Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 36/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 36/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: BàThạnh là người được thi hành án kiện yêu cầu hùy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa người phải thi hanh á
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 36/2026/DS-PT
Ngày 15 - 01- 2026
V/v tranh chấp về yêu cầu hủy hợp
đồng chuyển nhượng QSDĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp
Bà Đỗ Thị Nhung
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà:
Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 m 2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công
khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ số 422/2025/TLPT-DS ngày 31/10/2025 v
"Tranh chấp về u cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản
án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân
dân huyện Vĩnh Cửu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 515/2025/QĐPT-DS ngày
14/11/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị Ngọc T, sinh năm 1972; địa chỉ: Snhà E,
đường T, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Tạ Văn V, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, huyện
N, tỉnh Đồng Nai, nay là ấp B, xã P, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông V: Ông Đinh Công T1, sinh năm 1981;
địa chỉ: 2, Khu phố E, phường T, thành phố B (nay là khu phố T, phường T), tỉnh
Đồng Nai. Số điện thoại: 0945.220.568 (Theo Hợp đồng ủy quyền số chứng thực
85, quyển số 01/2023-SCT/HĐ,GD ngày 05/7/2023 của UBND phường Q, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai). (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Trung H, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện V (nay là khu
phố Ô, phường T), tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trung H (từ ngày 25/6/2025):
Hải Thị L, sinh năm 1987; nơi trú: tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B (nay
là phường T), tỉnh Đồng Nai; địa chỉ liên hệ: 132, T, khu phố B, phường T, thành
phố B (nay là khu phố A, phường T), tỉnh Đồng Nai (Theo Hợp đồng ủy quyền số
công chứng 02414 quyển số 03/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/6/2025 của Văn
phòng C1). (có mặt)
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đ; địa chỉ: Trụ sở C2, khu phố N, phường
H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện V; địa chỉ: Khu B, ấp B, B, huyện
V, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
4. Người kháng cáo: người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trung
H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai nguyên đơn và người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Lê P trình bày:
Căn cứ Bản án số 02/DSPT ngày 05/01/2018 của TAND tỉnh Đồng Nai
Quyết định số 27/QĐ-CCTHA ngày 10/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Vĩnh Cửu thì ông Tạ Văn V chủ doanh nghiệp nhân V1 phải trách
nhiệm thanh toán lại cho bà T số tiền 5.236.000.000 (năm tỷ hai trăm ba mươi sáu
triệu) đồng và lãi suất chậm thi hành án. Sau khi bản án hiệu lực pháp luật thi
hành, bà T đã yêu cầu thi hành án. Sau khi cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác
minh, xác định ông V có tài sản để thi hành ánthửa đất số 56 tờ bản đồ số 45
T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai tiến hành xác minh, áp dụng biện pháp bảo đảm ban hành Quyết định
biên thửa đất số 56 tờ bản đồ số 45 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thửa đất này có
diện tích 907m
2
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 155804, được
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/11/2015 cho ông Tạ Văn V. Khi
tổ chức thi hành án có tranh chấp nên Chấp hành viên mời ông Tạ Văn V làm việc
và ông trình bày ngày 04/6/2016 ông đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông
Trung H nhưng chưa đăng làm thủ tục sang tên cho ông Lê Trung H. Để đảm
bảo quyền lợi cho các bên đương sự và người liên quan, Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Vĩnh Cửu đã thông báo cho đương sự quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết. T u cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng số 1404, quyển số
02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD được Phòng C3 chứng thực ngày 04/6/2016. Không
yêu cầu giải quyết hậu quả của hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Đinh Công T1 trình bày:
Ông Tạ Văn V ông Trung H kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số công chứng 1404, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
04/6/2016 của Phòng C3 giữa người chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Tạ Văn
V và người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất: ông Lê Trung H đối với diện
tích 907m
2
thuộc thửa đất số 56 tbản đồ số 45 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thửa
3
đất này được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BU 155804 ngày 10/11/2015 cho ông Tạ Văn V.
Ông đồng ý với trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
ông Dương P. Đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Hợp
đồng chuyển nhượng số 1404, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD được Phòng
C3 chứng thực ngày 04/6/2016. Không yêu cầu giải quyết hậu quả của hủy hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Người đại diện theo ủy quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Lê Trung H là ông Nguyễn Duy B trình bày:
Ông Tạ Văn V ông Trung H kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất số công chứng 1404, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
04/6/2016 của Phòng C3 giữa người chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Tạ Văn
V và người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất: ông Lê Trung H đối với diện
tích 907m
2
thuộc thửa đất số 56 tbản đồ số 45 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thửa
đất này được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BU 155804 ngày 10/11/2015 cho ông Tạ Văn V.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này giữa ông Tạ Văn V và ông
Trung H giả tạo. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không đề nghị giải quyết hậu
quả của việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
* Giáo hi Pht giáo Vit Nam tỉnh Đ:
Nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất: quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn
liền với đất của ông Trung H (nguyên Trụ trì Chùa T2) nhận chuyển nhượng
từ ông Tạ Văn V theo hợp đồng chuyển nhượng số 1404 ngày 04/6/2016 được xác
nhận hợp pháp ngay tình tại Văn phòng C4.
Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ QSD thuộc thửa đất số 56 tbản đồ số 45
được tiến hành chuyển nhượng từ ông Tạ Văn V cho ông Trung H vào ngày
04/6/2016 tại Văn phòng C4, bản chất giao dịch được thực hiện trước khi bản án
có hiệu lực pháp luật, quyền tài sản và định đoạt của ông H kể từ ngày 04/6/2016.
Ông H đã thực hiện thanh toán 100% giá trị của hợp đồng (mặc dù chưa sang tên)
nhưng thuộc quyền sử dụng, sở hữu của ông Lê Trung H, vì vậy yêu cầu khởi kiện
của T là không có căn cứ và sở. Đề nghị TAND huyện Vĩnh Cửu bác toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của bà T.
Đồng thời, Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đ đã có văn bản giao cho Ban Trị sự
GHPGVN huyện Vĩnh Cửu chính thức tiếp nhận, quản lý và điều hành Phật sự tại
Chùa T2. Tài sản của Chùa T2 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đ định đoạt.
Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Giáo H1, đề nghị:
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trung H
(nay là Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đ) và ông Tạ Văn V là hợp pháp.
4
- Công nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của
ông Lê Trung H đối với phần diện tích 907m
2
tại thửa đất số 56 tờ bản đồ số 45
T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Tại Bản án dân sự thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Cửu (nay Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai) đã quyết
định:
Chấp yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc T về việc “Tranh
chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Tạ Văn
V.
Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1404,
quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/6/2016 của Phòng C3 giữa người
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ông Tạ Văn V và người nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất: ông Lê Trung H đối với diện tích 907m
2
thuộc thửa đất số 56
tờ bản đồ số 45 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do vô hiệu.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng; nghĩa vụ
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 10/7/2025 người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Trung H đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn
bộ Bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Trung H giữ nguyên kháng cáo,
đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Tòa án từ
khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét
xử và các đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Do Tòa án cấp sơ thẩm có một số vi phạm thủ
tục tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ chưa đầy đủ: không đưa Phòng Thi hành
án khu vực 3 – Đồng Nai, Văn phòng C4, Chùa T2 vào tham gia tố tụng; chưa làm
mâu thuẫn trong lời khai giữa các đương smâu thuẫn lời khai trong chính
đương (lời khai ông V khi trình bày với cơ quan thi hành án và lời khai của người
đại diện theo ủy quyền của ông V tại Tòa mâu thuẫn nhau; lời khai các bên mâu
thuẫn với thực tế sử dụng đất) nên đnghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản 3 Điều
308, Điều 310 Bộ luật ttụng dân sự chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Trung H; hủy Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai để giải quyết lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
5
Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của ông Lê Trung H được thực hiện trong hạn luật định,
nội dung hình thức phợp với quy định tại các điều 271, 272 273 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung tranh chấp:
[2] Trong suốt quá trình tố tụng, cả phía nguyên đơn, bị đơn người liên
quan đều thừa nhận: vào ngày ngày 04/6/2016, ông Tạ Văn Vông Lê Trung H
có ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng này được Phòng
C3, quyển số 02/2016/TP/CC-SCC/HĐGD (sau đây gọi tắt là: hợp đồng chuyển
nhượng s1404) với nội dung cơ bản: ông Tạ Văn V đồng ý chuyển nhượng cho
ông Trung H quyền sử dụng diện tích đất 907m
2
thuộc thửa đất số 56, tbản đồ
số 45, toạ lạc tại T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, thửa đất này được Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BU 155804 ngày
10/11/2015 cho ông Tạ Văn V (BL 37-39). Ngày 05/01/2018, ông V phát sinh
nghĩa vụ phải hoàn trả cho T số tiền 5.236.000.000 đồng từ việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất theo Bản án số 02/2018/DS-PT ngày 05/01/2018 của Toà án
nhân dân tỉnh Đồng Nai. Do T yêu cầu thi hành án, qua xác minh tài sản thi hành
án của ông V, quan thi hành án phát hiện ông V thửa đất trên nhưng đã
hợp đồng sang tên cho ông H nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi được thông
báo, vào ngày 25/10/2021 bà T có đơn khởi kiện ông V, yêu cầu Toà án tuyên hợp
đồng chuyển nhượng số 1404 giữa ông V ông H hiệu, sau đó vào ngày
09/6/2022 bà T Đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tán huỷ hợp
đồng chuyển nhượng đất trên để tài sản thi hành cho khoản tiền 5.236.000.000
đồng (BL 130). Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện
được các bên thừa nhận nên không cần phải chứng minh.
[3] Xét kháng cáo của ông Trung H, Hội đồng xét xxét thấy: Toà án cấp
sơ thẩm tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất số 1404 “do vô hiệu” vì cho rằng
hợp đồng này giả tạo, được ông V ký kết nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả tiền cho
T. Nhưng, xét việc Toà án cấp thẩm quyết định như trên là chưa đủ căn cứ
vững chắc và việc giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm còn có những thiếu sót
và vi phạm thủ tục tố tụng, như:
[4] Hồ sơ vụ án thể hiện lời trình bày của các đương sự có nhiều mâu thuẫn
nhưng chưa được lấy lời khai, cho đối chất để làm rõ, cụ thể: tại “Biên bản về việc
giải quyết việc thi hành án” do Chấp hành viên Chi cục Thi hành án huyện V lập
lúc 09 giờ 20 phút ngày 25/11/2020, bị đơn ông V trình bày: “Hiện tại thửa đất số
56 tờ số 45. Diện tích 907m
2
, tọa lạc tại xã T, huyện V tôi đã chuyển nhượng cho
ông Lê Trung H từ ngày 04/6/2016, thửa đất hiện nay thuộc của chùa T2.”; người
liên quan ông H cũng trình bày: Thửa đất số 56 tsố 45 diện tích 907m
2
trước đây
vào năm 2015 do tôi mua lại của ông Thiệu P1. Về tiền mua đất do phật tử
của Chùa Đ, tại thời điểm đó để tiện cho việc giao dịch nên C đã nhờ ông V đứng
tên trong hợp đồng chuyển nhượng. Do thửa đất này đang nằm trong khuôn viên
đất của chùa, đang xin chủ trương quy hoạch đất tôn giáo, vì vậy tôi chưa làm thủ
tục sang tên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất….đây là tài sản của C.” (BL
6
531). Thế nhưng, tại phiên tòa thẩm ngày 21/5/2025 người đại diện theo ủy
quyền của ông V đồng ý tuyên hợp đồng chuyển nhượng số 1404 hiệu. Người
đại diện theo ủy quyền của ông H ông Nguyễn Duy B thì cũng trình bày mâu
thuẫn, thể hiện: tại Bản tự khai đề ngày 01/3/2022, ông B trình bày: “Nguyên vào
ngày 04 tháng 6 năm 2016 ông H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp
pháp từ ông Tạ Văn V…ông Trung H hiện đang là trụ trì của Chùa T2 ….mục
đích của việc chuyển nhượng …nhằm mrộng khuôn viên nhà chùa chuyển mục
đích sử dụng thành đất tôn giáo, đất của nhà chùa nên từ năm 2016 đến nay ông
H chưa làm thủ tục chuyển nhượng theo quy địnhyêu cầu Toà án công nhận
hợp đồng chuyển nhượng giữa ông V với ông H, ng nhận cho ông H được quyền
sử dụng đất (BL 105-106); tại phiên toà thẩm ngày 16/01/2025 ông B khẳng
định: phần đất này của Giáo hội Phật giáo” (BL 469) nhưng, tại phiên toà
thẩm ngày 21/5/2025 ông B lại trình bày: “Tôi thống nhất với lời trình bày của
nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng số 1404 ngày 04/6/2016 tại
Văn phòng công chứng…vô hiệu” (BL 632). Tương tự, người đại diện theo uỷ
quyền của bị đơn ông V ông T1 cũng mâu thuẫn trong lời khai: khi thì ông
T1 trình bày: Vào ngày 04/6/2016 ông V hợp đồng chuyển nhượng …việc
chuyển nhượng hợp đồng công chứng theo quy định. Nay phía T yêu cầu
tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu thì tôi đồng ý” (BL 634) nhưng tại phiên toà ngày
21/5/2025, chính ông T1 cũng thừa nhận: “Thực tế thì giao đất cho ông H xây
khuôn viên chùa ….Lúc đó ông H trụ trì chùa, đại diện cho chùa Đ1 ra nhận đất
xây khuôn viên cho chùa” (BL 630). Trên thực tế, năm 2021 ông H cũng từng khởi
kiện ông V để yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất trên sau đó do ông
không đóng tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định Toà đình chỉ giải quyết vụ
án. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời trình bày đồng ý tuyên hợp đồng vô hiệu tại
phiên toà thẩm ngày 21/5/2025 trên của ông B để cho rằng người đại diện của
ông H cũng thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng giả tạo đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn để huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
1404 do hợp đồng này hiệu mà chưa làm sao ông T1, ông B lại trình bày
mâu thuẫn với những người ủy quyền cho mình là ông V, ông H và mâu thuẫn với
chính lời khai của nh trong quá trình tố tụng. Trong khi, hợp đồng chuyển
nhượng số 1404 đượckết trước thời điểm ông V bị buộc có trách nhiệm trả tiền
cho T nhưng Toà án cấp sơ thẩm không lấy lời khai, cho đương sự đối chất để
làm rõ căn cứ nào để phía bị đơn đồng ý việc tuyên hợp đồng hiệu làm đây
phải hợp đồng giả tạo nhằm giúp ông V trốn tránh nghĩa vụ trả ncho bà T
hay không, nếu hợp đồng giải tạo thì tại sao ông V lại giao đất cho ông H
đồng ý cho Chùa T2 sử dụng chưa thu thập chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện.
[5] Liên quan đến Giáo hội Phật giáo: tại phiên toà thẩm ngày 16/01/2025,
ông B khẳng định: “phần đất này của Giáo hội Phật giáo” (BL 469). Tại Văn bản
ghi ý kiến ngày 14/10/2024, Giáo hội P (sau đây gọi tắt là: GHPGVN) tỉnh Đồng
Nai cũng cho rằng: “Hiện nay toàn bộ diện tích đất nằm trọn trong khuôn viên của
Chùa T2 và tất cả phần đất này từ trước đến nay đều thuộc đất GHPGVN do Ban
trị sự GHPGVN tỉnh Đ định đoạt tài sản, trực tiếp quản lý, sử dụng Chùa Từ
Đức theo quy định của Giáo luật… đề nghị Toà án giải quyết công nhận hợp đồng
7
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Trung H (nay là Ban trị sự GHPG
tỉnh Đ ông Tạ Văn V(BL 425). Trong khi, bản ý kiến này được lập ngày
14/10/2025 nhưng hồ vụ án lại thể hiện vào ngày 15/01/2024 ông H đã bị GHPG
tỉnh Đ ban hành Quyết định số 20/QĐ-BTS bãi bỏ cách tu thuộc GHPGVN
(BL 384). vậy, Toà án cấp thẩm cũng không làm thời điểm GHPGVN tỉnh
Đ văn bản ghi ý kiến trên thì ông H còn gichức vụ gì hoặc còn sinh hoạt trong
Chùa T2 hay trong Giáo hội Phật giáo tỉnh Đ hay không? Nếu ông H không còn
tu hay người chức vụ trong Giáo hội thì sao Giáo hội lại ý kiến như trên?
Đồng thời, làm phần đất trên là của cá nhân ông H nhận chuyển nhượng và hiến
tặng cho C hay ông H đại diện cho C đứng ra nhận chuyển nhượng.
[6] Toà án cấp sơ thẩm cũng có vi phạm trong việc xác định người tham gia
tố tụng: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu (nay Phòng thi hành án dân
sự khu vực 3- Đồng Nai) quan đã ban hành Quyết định cưỡng chế biên
thửa đất số 56 (BL 524); lời khai của ông P1 (đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn), lời khai của ông H, ông B, ông T1 cũng như của Ban trị sự GHPG tỉnh Đ
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đều thể hiện nay diện tích đất tranh chấp nằm
trong khuôn viên Chùa T2. Như vậy, việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền
lợi ích của Phòng thi hành án dân sự khu vực 3- Đồng Nai Chùa T2 nhưng
Toà án cấp thẩm không đưa các cơ quan, tổ chức này vào tham gia tố tụng với
tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đầy đủ.
[7] Mặc chưa thu thập đủ chứng cứ để khẳng định hợp đồng chuyển
nhượng lập ngày 04/6/2016 giữa ông V ông H được ký kết để giúp ông V trốn
tránh nghĩa vụ trả tiền cho T. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ lại thể
hiện phần đất tranh chấp hiện một số tài sản không phải do ông V tạo dựng gồm:
hàng rào, trụ cổng, cổng, tường rào một số cây trồng, khi đã tuyên hợp đồng này
vô hiệu, khẳng định đất vẫn thuộc quyền sử dụng của ông V nhưng Toà án cấp sơ
thẩm lại không xác minh làm rõ ai là người tạo dựng những tài sản trên, ý kiến và
yêu cầu của họ thế nào đối với các tài sản này lại cho rằng do các bên không
yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu cũng giải quyết chưa toàn diện,
việc thi hành Bản án sau này sẽ gặp khó khăn.
[8] Do Tòa án cấp thẩm có những vi phạm thủ tục tụng việc thu thập
chứng cứ chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ tại phiên tòa phúc thẩm
không thể thực hiện bổ sung được nên cần huỷ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho
Toà án cấp thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung. Kháng cáo của ông H
sở nên được chấp nhận.
[9] Án phí dân sự sơ thẩm chi phí tố tụng: sẽ được xem xét khi vụ án được
giải quyết lại.
[10] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông H được chấp nhận nên
ông H không phải chịu.
[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng
xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Ttụng dân sự năm
2015;
Chấp nhận kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Trung H;
Huỷ Bản án dân sthẩm số 34/2025/DS-ST ngày 30 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai; giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân
khu vực 3 – Đồng Nai để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm chi ptố tụng: sẽ được xem xét khi vụ án được giải
quyết lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Trung H không phải chịu. Phòng Thi hành
án dân sự khu vực 3 - Đồng Nai hoàn trả cho ông H số tiền 300.000 (ba trăm nghìn)
đồng tiền tạm ứng án pông H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T
án số 0001662 ngày 28/7/2025 (BL 710).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- TAND khu vực 3 - Đồng Nai;
- Phòng THADS khu vực 3 - Đồng Nai;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: hồ sơ vụ án, TDS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Quý Chi
Tải về
Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2026/DS-PT Bản án số 36/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất