòa:
[2.1]. Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Ái L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định hành chính:
Quyết định số 1650/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành phố N về việc
thu hồi GCNQSDĐ số CH02387 ngày 18/9/2017 do UBND thành phố N cấp cho
bà Hồ Thị S3; Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 của UBND thành
phố thành phố N về việc điều chỉnh diện tích cho thuê đất tại Quyết định số
5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của UBND thành phố N về việc cho thuê đất
để trồng rừng đối với bà Hồ Thị S3; các Văn bản trả lời đơn của Chủ tịch UBND
thành phố N: số 4987/UBND-TNMT ngày 21/6/2019, số 3675/UBND-TNMT
ngày 27/5/2020, số 7545/UBND-TNMT ngày 05/10/2020, số 1406/UBND-
TNMT ngày 10/3/2021, số 6112/UBND-TNMT ngày 15/9/2021 và Công văn
hướng dẫn số 4010/UBND-Ttra ngày 14/6/2022; yêu cầu bồi thường
604.560.000 đồng do bà không tiến hành được việc trồng rừng theo dự án được
duyệt mà đáng ra đã trồng cây và khai thác một đợt để có thu nhập. Do đó, đối
tượng bị kiện là các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai về thu
hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hành vi hành chính về việc không giải
quyết khiếu nại, văn bản trả lời đơn và yêu cầu bồi thường thiệt hại nên thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng
thẩm quyền quy định tại Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố
tụng hành chính.
[2.2]. Về nội dung:
[2.2.1]. Xét trình tự, thủ tục xin giao đất lập dự án trồng rừng của bà Hồ Thị S3.
16
Do có nhu cầu thuê đất để trồng rừng, năm 2009, bà Hồ Thị S3 đã gửi đơn đến
UBND thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xin thuê đất. Tại Thông báo số 571/TB-
UBND ngày 28/11/2011, UBND thành phố N: “Giao UBND xã V tiếp nhận đơn
xin giao đất của hộ bà Hồ Thị S3 và tổ chức thực hiện theo quy định tại Điều 1
Nghị định số 38/2011/NĐ-CP 26/5/2011 của Chính phủ. Lưu ý: Khi kiểm tra
thực địa, mời phòng T, Hạt Kiểm lâm, Cơ quan Quân sự thành phố N, Sở T2,
thôn trưởng và người dân cư trú tại địa phương biết rõ về nguồn gốc đất để xác
định phạm vi, vị trí xin giao đất của hộ bà Hồ Thị S3 đã có trường hợp nào khác
đang sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận.
Không xem xét giao đất, cho thuê đất đối với phần diện tích chồng lấn với nghĩa
trang, đất bị khống chế bởi độ cao do cơ quan quân sự quản lý cho mục đích
quốc phòng, đất các hộ gia đình, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã
khai hoang và đang sử dụng”.
Ngày 20/12/2011, bà Hồ Thị S3 nộp hồ sơ xin thuê đất nông nghiệp để trồng
rừng tại khu vực núi G, thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; diện tích đất
thuê là 124.170m
2
; thời hạn xin thuê là 50 năm; được UBND xã V xác nhận “Có
nhu cầu sử dụng đất; về khả năng quỹ đất để cho thuê: đất lâm nghiệp do Nhà
nước quản lý khuyến khích trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc”.
Ngày 06/01/2012, UBND xã V đã có biên bản kiểm tra thực địa về hiện trạng và
nguồn gốc sử dụng đất: “ ...Cây cỏ, cây bụi, và một số cây gỗ rải rác, ngoài ra
còn có một số cây bạch đàn chưa xác định chủ sử dụng”. UBND xã V đã thông
báo niêm yết công khai đối với phần đất cho bà Hồ Thị S3 thuê. Ngày 05/3/2012,
UBND xã V có báo cáo số 78/BC/UB gửi UBND thành phố N, Phòng Tài nguyên
và Môi trường, với nội dung: “... Diện tích đất bà Hồ Thị S3 xin giao đất trồng
rừng, qua kiểm tra hiện trạng đối chiếu hồ sơ địa chính là đất ngoài lâm nghiệp
do UBND xã quản lý, hiện trạng trên đất có một số cây bạch đàn chưa xác
định chủ sử dụng....
UBND xã đề xuất: Để khuyến khích hộ bà Hồ Thị S3 lập dự án phủ xanh đồi núi
trọc, UBND xã đề nghị cho hộ lập hồ sơ thuê đất theo quy định. Tuy nhiên phải
làm rõ diện tích đất do UBND xã quản lý và diện tích đất do Quân sự quản lý.”
Tại Quyết định số 5232/QĐ-UBND ngày 25/12/2012, UBND thành phố N đồng
ý cho bà Hồ Thị S3 được thuê diện tích 124.170m
2
,mục đích sử dụng là đất trồng
rừng sản xuất, thời hạn thuê 10 năm. Bà S3 đã được UBND thành phố N cho thuê
thửa đất số 234, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại: khu vực Núi G, thôn T, xã V, thành
phố N để lập dự án trồng rừng theo Hợp đồng thuê đất số 01/2013 ngày
26/4/2013, diện tích 124.170m
2
, thời hạn thuê 40 năm (Có bản trích đo địa chính
khu đất do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố N thực hiện ngày
19/01/2011, biên bản cắm mốc định vị và giao đất thực địa ngày 07/5/2013).
17
Ngày 06/8/2015, UBND thành phố N đã cấp GCNQSDĐ số CH01592/22402 cho
bà Hồ Thị S3.
Ngày 04/5/2017, bà Hồ Thị S3 có đơn đăng ký biến động đất đai, đề nghị cấp đổi
GCNQSDĐ, với lý do: chuyển từ hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng
năm sang hình thức cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.
Ngày 18/9/2017, UBND thành phố N cấp GCNQSDĐ số CH02387 cho bà Hồ
Thị S3, với diện tích: 124.170m
2
, thời hạn thuê đất 40 năm, nguồn gốc sử dụng:
Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần.
Ngày 26/9/2017, bà Hồ Thị S3 ký hợp đồng chuyển giao quyền thuê đất cho bà
Nguyễn Thị Ái L. Ngày 23/10/2017, bà Hồ Thị S3 và bà Nguyễn Thị Ái L đã hoàn
thành nghĩa vụ tài chính theo giấy nộp tiền số 2221149 và 2221159 theo Thông
báo số 16104/17/CCT-TB-LPTB và số 16104/17/CCT-TB-TNCN ngày
12/10/2017 của Chi cục Thuế thành phố N.
Do đó, có căn cứ xác định UBND thành phố N đã cho bà S3 thuê đất. Quá trình
thẩm định hồ sơ cho thuê lại quyền sử dụng đất từ bà S3 sang cho bà L đối với
thửa đất số 234, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại khu vực Núi G, thôn T, xã V, thành
phố N cho thấy từ khi tiếp nhận hồ sơ, Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 không nhận
được bất cứ đơn thư tranh chấp khiếu nại nào liên quan đến thửa đất trên.
[2.2.2]. Xét vị trí phần diện tích 124.170m
2
theo hồ sơ dự án trồng rừng của bà
Hồ Thị S3 có bị chồng lấn hay không, thấy rằng:
Hồ sơ vụ án thể hiện các phần diện tích đất UBND thành phố N đã cấp
GCNQSDĐ cho các hộ ông Trương S6, Nguyễn Thanh S7, Hồ Tấn L3, Nguyễn
Văn H3, Phạm Thị L4, Phạm Thị T theo Chương trình trồng rừng PAM-327 (bút
lục từ 421- 425) không thể hiện số khoảnh, thuộc tiểu khu E.
Người khởi kiện cho rằng theo tờ bản đồ lâm nghiệp số 6 và tờ bản đồ lâm
nghiệp số 8, tỷ lệ 1:10.000, đo vẽ và in năm 1989 tại nhà máy in 2, Đ Cục bản
đồ - B.T.T.M, thể hiện: Phần vị trí các lô đất của bà Phạm Thị T và bà Trần Thị
Lan A đã nhận chuyển nhượng, theo hồ sơ ban đầu của các hộ ông Trương S6,
Nguyễn Thanh S7, Hồ Tấn L3, Nguyễn Văn H3, Phạm Thị L4, Nguyễn Văn Đ1 xin
khai thác rừng theo Chương trình PAM - 327. Sau đó, bà Trần Thị Lan A đã
chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trần Chí D1 thì đều nằm ngoài vị trí đất mà
Nhà nước cho bà S3 (L) thuê.
Tuy nhiên, theo “Sơ đồ khu đất” do Văn phòng Đ - Chi nhánh thành phố N1 lập
ngày 09/01/2019, thể hiện phần đất của bà S3 chồng lấn với đất bà Trần Thị Lan
A, bà Phạm Thị T là 20.499,7m
2
; tại Trích đo địa chính thửa đất do Công ty
TNHH Đ2 lập ngày 13/6/2023 phục vụ cho công tác xét xử của Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa, thể hiện trên thửa đất của bà S3 được cho thuê chồng lấn lên
18
phần đất ông Nguyễn Trần Chí D1 (nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị Lan A và
bà Phạm Thị T) đang quản lý, sử dụng là 26.923m
2
, chênh lệch hơn 6.500m
2
.
Theo Trích đo địa chính khu đất Dự án trồng rừng do Văn phòng đăng ký đất đai
Chi nhánh thành phố N lập ngày 19/01/2011 thì hoàn toàn không thể hiện có sự
chồng lấn đất với phần đất các hộ có tên nêu trên sử dụng; đồng thời vị trí diện
tích đất giao cho hộ bà S3 có ranh giới cách dự án T khoảng cách từ 33,9 đến
45,6m.
Tại Văn bản số 1250/UBND ngày 12/9/2023, UBND xã V trình bày “… đối
chiếu sơ đồ khu đất do Văn phòng Đ - Chi nhánh N1 lập ngày 09/01/2019,
UBND xã xác định 03 thửa 1, 2, 3 tương ứng 01 phần diện tích thửa số 37, 32 tờ
số 1 bản đồ lâm nghiệp xã V (có tên trong sổ mục kê 2008 do ông Phan H1 kê
khai) là do các hộ họ H2 (gồm Hồ Xuân L2, Hồ Văn S2, Hồ Xuân L1, Hồ Thị C2,
Hồ Văn S1, Hồ Văn C1) đã khai hoang và quản lý sử dụng đất từ năm 1995,
1996 đến nay có phần chồng lấn 87.040,3m
2
….”. Nhưng nội dung này mâu
thuẫn với Văn bản số 1549/TNMT ngày 08/3/2019 của Phòng Tài nguyên và Môi
trường thành phố N xác định thời gian sử dụng và canh tác của các hộ dân nêu
trên sau năm 2008. Những mâu thuẫn trên chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xác
minh làm rõ.
Tại Công văn số 706/HKL - QLBVR&BTTN ngày 27/11/2023 của Hạt Kiểm
lâm N2: “Hiện tại 02 (hai) tờ bản đồ lâm nghiệp số 06 và số 08, tỷ lệ 1:10.000,
đo vẽ và in năm 1989, tại nhà máy in 2 Đ Cục Bản đồ - B.T.T.M hiện đang được
lưu giữ tại Hạt Kiểm lâm N2. Tuy nhiên, 02 (hai) tờ bản đồ này trước đây được
sử dụng để đo vẽ ngoài thực địa nên không có đóng dấu của đơn vị. Vì vậy, Hạt
Kiểm lâm N2 không thể chứng thực hai tài liệu (02 (hai) tờ bản đồ)) nêu trên
được và chỉ cung cấp 02 (hai) tờ bản đồ số 06 và 08 bản photocopy”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án cùng
những lời khai của các bên đương sự còn có nhiều mâu thuẫn trong việc xác
định vị trí đất bà S3 được UBND thành phố N cho thuê có bị chồng lấn với đất
do các hộ ông Nguyễn Trần Chí D1, bà Triệu Thị L5, bà Trần Thị Vân A2 sử dụng
cũng như thời điểm sử dụng đất của những hộ dân này. Đây là vấn đề mấu chốt
để xác định tính hợp pháp trong quá trình cho thuê đất, điều chỉnh diện tích đất
thuê, việc thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho bà S3 (hiện nay là bà Nguyễn Thị Ái
L). Tuy nhiên, những mâu thuẫn và tài liệu nêu trên cấp phúc thẩm không thể
thu thập hay bổ sung làm rõ được. Để có điều kiện xác minh, thu thập tài liệu,
chứng cứ bảo đảm giải quyết triệt để vụ án cũng như bảo đảm quyền, lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ
vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa để giải quyết lại. Do đó, kháng cáo
của người bị kiện, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Khánh Hòa có cơ sở chấp nhận một phần.
19
[3]. Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên các đương sự có kháng cáo không
phải chịu án phí phúc thẩm, nghĩa vụ nộp tiền án phí được xác định lại khi Tòa
án cấp sơ thẩm giải lại vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính:
Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chấp nhận một phần
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 36/QĐ-VKS-HC ngày 26/01/2024 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa; hủy toàn bộ Bản án hành
chính sơ thẩm số 02/2024/HC-ST ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh
Khánh Hòa; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại.
2. Về án phí phúc thẩm: căn cứ khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính;
áp dụng khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố N không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho Ủy ban nhân dân thành
phố N, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, mỗi đương sự 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm số
0000400 và 0000399 ngày 11/3/2024 và 08/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự
tỉnh Khánh Hoà.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDTC - Vụ Giám đốc, kiểm tra II; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Khánh Hòa (kèm hồ sơ vụ án);
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- Cục THA dân sự tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự (theo địa chỉ);
- Lưu: H/sơ vụ án, Phòng HCTP, LTHS.
Nguyễn Chí Công
20
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm