Bản án số 38/2026/HS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 38/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 38/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 38/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 38/2026/HS-PT ngày 02/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 38/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 02/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bản án số 38 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 38/2026/HS-PT
Ngày: 02 - 4 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Minh Tuân
Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản
Ông Nguyễn Thế Doanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét
xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số 123/2025/TLPT-HS ngày 03
tháng 11 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với bản án
hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
5 - Thái Nguyên.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/5/1983; tại tỉnh Hải
Dương; Nơi cư trú: L, thôn P, xã P, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; nghề
nghiệp: Lái xe; con ông: Nguyễn Văn B và con bà Nguyễn Thị H; Vợ: Nguyễn
Thị H1; Con: Có 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án HSST số 30 ngày 24/10/2002 của Toà án nhân dân
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 bộ luật hình sự. Thi hành xong
bản án ngày 28/8/2004.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 22/01/2025
được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên
tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Hải H2, Công ty L –
Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)
Trong vụ án này còn có các bị cáo Hoàng Đình Đ, Vũ Minh Đ1 và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án
không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/01/2025, Nguyễn Văn T đến khu vực cửa khẩu biên giới L1
thuộc tỉnh Sơn La mua được 30 giàn pháo hoa nổ, có tổng trọng lượng 44,9 kg
của người không quen biết với giá 15.000.000 đồng rồi gọi điện thoại qua mạng
Zalo cho Hoàng Đình Đ để giao bán với giá 900.000 đồng/1 giàn. Sau đó Đ gọi
điện thoại cho Vũ Minh Đ1 thoả thuận bán với giá 1.000.000 đồng/1 giàn, Đ1
đồng ý và chuyển khoản đặt cho Đ 10.000.000 đồng. Sau khi thoả thuận khoảng
12 giờ ngày 08/01/2025, T thuê xe taxi của anh Trần Văn T1, sinh năm 1983, trú
tại: Khu phố M, phường P, tỉnh Bắc Ninh vận chuyển lên nhà Vũ Minh Đ1
thuộc xóm H, xã L, tỉnh Thái Nguyên bán cho Đ1 thì bị tổ công tác của Công an
huyện V, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang.
Cùng ngày Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Vũ Minh Đ1 phát hiện,
thu giữ tại gian phòng ngủ của Đ1 0,6 kg pháo nổ, mục đích tàng trữ để bán
kiếm lời; 0,329 gam Ketamine và 0,865 gam MDMA, Đ1 mua để sử dụng cho
bản thân.
Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 26/9/2025 Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Thái Nguyên đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán
hàng cấm”.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm)
năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ đi thời gian
tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày 22/01/2025.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với bị cáo
Hoàng Đình Đ và bị cáo Vũ Minh Đ1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo bản án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/10/2025 các bị cáo Nguyễn Văn T và
Hoàng Đình Đ có đơn kháng; bị cáo T kháng cáo xin được áp dụng hình phạt
tiền; bị cáo Đ xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, bị cáo Hoàng Đình Đ có đơn xin rút toàn bộ
kháng cáo, Tòa án đã ra thông báo về việc rút kháng cáo theo quy định tại khoản
2 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Tuy thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo
chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án
sơ thẩm đã quy kết.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Xét khác cáo của bị cáo Nguyễn Văn T: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị
cáo về tội Buôn bán hàng cấm, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ
luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm
đã xem xét về nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị cáo, mức án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là có căn cứ. Tại cấp
phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện ngày 16/01/2026 bị cáo T đã phát
3
hiện Đoàn Viết T2 có hành vi mua bán hàng cấm và đã báo với Công an phường
P, tỉnh Bắc Ninh thu giữ của Thiệu 06 hộp pháo hoa nổ; hiện Đoàn Viết T2 đã bị
Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tàng trữ hàng cấm; ngoài ra
bị cáo cung ngoài ra bị cáo cung cấp biên lai nộp số tiền 20.200.000 đồng là tiền
phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm, vì vậy bị cáo được
hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản
1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị
cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản
1 Điều 357 BLTTHS; sửa án sơ thẩm, căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s,
t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 đến 03 năm tù.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo,
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo đã nộp số tiền 20.200.000 đồng là
tiền phạt bổ sung và án phí, đây là ý thức khắc phục hậu quả vụ án, ngoài ra tại
địa phương bị cáo có nhiều đóng góp được ghi nhận, hiện tại bị cáo đang mắc
bệnh về gan nên sức khỏe yếu, đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo
được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm sau khi đối đáp với ý kiến
đề nghị của Luật sư.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T gửi
trong thời hạn và đúng theo thủ tục quy định nên được chấp nhận xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T
về tội Buôn bán hàng cấm, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật
hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu
thể hiện ngày 16/01/2026 bị cáo T đã phát hiện Đoàn Viết T2 có hành vi mua
bán hàng cấm và đã báo với Công an phường P, tỉnh Bắc Ninh thu giữ của Thiệu
06 hộp pháo hoa nổ; hiện Đoàn Viết T2 đã bị Cơ quan điều tra khởi tố vụ án,
khởi tố bị can về tội Tàng trữ hàng cấm; ngoài ra bị cáo cung cấp biên lai nộp số
tiền 20.200.000 đồng là tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án
sơ thẩm, vì vậy bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự quy định tại điểm t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có căn cứ
chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng nên có căn cứ áp dụng Điều
54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt bị cáo bị truy tố, xét xử cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
4
[3]. Về án phí do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận,
đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ
chấp nhận, về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa bản án hình sự
sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 -
Thái Nguyên.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s, t khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo
Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp
hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến ngày
22/01/2025.
2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án; bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 20.200.000 đồng, tại các biên lai thu tiền
số 0000518, ngày 06/10/2025 và Biên lai số 0000324, ngày 02/4/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST
ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thái Nguyên, có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 5;
- VKSND khu vực 5;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Công an tỉnh Thái Nguyên;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Minh Tuân
5
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Bản án số 325/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm