Bản án số 37/2019/DS-PT ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Hải Dương
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 37/2019/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 37/2019/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 37/2019/DS-PT ngày 24/09/2019 của TAND tỉnh Hải Dương |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hải Dương |
| Số hiệu: | 37/2019/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà H là chị ruột ông V. Do vợ chồng ông V, bà K cần vốn làm ăn nên bà H đã hai lần cho ông V, bà K vay tiền |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 37/2019/DS-PT
Ngày: 24-9-2019
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quyết và bà Phạm Thị K Thiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Đàm Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 31/2019/TLPT-DS ngày 24
tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất, do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày
03 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương bị kháng
cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33/2019/QĐXX-PT ngày
02 tháng 8 năm 2019 và các Quyết định hoãn phiên tòa, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thu H, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số nhà X, phố Y, phường Z, thành phố H, tỉnh Hải Dương, có
mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Phạm
Khắc D - Văn phòng luật sư B - Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Minh K,
sinh năm 1970.
Địa chỉ: Thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương (Ông V ủy quyền cho bà
K tham gia tố tụng), bà K có mặt;
3. Người có quyền lợi liên quan: Chi cục Thi hành án dân sự huyện T,
tỉnh Hải Dương;
Địa chỉ: Khu 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh C - Chi cục trưởng;
người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Công K - Chấp hành viên; có mặt.
4. Người kháng cáo: Bà Hoàng Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là bà Hoàng Thu H, bị đơn là ông Hoàng Văn V và bà
Nguyễn Thị Minh K trình bày thống nhất:
Bà H là chị ruột ông V. Do vợ chồng ông V, bà K cần vốn làm ăn nên bà
H đã hai lần cho ông V, bà K vay tiền: Lần thứ nhất vào ngày 02/3/2012, bà H
cho ông V, bà K vay 900.000.000 đồng. Lần thứ hai vào ngày 20/01/2013, bà H
cho ông V, bà K vay 2.200.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận gộp số tiền vay
lần thứ nhất và lần thứ hai với nhau để viết thành Hợp đồng cho vay tài sản, có
chữ ký của bên cho vay là bà H, bên vay là ông V, bà K, người làm chứng là bà
Hoàng Thị F. Theo đó, bà cho vợ chồng ông V, bà K vay 3.100.000.000 đồng,
thời hạn vay 05 năm kể từ ngày 20/01/2013, lãi suất cho vay theo lãi suất của
Ngân hàng, mục đích vay để ông V, bà K kinh doanh. Tại mục 6.3 của Hợp
đồng thể hiện: Nếu hết thời hạn vay, ông V, bà K không trả được nợ thì ông V,
bà K dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên ông V, bà K tại thửa đất số 390, tờ bản đồ số 22,
địa chỉ thửa đất thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương với diện tích 55,7 m
2
để
thanh toán khoản vay cho bà H. Do ông V và bà K không trả được nợ nên ngày
22/02/2018, ông V, bà K viết giấy bán toàn bộ nhà và đất nêu trên cho bà H. Vì
tại thời điểm ngày 22/02/2018, quyền sử dụng đất ông V và bà K đang thế chấp
tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh
huyện T, nên ngày 23/02/2018 bà H tiếp tục trả nợ thay cho ông V, bà K
280.000.000 đồng để giải chấp và bà H quản Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của ông V, bà K cho đến nay. Tổng số tiền, bà cho bà K, ông V vay là
3.380.000.000 đồng.
Ngày 03/10/2018, bà và ông V, bà K lập và ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Bùi Văn Q; Địa chỉ: tại số 201,
phố Đ, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Ngày 24/10/2018, tại văn
phòng Công chứng Bùi Văn Q, hai bên cùng thống nhất lập văn bản hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên vì quyền sử dụng đất đang bị
Chi cục Thi hành án dân sự huyện T kê biên để thi hành nghĩa vụ trả tiền của
ông V và bà K đối với những người khác theo các bản án, quyết định của Tòa
án.
Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được xác lập giữa bà và ông V,
bà K ngày 22/02/2018 đối với diện tích 55,7 m
2
tại thửa 390, tờ bản đồ số 22,
địa chỉ thửa đất thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương, buộc ông V, bà K phải
bàn giao nhà và đất nêu trên cho bà. Ông V và bà K đồng ý với toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
3
Đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Hải Dương trình bày:
Chi cục Thi hành án huyện T đang tổ chức thi hành Bản án số
02/2018/DS-ST ngày 17/4/2018, các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự số 02/2018/QĐST-DS ngày 26/4/2018, số 03/2018/QĐST-DS
ngày 16/5/2018, số 04/2018/DS-ST ngày 16/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh Hải Dương. Theo các Bản án và các Quyết định trên, ông V, bà K phải
thi hành nghĩa vụ trả nợ đối với ông Nguyễn Đăng P, bà Nguyễn Thị Q, bà
Phạm Thị S, bà Nguyễn Thị E tổng số tiền là 1.399.000.000 đồng, lãi suất chậm
thi hành án và án phí.
Quá trình đôn đốc, xác minh điều kiện thi hành án, Chi cục Thi hành án
xác định ông V, bà K có quyền sử dụng thửa đất số 390, tờ bản đồ số 22, diện
tích 55,7 m
2
tại thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
mang tên ông V, bà K. Xác minh tại UBND xã V và Phòng Tài nguyên môi
trường huyện T thì toàn bộ diện tích đất và nhà của ông V, bà K do ông V, bà K
đang quản lý và sử dụng, chưa làm thủ tục chuyển nhượng, đăng ký giao dịch
đảm bảo ở bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Bà K và ông V khẳng định nhà đất là
của ông bà do ông bà mua và tạo dựng lên, không tranh chấp và chưa chuyển
nhượng cho ai. Do ông V, bà K không tự nguyện thi hành án nên Chi cục Thi
hành án đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-CCTHADS ngày 02/8/2018 và tiến
hành cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên
của ông V và bà K để xử lý theo Điều 71 Luật Thi hành án sửa đổi, bổ sung
2014. Thủ tục kê biên, xử lý tài sản thực hiện đúng quy định của pháp luật về thi
hành án. Sau khi có quyết định cưỡng chế kê biên, bà H có đơn trình bày về việc
ông V, bà K có vay của bà 3.100.000.000 đồng và cung cấp Hợp đồng cho vay
tài sản ngày 20/01/2013 giữa bà H và vợ chồng ông V, bà K. Chi cục thi hành án
dân sự huyện T đã hướng dẫn bà H khởi kiện đến Tòa án để giải quyết theo quy
định của pháp luật. Bà H tiếp tục có ý kiến yêu cầu tạm dừng thủ tục thi hành án,
Chi cục thi hành án đã có văn bản trả lời bà H xác định bà không phải là đương
sự liên quan đến việc thi hành án và tiếp tục tiến hành các thủ tục, trình tự giải
quyết việc thi hành án đối với nhà đất của ông V, bà K theo quy định của pháp
luật. Ngày 19/10/2018, Chi cục thi hành án đấu giá tài sản đã kê biên. Bà
Nguyễn Thị L, sinh năm 1973, địa chỉ thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương là
người trúng đấu giá.
Sau khi phát hiện Văn phòng công chứng Bùi Văn Q có hành vi công
chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với vợ chồng ông
V, bà K đối với thửa đất đang được kê biên để thi hành án, Chi cục thi hành án
huyện T đã có văn bản kiến nghị đến Sở tư pháp, Công an thành phố Hải
Dương, Công an huyện T để xem xét dấu hiệu và hành vi vi phạm của bà H, ông
V, bà K và văn phòng công chứng Bùi Văn Q. Chi cục thi hành án xác định việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng ông
V bà K với bà H là trái pháp luật, nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ dân sự đối
với người thứ ba, đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà H.

4
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 03/5/2019, Tòa án
nhân dân huyện T quyết định: Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, 266,
273 Bộ luật Tố tụng dân sự; §iÒu 124, 407, 429, 500, 501, 502, 503 Bé luËt
D©n sù; Khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật đất đai; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc Hội quy định
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H. Ngoài ra bản án còn
tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/5/2019, bà H kháng cáo đề nghị Tòa án tỉnh Hải Dương chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và trình
bày: Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân huyện T chỉ xác định nghĩa
vụ trả tiền của ông V, bà K với những người khác mà không quyết định gì liên
quan đến quyền sử dụng đất và nhà ở của ông V, bà K. Tại thời điểm bà H và
ông V, bà K lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng
công chứng Bùi Văn Q ngày 03/10/2018, Văn phòng công chứng đã kiểm tra
nhưng không có việc ngăn chặn chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang tranh
chấp. Vì vậy, Văn phòng công chứng mới thực hiện việc công chứng hợp đồng.
Việc bà và ông V, bà K hủy hợp đồng chuyển nhượng đã lập ngày 03/10/2018 là
do chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước trong lúc chờ giải quyết
tranh chấp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội
đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo
hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng thời kiến
nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét hủy kết quả bán đấu giá tài sản của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện T đối với tài sản đang tranh chấp.
Bị đơn trình bày ý kiến như đã trình bày ở trên và đề nghị Hội đồng xét
xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 22/02/2018
giữa nguyên đơn và bị đơn.
Đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Xét kháng cáo của bà Hoàng Thu H:
Tại điểm 6.3 Điều 6 Hợp đồng vay tài sản ngày 20/01/2013 bà H và vợ
chồng ông V, bà K có thỏa thuận: Nếu hết thời hạn cho vay mà ông V, bà K
không trả được tiền cho bà H thì ông V, bà K đồng ý dùng quyền sử dụng thửa

5
đất số 390, tờ bản đồ số 22, địa chỉ xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương, diện tích
55,7 m
2
của ông V và bà K để thanh toán khoản vay cho bà H. Tuy nhiên, các
bên đều xác định đây không phải là thỏa thuận thế chấp tài sản và thực tế các
bên không thực hiện điều khoản này, vì từ ngày 27/3/2013 ông V, bà K đã thế
chấp toàn bộ quyền sử dụng đất trên để vay tiền của Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện T. Vì vậy, Ngày 22/02/2018, bà
H và ông V, bà K đã viết “Giấy bán nhà” với nội dung: Ông V, bà K chuyển
nhượng toàn bộ thửa đất số 390, tờ bản đồ số 22, diện tích 55,7m
2
tại thôn R, xã
V, huyện T, tỉnh Hải Dương và nhà ở, công trình xây dựng trên đất với giá
3.380.000.000đồng, bằng số tiền ông V, bà K vay của bà H. Đây là Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Đánh giá tính hợp
pháp của hợp đồng nêu trên, Hội đồng xét xử thấy:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 22/02/2018 giữa vợ chồng ông V, bà K với bà H được lập thành văn bản,
không có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tại khoản 1Điều 502 Bộ luật Dân sự quy định: Hợp đồng về quyền sử dụng đất
phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật
Dân sự, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Điểm
a Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai quy định: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực. Như
vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và vợ chồng ông V,
bà K là hợp đồng vi phạm quy định của pháp luật về hình thức. Mặc dù, ngày
03/10/2018, bà H và ông V, bà K đã lập và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Bùi Văn Q và được Văn phòng công
chứng Bùi Văn Q công chứng hợp đồng. Tuy nhiên việc công chứng đó được
thực hiện sau khi có Quyết định kê biên quyền sử dụng đất nói trên của Chi cục
thi hành án dân sự huyện T và ngày 24/10/2018, tại văn phòng Công chứng Bùi
Văn Q các bên đã lập văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nói trên. Những tài liệu này phát sinh sau khi khởi kiện và đã được hủy bỏ nên
không có giá trị về mặt pháp lý.
Tại thời điểm ngày 22/02/2018, ông V, bà K có vay tiền Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T và quyền sử dụng
thửa đất nêu trên của ông V, bà K đang được thế chấp để đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng. Vì vậy, ông V, bà K chuyển nhượng cho
bà H quyền sử dụng đất là tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng là vi phạm điều
cấm quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu
lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Theo Phòng tài nguyên môi trường
huyện T cung cấp: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông V,
bà K chưa làm thủ tục đăng ký, bản thân các đương sự cũng thừa nhận việc này.

6
Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và ông V, bà
K chưa phát sinh hiệu lực trên thực tế. Chỉ đến khi Chi cục thi hành án dân sự
huyện T ban hành Quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất đối với thửa 399, tờ bản đồ số 22 của gia đình ông V, bà K vào
ngày 02/8/2018 để thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông V, bà K đối với người khác
thì bà H mới trình bào việc vay mượn của ông V, bà K đối với mình và xuất
trình Hợp đồng cho vay tài sản ngày 20/01/2013 và Giấy bán nhà ngày
22/2/2018.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 22/02/2018 giữa bà Hồng và ông V, bà K vi phạm về hình thức, vi phạm
điều cấm của pháp luật là hợp đồng vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng
ngày 22/02/2018 là phù hợp. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng
cáo của bà H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2]. Về án phí: Bà H là người cao tuổi có đề nghị miễn án phí nên Hội
đồng xét xử miễn án phí phúc thẩm cho bà H theo điểm đ Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc Hội quy định
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thu H, giữ nguyên bản án
dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST ngày 03/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh Hải Dương.
Căn cứ Điều 117, Điều 123, Điều 124, Điều 407, Điều 502 Bộ luật Dân sự;
điểm a khoản 3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 Luật đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
tH vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án, xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thu H về việc yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất được xác lập ngày 22/02/2018 giữa bà Hoàng Thu H và ông Hoàng Văn V,
bà Nguyễn Thị Minh K là hợp pháp; yêu cầu ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị
Minh K giao cho bà Hoàng Thu H quyền sử dụng 55,7 m
2
đất ở tại thửa 390, tờ
bản đồ số 22, tại thôn R, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương và tài sản gắn liền với
đất.
2.Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hoàng Thu H.
7
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
(24/9/2019).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- TAND huyện Thanh Hà;
- Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, TA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Hữu Hiệu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm