Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT ngày 17/09/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 36/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT ngày 17/09/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 36/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG THÁP
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 36/2025/HNGĐ-PT
Ngày: 07 - 7 - 2025
V/v ly hôn giữa ông Hồ Xuân
Xanh và bà Đặng Thị Thu Hồ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Bà Phạm Thị Liên Hiệp.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư phiên tòa: Trần Lưu Hồng Hạnh - Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Thị Trang-
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 30 tháng 6 và ngày 07 tháng 7 năm 2025 tại trụ sTòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số:
12/2025/TLPT-HNngày 18 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp vchia
tài sn khi ly hôn, tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do bản án thẩm số: 06/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (nay Tòa án nhân dân Khu
vực 8 - Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2025/QĐ-PT ngày
07 tháng 5 năm 2025 giữa c đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hồ Xuân Xanh, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố 1,
thị trấn Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú
Quốc, tỉnh An Giang; mt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn
Lẹ, Luật Công ty luật TNHH MTV Tuyên Thụy Cộng sự thuộc Đoàn luật
sư tỉnh Đồng Tháp; có mt.
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Thu Hồ, sinh năm 1961; đa chỉ: S 08, đường Âu
Cơ, Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (nay phường Sa
Đéc, tỉnh Đồng Tháp; mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Nguyễn Thị Kim
Loan, Luật sư Văn phòng luật sư Kim Loan thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp;
có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Trung Tú, sinh năm 1972; địa chỉ: Số 226, Thoại Ngọc
Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường
Phú Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Trung Tú:
- Chị Nguyễn Thị Thu Hường, sinh năm 1997; địa chỉ: Số 254 - Tầng 1,
đường Nguyễn Trung Trực, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên
Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang) người đại diện theo ủy quyền
của ông Tú (được y quyền theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2025); có mặt.
- Chị Huỳnh Thị Bích Tuyền, sinh năm 1997; địa chỉ: Số 161, đường Trưng
Nữ Vương, phường Châu Phú B, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang (nay
phường Châu Đốc, tỉnh An Giang) người đại diện theo ủy quyền của ông
(được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 09/6/2025); vắng mặt.
3.2. Ông Văn Ninh, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 7/14/68, đường 182,
phường Tăng Nhơn Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
phường Tăng Nhơn Phú, Thành phố Hồ Chí Minh); vng mt.
3.3. Bà Nguyễn Thị Lợi, sinh năm 1979;
3.4. Chị Nguyễn Như Quỳnh, sinh năm 2003; vắng mặt.
3.5. Anh Nguyễn Bảo Duy, sinh năm 2007; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên
Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang).
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Lợi: Chị Nguyễn Thị Thu
Hường, sinh năm 1997; địa chỉ: Số 254 - Tầng 1, đường Nguyễn Trung Trực,
phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú
Quốc, tỉnh An Giang) là người đại diện theo ủy quyền của bà Lợi (được ủy quyền
theo văn bản ủy quyền ngày 17/3/2025); có mặt.
4. Người kháng cáo: Ông Hồ Xuân Xanh, là nguyên đơn; ông Nguyễn
Trung Tú, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Hồ Xuân Xanh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Xanh và Đặng Thị Thu Hồ chung sống như
vợ chồng từ năm 1989, không tổ chức lễ cưới, đăng kết hôn vào ngày
05/3/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Sau khi chung sống, ông Xanh Hồ đã sống chung với cha mẹ ông Xanh
Phú Quốc, khoảng năm 2000 ông Xanh bà Hồ vLai Vung sinh sống, đến năm
3
2007 về sinh sống tại số 42, Đinh Hữu Thuật, Khóm 2, Phường 2, thành phố Sa
Đéc. Năm 2012, vợ chồng bán căn nhà Đinh Hữu Thuật về sống chung căn
nhà số 08, đường Âu Cơ, Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc. Quá trình sống
chung hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm sống, chủ yếu những việc trong gia đình, Hồ thiếu squan tâm
chăm sóc đối với mẹ ông Xanh, ông Xanh mẹ ông Xanh phải ra thuê nhà trọ
ở, cuối năm 2013 mẹ ông Xanh bệnh nằm viện ở Sài Gòn lúc đó mâu thuẫn giữa
vợ chồng đã trầm trọng nên ông Xanh quyết định sống ly thân. Nay ông Xanh
nhận thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung với bà Hồ nên ông
Xanh yêu cầu ly hôn bà Hồ.
Về nuôi con chung: 02 con chung Hồ Xuân Thu Huyên, sinh năm
1983 Hồ Xuân Thu Ngân, sinh năm 1993, hiện các con đã thành niên, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Kng có, không yêu cầu giải quyết.
V chia tài sản chung: Ông Xanh xác định quá trình vợ chồng chung sống
có tạo lập được tài sản chung là quyền sử dụng đất (QSDĐ) diện tích 48m
2
thuộc
thửa số 282, tờ bản đồ số 9 và tài sản gắn liền với đất là căn nhà tại số 08, đường
Âu Cơ, Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đng Tháp, do bà Đặng Thị
Thu Hồ đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ (hiện Hồ đang quản lý, sử dụng).
Nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hạnh Hòa vào năm 2012.
Căn ntrên đất được xây dựng năm 2013, loại ncấp 3, giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà cấp cho bà Đặng Thị Thu Hồ. Nguồn tiền xây nlà do ông Xanh bán
đất riêng cá nhân của ông Xanh Phú Quốc được số tiền khoảng 05 tỷ đồng hùn
vào để xây nhà. Ngoài ra ông Xanh bán thêm 01 phần đất Phú Quốc được số
tiền 3,6 tỷ đồng hùn vào xây nhà nhưng không còn giữ hợp đồng chuyển nhượng
đất do chuyển nhượng bằng giấy tay qua cho nhiều người ông Xanh còn bỏ
công phụ tiếp xây dựng căn nhà. Khi ly hôn, ông Xanh đồng ý bà Hồ được sử
dụng đất, sở hữu nhà nêu trên, ông Xanh yêu cầu Hồ chia cho ông Xanh ½
giá trị tài sản chung đất nhà theo giá của Hội đồng định giá, tổng số tiền
4.161.149.000 đồng: 2 = 2.080.574.500 đồng.
Đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ s9, diện tích 543,7m
2
, tại thành phố Phú
Quốc, tỉnh Kiên Giang, ông Xanh xác định là tài sản riêng của ông Xanh. Nguồn
gốc thửa đất số 42 do cha mẹ ruột của ông Xanh ông Dư Văn Đài, bà Hồ Thị
Em khai phá trước năm 1975 và tặng cho ông Xanh từ năm 1970, ông Xanh quản
lý, sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Giấy chứng nhận QSDĐ cấp lần đầu
vào ngày 18/11/2005, tổng diện tích 16.005,3m
2
, số AB 373526 do ông Xanh và
Hồ đứng tên. Ngày 30/8/2006, đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành Sang
diện tích đất 1.516m
2
chuyển nhượng cho ông Văn Tỵ diện tích đất 3.201m
2
;
Nhà nước thu hồi làm đường trục Nam - Bắc đoạn An Thới - Dương Đông diện
tích 363,1m
2
vào ngày 26/7/2012, diện tích đất còn lại 10.652,2m
2
. Đến ngày
08/10/2012, ông Xanh làm thủ tục cấp đổi tách thành 03 thửa (diện tích giảm
1.946,6m
2
do sai số đo đạc hình thể thửa đất thay đổi): Thửa số 40, diện tích
6.876,4m
2
(đã chuyển nhượng cho ông Phan Văn Hiến vào ngày 20/11/2012);
4
Thửa số 94, diện tích 1.285,5m
2
(đã chuyển nhượng cho ai không nhớ) và thửa số
42, diện tích 543,7m
2
. Nguyên nhân trên giấy chứng nhận QSDĐ có tên vchồng
do khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quan cấp giấy chứng nhận
QSDĐ yêu cầu nếu vhoặc chồng thì phải cùng tên đứng tên giấy chứng
nhậnQSDĐ, nếu không phải xác nhận tình trạng hôn nhân là độc thân.
Ngày 14/9/2007, ông Xanh chuyển nhượng đất thửa số 42 cho ông Lê Văn
Ninh với giá chuyển nhượng khoảng 120.000.000 đồng, hợp đồng giấy tay, không
Hồ tên ông Xanh cho rằng thửa số 42 tài sản của riêng của ông
Xanh, ông Xanh đã nhận đủ tiền đã giao đất cho ông Ninh quản lý, sử dụng.
Sau đó ông Ninh tiếp tục chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Trung Tú, giá
chuyển nhượng bao nhiêu ông Xanh không biết, không nhớ thời gian ông Ninh
đề nghị ông Xanh ông tự lại hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Xanh
ông đối với thửa đất số 42 để khi làm các thủ tục giấy tờ không còn liên
quan đến ông Ninh, đề nghị này được ông Xanh ông đồng ý. Sau đó ông
Xanh ký lại hợp đồng chuyển nhượng đất thửa số 42, tờ bản đồ số 9 với ông Tú,
hợp đồng thể hiện ngày 14/9/2007 và ông Tú có giao thêm cho ông Xanh số tiền
20.000.000 đồng. Hiện ông đang quản lý, sử dụng đất nêu trên vào việc xây
dựng nhà ở, cơ skinh doanh nên ông Xanh không đồng ý chia tài sản cho bà Hồ.
Đối với yêu cầu của ông Tú, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh ông thì ông Xanh đồng ý hợp đồng chuyển
nhượng đất đã thực hiện xong, ông Xanh đã nhận tiền ông Tú đã nhận đất quản
lý sử dụng. Ngoài ra ông Xanh không tranh chấp, không yêu cầu chia tài sản nào
khác.
Bđơn Đặng ThThu Htnh bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ thống nhất với ông Xanh về quá trình chung
sống, thời gian đăng ký kết hôn. Bà Hồ không còn tình cảm với ông Xanh nên bà
Hồ đồng ý ly hôn ông Xanh ông Xanh đã mối quan hvới người phụ nữ
khác, có biên bản của chính quyền địa phương ngày 02/6/2023.
Về nuôi con chung: 02 con chung Hồ Xuân Thu Huyên, sinh năm
1983 Hồ Xuân Thu Ngân, sinh năm 1993, hiện các con đã thành niên, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Kng có, không yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản chung: Quá trình vợ chồng chung sống tạo lập được tài
sản chung:
Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
, tại ấp Suối Mây,
Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, do Hồ ông Xanh đứng
tên giấy chứng nhận QS. Nguồn gốc đất là của cha mẹ ông Xanh tặng cho v
chồng, giấy chứng nhận QSDĐ cấp lần đầu vào ngày 18/11/2005, tổng diện tích
16.005,3m
2
, số AB 373526 do ông Xanh và bà Hồ đứng tên. Đến năm 2012, làm
thủ tục cấp đổi tách thành 03 thửa: Thửa số 40, diện tích 6.876,4m
2
(đã chuyển
nhượng), thửa số 94 diện tích 1.285,5m
2
(đã chuyển nhượng) và thửa số 42, diện
tích 543,7m
2
hiện đang tranh chấp.
5
Thửa đất số 42, diện tích 543,7m
2
ông Xanh đã chuyển nhượng cho ông
Văn Ninh, giá chuyển nhượng bao nhiêu Hồ không biết, khi chuyển nhượng
bà Hồ không biết và cũng không có ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng đất. Sau
khi ông Xanh chuyển nhượng đất cho ông Ninh thì bà Hồ mới biết, bà Hồ không
đồng ý nhưng không khiếu nại hay khởi kiện sau đó Hồ nghe nói ông
Ninh đã chuyển nhượng lại phần đất trên cho ông , về thời gian, giá chuyển
nhượng bao nhiêu bà Hồ không biết.
Nay bà Hồ không yêu cầu ông Xanh chia tài sản chung cho bà Hồ là giá tr
phần đất diện tích 260,2m
2
thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9 vì ông Xanh hiện
không còn giữ tài sản (đất) để chia tài sản (tiền) cho bà Hồ. Đối với hợp đồng ủy
quyền ngày 28/11/2011 tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Đồng Tháp, bà Hồ xác
định chỉ ủy quyền để ông Xanh thuận tiện trong việc làm thủ tục giấy tờ liên quan
còn nếu muốn chuyển qua tên chủ sử dụng đất phải có bà Hồ ký tên.
Đối với yêu cầu của ông Tú, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng
đất ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh ông thì Hồ không đồng ý, thửa đất
số 42 tài sản chung của vợ chồng nhưng khi ông Xanh chuyển nhượng đất
không cho bà Hồ biết, bà Hồ cũng không tên trên hợp đồng chuyển nhượng
đất và tiền chuyển nhượng đất ông Xanh cũng không chia cho bà Hồ. Nay bà Hồ
yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 14/9/2007 giữa ông
ông Xanh, Hồ yêu cầu ông phải hoàn trả cho Hồ 50% giá trị QSDĐ
thửa số 42, tờ bản đồ số 9, tương đương số tiền là 4.469.780.000 đồng.
Đối với diện tích đất 48m
2
thuộc thửa số 282, tờ bản đồ số 9 và tài sản gắn
liền với đất là căn nhà tại số 08, đường Âu Cơ, Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa
Đéc, tỉnh Đồng Tháp, tài sản của nhân Hồ. Nguồn gốc đất do bà Hồ
nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hạnh Hòa vào năm 2012, giá chuyển
nhượng 1,2 tỷ đồng. Sau khi chuyển nhượng đất, năm 2013 Hồ xây dựng
nhà ở, kết cấu khung bê tông cốt thép, có 03 lầu. Nguồn tiền mua đất và xây nhà
do Hồ vay mượn của nhiều người gồm Thị Chín số tiền 01 tỷ đồng,
ông Phạm Văn Lực số tiền 500 triệu đồng, bà Thị Phượng số tiền 600 triệu
đồng, ông Xanh không hùn tiền công sức đóng góp vào việc mua đất, xây
nhà. Nay bà Hồ không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu của ông Xanh có thỏa
thuận ngày 14/10/2013, nội dung thỏa thuận phần nợ Hồ chịu trách nhiệm trả
toàn bộ nên phần nhà đất tại số 08, đường Âu toàn bộ phải của Hồ.
Ngoài ra Hồ không tranh chấp, không yêu cầu chia tài sản nào khác trong vụ
án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trung Tú trình bày:
Ngày 29/11/2017, ông nhận chuyển nhượng đất tông Văn Ninh,
diện tích khoảng 612m
2
, tại ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh
Kiên Giang. Khi ông Ninh chuyển nhượng đất cho ông thì ông Ninh giao
toàn bộ giấy tờ ông Ninh mua đất của ông Xanh trước đây cho ông nhưng
ông không biết ông Xanh trên giấy tờ người quen của ông Tú trước đây,
đến khi m giấy tthì mới biết ông Xanh, nhiều lần ông liên hệ với ông
Xanhm thủ tục chuyển nhượng sang tên nhưng chưa được. Sau đó ông Xanh,
6
ông, ông Ninh gặp nhau cùng thống nhất lại hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ (hợp đồng ghi ngày 14/9/2007), trên hợp đồng thhiện chuyển nhượng
đất thửa số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 612m
2
, ngang 12m, dài 51m, loại đất
trồng cây ăn trái, tại ấp Suối Mây, Dương , huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên
Giang và khi ký lại hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, ông giao thêm cho
ông Xanh số tiền 20.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu ly n, tranh chấp tài sản giữa ông Xanh và bà Hồ thì ông
không ý kiến. Tuy nhiên thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9 ông đã đầu xây
dựng nhà , kết cấu khung tông cốt thép, móng đá, cột gạch, ờng xây gạch,
mái tole ng vuông, nền t gạch ceramic; nhà kho, nhà tiền chế, không thdi dời
được và hiện vợ con ông Tú đang sinh sốngn định trên đất từ năm 2017 đến nay.
Do đó ông Nguyễn Trung Tú yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh ông Tú, yêu cầu công nhận cho ông được
quản lý, sử dụng diện tích đất 543,7m
2
thuộc thửa số 42, tờ bản đồ số 9, tại ấp
Suối y, Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, giấy chứng nhận QSDĐ do ông Hồ
Xuân Xanh và bà Đặng Thị Thu Hồ đứng tên.
Đối với yêu cầu của bà Hồ yêu cầu tuyên bhợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh và ông hiệu, yêu cầu ông phải
nghĩa vụ hoàn trả cho bà Hồ số tiền 4.469.780.000 đồng thì ông không đồng
ý ông người thứ 3 ngay tình, việc ông Xanh bán đất cho ông Ninh ban
đầu bà Hồ cũng biết, ông Xanh cũng xác nhận Hồ biết, ông Ninh cũng khẳng
định bà Hồ khi gặp ông Ninh có nói đến việc mua bán phần đất tranh chấp nhưng
Hồ nói rằng đó tài sản riêng của ông Xanh nên Hồ không quan tâm.
Hồ biết sự việc ông Xanh chuyển nhượng đất tranh chấp từ lúc ông Xanh bán đất
cho ông Ninh nhưng không ý kiến , còn hỏi ông Ninh số tiền ông Xanh
bán đất được bao nhiêu, ông Ninh sau khi mua đất đã xây hàng rào xung quanh
thửa số 42, Hồ tới lui phần đất tranh chấp không thể nói rằng không biết,
sau này ông Tú làm nhà xưởng kiên cố trên đất, cả khu vực đều biết. Ngoài ra bà
Hồ đã có ủy quyền ngày 29/8/2011 cho ông Xanh toàn quyền định đoạt phần đất
lớn trong đó có thửa đất số 42 bán cho ông Tú, thế bà Hồ không thể không biết
việc ông Xanh chuyển nhượng đất. Khi ông mua đất của ông Xanh nhờ ông
Hữu Trường đến chính quyền xã yêu cầu xác nhận đất là tài sản riêng của ông
Xanh, ông Phan Văn Hiến hàng xóm của ông Xanh biết việc chuyển nhượng
đất, vì khi đi lấy giấy chứng nhận QSDĐ ông Xanh ủy quyền cho ông Hiến toàn
quyền lo thủ tục hợp thức hóa giấy tờ.
Trong vụ án này, ông không yêu cầu đối với ông Văn Ninh ông
Hồ Xuân Xanh. Ngoài ra, ông Tú không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn Ninh trình bày:
Khoảng năm 2007 ông Ninh có nhận chuyển nhượng đất của ông Hồ Xuân
Xanh có chiều ngang 12m, dài 51m thuộc thửa số 42, tờ bản đồ số 9, tại ấp Suối
Mây, xã Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Việc chuyển nhượng
đất làm hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/9/2007, không công chứng,
chứng thực, giá chuyển nhượng 120.000.000 đồng, hình thức thanh toán trả tiền
7
mặt, ông Ninh đã nhận đủ tiền và ông Xanh đã giao đất cho ông Ninh quản lý, sử
dụng, ông Ninh làm hàng rào, cột tông để giữ đất. Khi ông Ninh nhận chuyển
nhượng đất nêu trên thì ông Xanh nói đất của ông khai phá để lại cho ông
Xanh, ông Ninh không biết đất tài sản chung của ông Xanh Hồ. Sau đó
không nhớ thời gian nào ông Ninh có gặp Hồ Thành phố Hồ Chí Minh thì bà
Hồ nói đến thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9 đất của cha mẹ ông Xanh đlại
cho ông Xanh, ông Xanh muốn bán hay làm thì làm, Hồ không ý kiến.
Năm 2017, ông Ninh chuyển nhượng lại thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9 cho ông
Nguyễn Trung Tú, việc chuyển nhượng đất làm hợp đồng chuyển nhượng ngày
29/11/2017, không công chứng, chứng thực, giá chuyển nhượng 1,9 tỷ đồng.
Thời điểm chuyển nhượng đất cho ông Tú trên đất không có tài sản , hiện trạng
đất trống chưa đầu tư cải tạo đất, trên đất chỉ một vài cây trồng như dừa, mít.
Để không liên quan đến thủ tục giấy tờ nên ông Ninh đã đề nghị ông Xanh và ông
tự ký kết lại hợp đồng với nhau, để ông Tú đi làm giấy tờ sau này không phải
kêu ông Ninh, vấn đề này được ông Xanh ông đồng ý. Sau đó, hai bên
ký lại hợp đồng không thì ông Ninh không biết. Sau này ông Ninh có gặp ông
thì nghe ông nói giữa ông Tú và ông Xanh lại hợp đồng chuyển nhượng đất
ông giao thêm cho ông Xanh số tiền 20.000.000 đồng. Trong vụ án tranh
chấp giữa ông Xanh, bà Hồ với ông Tú, ông Ninh không có ý kiến, không có yêu
cầu với ai trong vụ án này, vì thủ tục chuyển nhượng đất đã hoàn thành, ông
Ninh đã nhận đủ tiền chuyển nhượng và đã giao đất cho ông quản lý, sử dụng,
ông Ninh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án xem xét,
giải quyết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị Lợi, Nguyễn Như Quỳnh
Nguyễn Bảo Duy trình bày:
Lợi, chị Quỳnh, anh Duy vợ các con của ông Tú, hiện đang sinh
sống trên thửa đất số 42, tbản đồ số 9, tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Lợi, chị Quỳnh, anh Duy thống nhất với lời trình bày của ông , không ý kiến
gì thêm.
Người làm chứng Đặng Thị Thu Trang, Thị Chín, Thị Phượng, Phạm
Văn Lực trình bày:
Khoảng năm 2012, các ông, cho Đặng Thị Thu Hồ mượn tiền để
xây nhà tại thành phố Sa Đéc, quá trình mượn tiền và trả tiền đều do một mình
Hồ liên hệ với các ông bà, không thấy ông Xanh. Hiện bà Hồ đã trả xong tiền cho
các ông, bà, không còn nợ bất kỳ khoản tiền nào.
Tại bản án thẩm số: 06/2025/HN-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025,
Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đng Tháp (nay là Tòa án nhân dân Khu
vực 8- Đồng Tháp) đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 122, Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 33, 38,
43, 55, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án.
8
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Hồ Xuân
Xanh và bà Đặng Thị Thu Hồ.
2. Về nuôi con chung: Có 02 con chung Hồ Xuân Thu Huyên, sinh năm
1983 Hồ Xuân Thu Ngân, sinh năm 1993, hiện các con đã thành niên nên không
xem xét giải quyết.
3. Về nợ chung: Các đương sực định không, khôngu cầu giải quyết
nên Hội đồng xét xử không xemt.
4. Về chia tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu của ông Hồ Xuân Xanh
về việc yêu cầu Đặng Thị Thu Hồ chia tài sản chung giá trị ½ quyền sử dụng
đất và quyền sở hữu nhà ở đối với thửa đất số 282, tờ bản đồ số 9 do bà Đặng Thị
Thu Hồ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Đặng Thị Thu Hồ được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 282, tờ bản
đồ số 9 được quyền quản lý, sở hữu căn nhà tọa lạc tại số 08, đường Âu Cơ,
Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (hiện Hồ đang quản lý).
5. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đặng Thị Thu Hồ về việc tuyên vô
hiệu hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh và ông Tú, yêu
cầu ông Nguyễn Trung hoàn trả 50% giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
theo chứng thư định giá ngày
04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh Vượng, thành tiền
4.469.780.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu bảy trăm tám mươi
ngàn đồng).
6. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Trung Tú. Công nhn hiệu
lực của hp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2007 giữa ông
Hồ Xuân Xanh và ông Nguyễn Trung Tú.
6.1. Ông Nguyễn Trung Tú được quyền quản lý, sử dụng phần đất chuyển
nhượng có diện tích 543,7m
2
, thuộc thửa đất số 42, tbản đồ số 9, loại đt cây lâu
năm, do ông Hồ Xuân Xanh và Đặng Thị Thu Hồ đứng tên Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (hiện ông đang quản lý), ta lc ti ấp Suối Mây, xã Dương
Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, được thể hiện tại các mốc 1-2-3-4-5-
6-1 theo mãnh trích đo địa chính số 448, ngày 03/11/2023 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để khai, đăng ký, điều chỉnh để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy
định của pháp luật.
Đề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cấp cho ông HXuân Xanh Đặng Thị Thu Hồ để cấp lại cho ông Nguyễn
Trung Tú diện tích đất theo bản án đã tuyên trên.
(Có mãnh trích đo địa chính ngày 03/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thành phố Phú Quốc; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
18/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và chứng thư định giá ngày
04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh Vượng kèm theo).
9
6.2. Ông Nguyễn Trung Tú trách nhiệm hoàn trả cho Đặng Thị Thu
Hồ 50% giá trị QSDĐ đối với thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
theo chứng thư định giá ngày 04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh
Vượng, thành tiền là 4.469.780.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu
bảy trăm tám mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật
dân sự năm 2015.
7. Về án phí:
Ông Hồ Xuân Xanh bà Đặng Thị Thu Hồ được miễn nộp tiền án phí dân
sự thẩm do ông Xanh bà Hồ người cao tuổi và đơn xin miễn giảm theo
quy định.
Ông Nguyễn Trung chịu án phí dân sự sơ thẩm 112.469.780 đồng,
được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số
0007836 ngày 26/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh
Đồng Tháp. Ông Tú còn phải nộp tiếp số tiền là 112.169.780 đồng.
8. Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Ông Hồ Xn Xanh phải chịu 4.535.000 đồng, ông Xanh đã nộp đủ và chi
xong.
Đặng ThThu Hồ và ông Nguyễn Trung mỗi người chịu 10.323.500
đồng, bà Hồ đã nộp tạm ứng trước stiền là 20.647.000 đồng, do đó ông Tú
trách nhiệm trả lại cho bà Hồ 10.323.500 đồng.
Ngoài ra bản án thẩm còn quyết định về quyền thời hạn kháng cáo
của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành
án, thời hiệu thi hành án theo quy định ca pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 18/02/2025 ông Nguyễn Trung Tú kháng cáo yêu cầu sửa Bản án
thẩm, bác yêu cầu của Đặng Thị Thu Hồ về việc buộc ông trả 50% giá trị
thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m², tại ấp Suối Mây, xã Dương Tơ,
thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 27/02/2025, ông Hồ Xuân Xanh kháng cáo yêu cầu sửa một phần Bản
án thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo hướng chia
đôi tài sản chung là thửa đất số 282, tờ bản đồ số 9 và căn nhà trên đất, ông Xanh
đồng ý giao nhà và đất cho bà Hồ, yêu cầu bà Hồ trả ½ giá trị nhà và đất theo giá
thị trường 07 tỷ đồng. Đối với thửa số 42, tờ bản đồ số 9 tài sản riêng của
ông Hồ Xuân Xanh, công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Xanh ông
Tú.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
10
Ông Hồ Xuân Xanh không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo. Lý
do thửa đất số 42 của cha mẹ ông Xanh tặng cho ông Xanh, Hồ vợ ông
Xanh nên chỉ cùng ông Xanh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2011 Hồ đã văn bản ủy quyền cho ông Xanh được toàn quyền quyết định
đối với phần đất thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Vđất nhà tại thành
phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp Hồ đứng tên quyền sử dụng đất hiện ông Xanh
đang tranh chấp tài sản chung của vợ chồng ông Xanh, ông Xanh thống nhất
giá trị đất và nhà ở trên đất theo giá mà Tòa án cấp thẩm đã xét xử. Đối với các
khoản nợ bà Hồ khai vay mượn để xây dựng nhà thì ông Xanh không biết.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Trung trình bày ông
Tú không rút đơn yêu cầu, không rút đơn kháng cáo. Ông Tú yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm bác yêu cầu của Hồ buộc ông Tú hoàn trả cho Hồ 50% giá trị
quyền sử dụng đất thửa số 42, tờ bản đồ số 9, diện ch 543,7m², tại p Suối Mây,
Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang với số tiền 4.469.780.000
đồng. do ông và Nguyễn Thị Lợi đã nhận chuyển nhượng đất của ông
Lê Văn Ninh vào ngày 29/11/2017, lập hợp đồng chuyển nhượng đất với ông
Xanh ghi nhận ngày 14/9/2007. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông Tú đã xây
dựng nhà cùng các công trình kiến trúc khác trên đất, đã sử dụng đất liên tục,
H biết ông Tú nhận chuyển nhượng đất vào năm 2018 nhưng không khiếu
nại, số tiền chuyển nhượng đất ông Xanh đã đầu vào nhà hàng của vchồng
ông Xanh tại thành phố Phú Quốc.
Đặng Thị Thu Hồ không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu
kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh, ông Nguyễn Trung Tú, bà Hồ đồng ý với bản
án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồ Xuân Xanh trình bày
tranh luận: Thửa đất số 42 ở thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang là của cha mẹ
ông Xanh, Hồ không công sức đóng góp. Đất nhà thành phố Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp tài sản chung của vợ chồng ông Xanh Hồ. Tuy văn
bản thỏa thuận giữa ông Xanh Hồ về đất nhà tại thành phố Sa Đéc
nhưng đây tài sản có gtrị lớn, việc không có công chứng, chứng thực văn bản
thỏa thuận không đảm bảo, các khoản nợ đều của người thân, gia đình Hồ,
ông Xanh không biết số nợ này nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh.
Ông Hồ Xuân Xanh không bổ sung ý kiến.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Trung trình bày tranh
luận: Ông Tú đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông
Tú. Lý do ông Tú đã quản lý, sử dụng đất thửa số 42 từ năm 2017 đến nay. Thửa
đất này ông Xanh đã chuyển nhượng cho ông Ninh vào năm 2007, đến năm 2017
ông Ninh chuyển nhượng đất lại cho ông , nhưng khi làm hợp đồng chuyển
nhượng đất giữa ông Xanh ông đã làm lùi năm 2007. Ông đã sử dụng
đất ổn định, không ai ngăn cản, bà Hồ biết nhưng không ngăn cản hay tranh chấp.
Số tiền chuyển nhượng đất ông Xanh và bà Hồ đã sdụng vào việc mở nhà hàng,
thửa số 42 giáp ranh với nhà hàng Long Ngân của vợ chồng ông Xanh. Ngày
11
29/8/2011 Hồ đã văn bản ủy quyền cho ông Xanh được chuyển nhượng đất,
năm 2016 đã chuyển nhượng hơn 6.000m
2
nên Hồ cho rằng nhà hàng xây dựng
hết đất gia đình chồng của Hồ không phù hợp. Hợp đồng chuyển nhượng đất
giữa ông Xanh ông tuy lùi vào ngày 14/9/2007 nhưng ông Xanh vẫn thực
hiện quyền được bà Hồ ủy quyền, đất là của cha mẹ ông Xanh. Quá trình sử dụng
đất, ông cải tạo đất làm tăng giá trị nên buộc ông hoàn trả 50% giá trị
đất là không hợp lý. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của bà Hồ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Đặng Thị Thu Hồ tranh
luận, đối đáp: Đối với thửa đất số 42 tại Phú Quốc, giấy ủy quyền năm 2011 của
Hồ cho ông Xanh diện tích là 16 công nhưng là một mảnh đất, sau này được tách
thành 03 thửa nên giấy ủy quyền này không còn giá trị. Hồ thống nhất nguồn
gốc đất thửa số 42 là của cha mẹ ông Xanh, nhưng ông Xanh đã bán hết hai thửa
mua tài sản khác, chỉ còn lại thửa số 42 nên việc bà Hồ yêu cầu chia đôi tài sản
phù hợp. Việc ông Xanh chuyển nhượng đất thửa số 42 cho ông Ninh không
báo cho bà Hồ biết, sau đó ông Ninh có hai lần gặp bà Hồ, bà Hồ thống nhất 50%
diện tích đất của ông Xanh thì Hồ đồng ý chuyển nhượng đất, phần 50% còn lại
của Hồ thì Hồ không chuyển nhượng đất. Mặc đã biết Hồ không
chuyển nhượng phần đất của Hồ nhưng sau đó ông Ninh vẫn chuyển nhượng
đất cho ông Tú, ông không làm thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định pháp
luật, không xin phép xây dựng tý xây dựng cho rằng Hồ biết không
tranh chấp không phù hợp vì bà Hồ đang làm việc tại Bệnh viện, không có thời
gian đi lại tranh chấp. Năm 2013 đám cưới con gái thì ông Xanh không mặt
nên ông Xanh cho rằng vợ chồng ly thân năm 2013 không đúng ly thân năm
2012 mới đúng. Từ năm 2012 đến nay bà Hồ hai lần nhờ chính quyền địa phương
lập biên bản về việc ông Xanh có quan hệ tình cảm với bà Phương đã con
riêng. Đối với đất và nở tại Sa Đéc tài sản riêng của bà Hồ. Đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của ông Xanh, ông Tú, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Đặng Thị Thu Hồ không bổ sung ý kiến.
Kiểm sát viên pt biu ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự và người tham
gia t tng khác đã chp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá
trình th lý phúc thm và xét xử. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trung Tú, ông
Hồ Xuân Xanh đúng thời hạn luật đnh nên hp l.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thm không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh
ông Nguyễn Trung Tú, giữ nguyên bản án thẩm số 06/2025/HNGĐ-ST ngày
13/02/2025 của Tòa án nhânn thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh, ông Nguyễn Trung trong
thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
12
[2] Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, chị Huỳnh Thị Bích Tuyền, chị
Nguyễn Quỳnh Như, anh Nguyễn Bảo Duy vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử
vắng mặt các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự theo quy định pháp
luật.
[3] Xét kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
thấy:
[3.1] Khi ly hôn, ông Xanh yêu cầu chiai sản chung là quyền sử dụng đất
thửa số 482, tờ bản đồ 9 tài sản gắn liền với thửa đất là căn nhà số 08, đường
Âu Cơ, loại nhà cấp 2, 03 tầng, kết cấu khung tông cốt thép, vách tường, mái
lợp tole, nền lát gạch ceramic, diện tích sàn 187m
2
do Đặng Thị Thu Hđứng
tên Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở. Ông Xanh đồng ý Hồ
được QSDĐ sở hữu căn nhà số 08; yêu cầu bà Hồ chia cho ông Xanh ½ giá trị
căn nhà số tiền 280.574.800 đồng và ½ giá trị đất số tiền 1.800.000.000 đồng. Bà
Hồ xác định đất và nhà ở tại số 08 nêu trên là tài sản riêng của H, không phải
là tài sản chung của vợ chồng nên bà Hồ không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu
của ông Xanh.
[3.2] Ông Xanh và bà Hồ đều thống nhất thửa đất số 482, tờ bản đồ số 9 có
nguồn gốc do nhận chuyển nhượng đất của ông Nguyễn Hạnh Hòa o ngày
27/6/2012, giá chuyển nhượng 1,2 tỷ đồng, hợp đồng được công chứng tại
Phòng Công chứng số 02, tỉnh Đồng Tháp tài sản gắn liền với đất căn nhà
số 08, đường Âu Cơ, Khóm 1, Phường 2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp được
xây dựng vào năm 2013 kết cấu khung, sàn tông nhưng các đương sự không
thống nhất với nhau về nguồn tiền nhận chuyển nhượng đất xây dựng nhà. Ông
Xanh trình bày nguồn tiền mua đất và xây dựng nhà là do ông Xanh bà Hồ bán
căn nhà tại số 42, đường Đinh Hữu Thuật, Khóm 2, Phường 2, thành phố Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp số tiền ông Xanh chuyển nhượng đất đối với các thửa đất
tài sản riêng của ông Xanh thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang được 8,6 tỷ
đồng đóng góp vào. Lời trình bày của ông Xanh không được Hồ thừa nhận,
cho rằng nguồn tiền mua đất xây dựng nhà do bà Hồ vay mượn của
Thị Chín số tiền 01 tỷ đồng, ông Phạm Văn Lực số tiền 500 triệu đồng, bà Võ Thị
Phượng số tiền 600 triệu đồng, ông Xanh không có đóng góp khoản tiền nào vào
việc chuyển nhượng đất và xây dựng nhà vì thời gian này ông Xanh và bà Hồ đã
ly thân. Thực tế ông Xanh chỉ trình bày, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để
chứng minh cho lời trình bày của ông Xanh là có căn cứ và hợp pháp. Chủ đất
ông Nguyễn Hạnh Hòa xác định khi thỏa thuận chuyển nhượng đất thỏa thuận
với ông Xanh và bà Hồ, số tiền mua đất của ai thì ông Hòa không biết.
[3.3] Tuy nhiên thửa đất số 282 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của
ông Xanh Hồ. Căn cứ vào giấy thỏa thuận ngày 14/10/2013, bà Hồ đã xác
định căn nhà tại số 08 là tài sản chung của vợ chồng, bà Hồ thừa nhận toàn bộ nội
dung trong giấy thỏa thuận ngày 14/10/2013 do bà Hồ viết, được sự đồng ý của
ông Xanh, tờ thỏa thuận ngày 14/10/2013 xác định vợ chồng “có chung tài sản và
số nợ: 1/ tài sản: Nhà và đất tại số: 08, âu Cơ, Khóm 1, Phường 2, thị xã Sa Đéc,
Đồng tháp. Diện tích 48m
2
,…”. Mặc giấy thỏa thuận ngày 14/10/2013 không
13
được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật nhưng đã được sự thống
nhất của ông Xanh Hồ, việc ông Xanh cho rằng khi ký vào tờ giấy thỏa
thuận này do mẹ ông Xanh đang bệnh cần tiền để xoay sở, khi không xem
kỹ nội dung trong tờ thỏa thuận nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng
minh. Trong khi đó nội dung tờ thỏa thuận liệt kê chi tiết những tài sản chung và
nợ chung, thống nhất vợ chồng có những tài sản chung là nđất ở đường Âu Cơ,
nhà đất tại số 42, Đinh Hữu Thuật, nhà đất Tân Thành, Lai Vung, đất Thới
Lai, Cần Thơ tên vào tờ thỏa thuận nên lời trình bày của ông Xanh không
có cơ sở chấp nhận. Từ những căn cứ trên, a án cấp sơ thẩm xác định thửa đất
số 282, tờ bản đồ số 9, diện tích 48m
2
và tài sản gắn liền với đất là căn nhà số 08,
đường Âu Cơ nêu trên là tài sản chung của vợ chồng bà Hồ và ông Xanh căn
cứ. Do ông Xanh Hồ đã thống nhất thỏa thuận Hchịu trách nhiệm trả
toàn bộ số nợ theo thỏa thuận tất cả tài sản theo giấy thỏa thuận ngày
14/10/2013 của Hồ. Lời trình bày y của Hồ phù hợp với lời trình bày
người làm chứng Đặng Thị Thu Trang, Thị Chín, Thị Phượng, Phạm Văn
Lực đều xác định là có cho bà Hồ vay tiền để xây nhà và hiện bà Hồ đã trả hết số
nợ cho người làm chứng. Từ căn cứ này Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu
cầu của ông Xanh yêu cầu bà Hồ chia cho ông Xanh ½ giá trị đất và nhà ở với số
tiền là 2.080.574.800 đồngcó căn cứ.
[3.4] Ông Xanh kháng cáo yêu cầu sửa một phần Bản án số
06/2025/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo hướng chia đôi tài sản chung
quyền sdụng đất thửa số 282, tờ bản đs9 căn nhà trên đất, ông Xanh
đồng ý bà Hồ được quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở trên đất, bà Hồ phải
trả cho ông Xanh ½ giá trị đất nhà trên đất số tiền 2.080.574.800 đồng
nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên kháng cáo của ông
Xanh không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Trung Tú, ông Hồ Xuân Xanh, Hội đồng
xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[4.1] Khi ly hôn, bà Hồ yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 14/9/2007 giữa ông Hồ Xuân Xanh ông Nguyễn Trung đối với thửa đất
số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm,
tại ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành ph Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang do Đặng
Thị Thu Hồ ông Hồ Xuân Xanh đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ, u cầu ông
hoàn trả cho Hồ 50% giá trị thửa đất số 42 với stiền 4.469.780.000
đồng. Ông Nguyễn Trung yêu cầu công nhận liệu lực hợp đồng chuyển nhượng
ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh và ông Tú, yêu cầu được quản, sử dụng thửa đất
số 42, không đồng ý hoàn trả 50% giá trị QSDĐ cho Hồ. Ông Hồ Xuân Xanh
thống nhấtu cầu của ông Tú.
[4.2] Ông Xanh và Hồ đều thống nhất nguồn gốc thửa đất số 42 của
cha mruột của ông Xanh ông Văn Đài Hồ Thị Em khai phá trước
năm 1975, giấy chứng nhận QSDĐ cấp lần đầu vào ngày 18/11/2005, không
số thửa đất và tờ bản đồ, tổng diện tích 16.005,3m
2
do ông Xanh Hồ đứng
tên giấy chứng nhận QSDĐ. Ngày 30/8/2006, ông Xanh Hồ chuyển nhượng
14
cho ông Nguyễn Thành Sang diện tích đất 1.516m
2
chuyển nhượng cho ông
Văn Tỵ diện tích đất 3.201m
2
; Nhà nước thu hồi làm đường diện tích đất 363,1m
2
vào ngày 26/7/2012, diện tích còn lại 10.652.2m
2
. Đến 08/10/2012, ông Xanh
làm thủ tục cấp đổi, tách thành 03 thửa (diện tích giảm 1.946,6m
2
do sai số đo đạc
hình thể thửa đất thay đổi) thửa số 40, diện ch 6.876,4m
2
, đã chuyển nhượng
cho ông Phan Văn Hiến vào ngày 20/11/2012; thửa số 94, diện tích 1.285,5m
2
, đã
chuyển nhượng và thửa số 42, diện tích 543,7m
2
hiện đang tranh chấp.
[4.3] Ông Xanh bà Hthống nhất đã chung sống với nhau như vợ chồng
từ năm 1989, đến năm 2004 thì đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Việc
ông Xanh cho rằng Hồ đứng tên chung trong giấy chứng nhận QSDĐ ngày
18/11/2005 do biểu mẫu của Nhà ớc quy định nếu không t phải c
nhận tình trạng hôn nhân là độc thân không căn cứ. Bởi lẽ sau khi Ủy ban
nhân dân huyện Phú Quốc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Xanh và bà Hồ
cùng đứng tên, ông Xanh ng không thắc mắc khiếu nại gì. Sau khi Nhà
nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ, ông Xanh và Hồ đã hợp đồng chuyển
nhượng đất cho ông Nguyễn Thành Sang, ông Văn T, ông Phan n Hiến,
hiện còn lại diện ch đất 543,7m
2
tại thửa số 42 đang tranh chấp. Do quyền sử
dụng đất thửa số 42 hình thành trong thời kỳn nhân của ông Xanh bà Hồ,
ông Xanh không chứng minh được thửa đất số 42 là tài sản riêng của ông Xanh
nên Tòa án cấp thẩm xác định thửa đất số 42, tbản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
tài sản chung của vợ chồng ông Xanh và bà Hồ là có căn cứ. Ông Xanh kháng
cáo xác định thửa 42 là tài sản riêng của ông Xanh nhưng không cung cấp tài
liệu, chứng cứ để chứng minh khángo của ông Xanh cũng không phù hợp
như đã nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4.4] Đối với hợp đồng chuyển nhượng ngày 14/9/2007: Các đương sđều
thống nhất ngày 14/9/2007 ông Xanh thỏa thuận chuyển nhượng đất với ông
Văn Ninh thửa số 42, tbản đồ số 9, tại ấp Suối Mây, Dương Tơ, thành phố
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang với giá chuyển nhượng 120.000.000 đồng, hợp đồng
được kết giữa ông Xanh ông Ninh, không chữ của Hồ, hợp đồng
không được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật, ông Xanh đã nhận
tiền (không chia cho bà Hồ) và đã giao đất cho ông Ninh. Đến ngày 29/11/2017,
ông Ninh hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ thửa số 42 do ông Xanh và bà Hồ
đứng tên QSDĐ cho ông Nguyễn Trung với giá chuyển nhượng 1,9 tỷ đồng,
hợp đồng không được công chứng, chứng thực, ông Ninh đã nhận đủ tiền đã
giao đất cho ông Tú quản lý, sử dụng từ năm 2017 đến nay. Sau đó ông Ninh đề
nghị ông Xanh ông tkết lại hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với
thửa số 42 để khi làm thủ tục giấy tkhông còn liên quan đến ông Ninh. Nội dung
này được các đương sự thừa nhận.
[4.5] Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 14/9/2007 gia ông Xanh
ông Ninh; hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 29/11/2017 giữa ông Ninh
ông và hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh và ông
Tú đều không được công chng, chng thực theo quy định pháp luật, đã vi phm
các quy định v giao kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Thời điểm nhận chuyển
nhượng đất thì giấy chứng nhận QSDĐ đã ghi nhận chủ sử dụng đất thửa số 42 là
15
ông Xanh Hồ, khi thỏa thuận chuyển nhượng đất với ông Ninh, ông Xanh
đã giao toàn bộ giấy tờ liên quan cho ông Ninh khi ông Ninh chuyển nhượng
đất lại cho ông Tú, ông Ninh cũng đã giao toàn bgiấy tờ liên quan cho ông Tú,
trong đó bản chính giấy chứng nhận QSDĐ thửa số 42. Điều này đã chứng
minh ông Ninh và ông Tú biết thửa đất số 42 tài sản chung của ông Xanh và
Hồ nhưng các đương sự vẫn kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ nên việc
chuyển nhượng đất giữa các đương sự đều không hợp pháp. Tại phiên tòa thẩm,
ông Tú và bà H cũng thừa nhận khoảng năm 2018 các đương s có gặp nhau để
thỏa thuận về việc chuyển nhượng đất thửa số 42 nhưng không thỏa thuận được.
Mặt khác, thửa đất số 42 tài sản chung của vợ chồng nhưng ngày 14/9/2007
ông Xanh ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Ninh, khi không có sự đồng
ý của Hồ không đúng quy định pháp luật, số tiền chuyển nhượng đất ông
Xanh cũng không chia cho Hồ nên hợp đồng hiệu. Trong vụ án này, t
việc ông Xanh thiếu chung thủy (bút lục số 200), làm cho mối quan hệ hôn nhân
giữa ông Xanh và bà Hồ không hạnh phúc dẫn đến việc ly hôn. Mặc dù thửa đất
số 42 nguồn gốc của cha mẹ ông Xanh tặng cho vchồng, nhưng trong kỳ
hôn nhân ông Xanh thiếu chung thủy dẫn đến ly hôn nên khi xem xét chia tài
sản chung nguồn gốc của cha mẹ ông Xanh cần phải chia cho ông Xanh ít
hơn, phải bảo vệ các quyền lợi của ph nữ sau ly hôn, ông Xanh đồng ý chuyển
nhượng đất cho ông . Do đó việc Tòa án cấp thẩm đã nhận định quyết
định hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh ông
Ninh hiệu lực 50% đối với phần i sản của ông Xanh, đối với 50% tài sản
của Hồ không hiệu lực. Do hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Xanh
ông Ninh vào ngày 14/9/2007 hiệu một phần nên c hợp đồng chuyển
nhượng đất còn lại cũng hiệu một phần.
[4.6] Sau khi nhận thửa đất số 42, ông đã xây dựng công trình, nhà
kết cấu khung tông cốt thép, móng đá, cột gạch, tường xây gạch, mái tole,
song vuông, nền lát gạch ceramic; nhà kho, nhà tiền chế, không thể di dời được. Bà
Hồ không yêu cầu được nhận đất mà chỉ yêu cầu người đang quản lý, sử dụng đất
ông Tú hoàn trả 50% giá trị QS. Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên, Tòa án cấp thẩm không tuyên hiệu hợp đồng chuyển nhượng đất
ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh, ông Ninh ông chấp nhận một phần yêu
cầu của Hồ buộc ông Tú có trách nhiệm hoàn trả cho bà Hồ 50% giá trị QSDĐ
của thửa đất số 42 với số tiền 4.469.780.000 đồng là phù hợp.
[4.7] Việc ông ng nhn hiệu lực của hp đồng chuyển nhượng QS
ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh ông đối với diện tích đất 543,7m
2
, thửa số
42, tờ bản đồ số 9, loại đất cây lâu năm, ti ấp Suối Mây, xã Dương Tơ, thành phố
Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, trở về mốc 1
theo mãnh trích đo địa chính số 448 ngày 03/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, do ông Hồ Xuân Xanh
bà Đặng Thị Thu Hồ đứng tên giấy chng nhận QSDĐ, hiện ông Tú đang quản
do chưa phù hợp nđã nhận định trên nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận
yêu cầu độc lập của ông Tú là phù hợp.
16
[4.8] Ông kháng cáo yêu cầu sửa Bn án thẩm, bác yêu cầu của Hồ
về việc buộc ông trả 50% gtrthửa đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích
543,7m², tại ấp Suối Mây, Dương Tơ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang,
ông Xanh kháng cáo yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông
Xanh và ông nhưng các đương skhông cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng
minh. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông trình
bày quá trình sử dụng đất, ông Tú có cải tạo đất làm tăng giá trị nên buộc ông Tú
hoàn trả 50% giá trị đất là không hợp lý nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ
để chứng minh. Trong khi đó Hcho rằng thửa đất số 42 trước đó đã bằng
phẳng, nội dung này được ông Xanh thống nhất nên cơ sở xác định khi ông
vào sử dụng đất cải tạo đất nhưng để xây dựng nhà các công trình, kiến
trúc khác trên đất nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt gia đình và công việc của
ông Tú, không làm tăng giá trị đất như người đại diện theo ủy quyền của ông Tú
trình bày nên kháng cáo của ông Tú, ông Xanh không được Hội đồng xét xử phúc
thẩm chấp nhận.
[5] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn
do chưa phù hợp như đã nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn do
phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[7] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị
không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh, ông Nguyễn Trung do
phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[8] V án phí phúc thẩm: Ông Xanh người cao tuổi nên được miễn nộp
tiền án phí dân sự phúc thẩm, ông phải chịu án phí dân s phúc thẩm theo quy
định pháp luật
[9] Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều
502 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 33, 38, 43, 59 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồ Xuân Xanh và ông Nguyễn Trung
Tú.
Giữ nguyên bn án sơ thẩm số: 06/2025/HN-ST ngày 13 tháng 02 năm
2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (nay Tòa án nhân
dân Khu vực 8 - Đồng Tháp).
1. Về chia tài sản chung:
17
1.1. Không chấp nhận yêu cầu của ông HXuân Xanh yêu cầu Đặng Thị
Thu Hồ chia tài sản chung là giá trị ½ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở
đối với thửa đất số 282, tờ bản đồ số 9 do Đặng Thị Thu Hồ đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.2. Đặng Thị Thu Hồ được quyền sử dụng đất thửa số 282, tbản đsố
9 và được quyền sở hữu căn nhà tọa lạc tại số 08, đường Âu Cơ, Khóm 1, Phường
2, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp (hiện bà Hồ đang quản lý).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đặng Thị Thu Hồ yêu cầu tuyên
hiệu hợp đồng chuyển nhượng đất đề ngày 14/9/2007 giữa ông Xanh và ông Tú,
yêu cầu ông Nguyễn Trung hoàn trả 50% giá trị quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
theo chứng thư định giá ngày
04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh Vượng, thành tiền
4.469.780.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu bảy trăm tám mươi
ngàn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Trung Tú. Công nhn hiệu
lực của hp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/2007 giữa ông
Hồ Xuân Xanh và ông Nguyễn Trung Tú.
3.1. Ông Nguyễn Trung được quyền sử dụng phần đất chuyển nhượng
có diện tích 543,7m
2
, thuộc thửa đất số 42, tbản đồ số 9, loại đất cây lâu năm, do
ông Hồ Xuân Xanh Đặng Thị Thu Hồ đứng tên giấy chứng nhận quyền s
dụng đất (hiện ông đang quản lý), ta lc ti ấp Suối Mây, Dương Tơ, thành
phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang), được
thể hiện tại các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, trở về mốc 1 theo mãnh trích đo địa chính số
448 ngày 03/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai thành phố Phú
Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để khai, đăng ký, điều chỉnh để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy
định của pháp luật.
Đề nghị quan thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa số 42 đã cấp cho ông Hồ Xuân Xanh và bà Đặng Thị Thu Hồ để cấp lại cho
ông Nguyễn Trung Tú diện tích đất theo bản án đã tuyên trên.
(Có mãnh trích đo địa chính ngày 03/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai thành phố Phú Quốc; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
18/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc và chứng thư định giá ngày
04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh Vượng kèm theo).
3.2. Ông Nguyễn Trung Tú trách nhiệm hoàn trả cho Đặng Thị Thu
Hồ 50% giá trị QSDĐ thửa số 42, tờ bản đồ số 9, diện tích 543,7m
2
theo chứng
thư định giá ngày 04/12/2023 của Công ty TNHH Định giá Thịnh Vượng, thành
tiền 4.469.780.000 đồng (Bốn tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu bảy trăm tám
mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
18
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật
dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
4.1. Ông Hồ Xuân Xanh Đặng Thị Thu Hồ là người cao tuổi theo quy
định pháp luật đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí nên được miễn nộp tiền
án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Ông Nguyễn Trung phải chịu 112.469.780 đồng án phí dân sự
thẩm; được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai
thu số 0007836 ngày 26/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đồng Tháp. Ông
Tú còn phải nộp tiếp số tiền là 112.169.780 đồng.
5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
5.1. Ông Hồ Xuân Xanh phải chịu 4.535.000 đồng, ông Xanh đã nộp đủ
chi xong.
5.2. Đặng Thị Thu Hồ ông Nguyễn Trung Tú mỗi người chịu
10.323.500 đồng, bà Hồ đã nộp tạm ứng trước số tiền là 20.647.000 đồng, do đó
ông trách nhiệm trả lại cho bà Hồ 10.323.500 đồng.
6. Về án phí phúc thẩm:
6.1. Ông Hồ Xuân Xanh người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí
dân sự phúc thẩm.
6.2. Ông Nguyễn Trung phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc
thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án pđã nộp 300.000 đồng theo biên lai
số 0008155 ngày 26/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc,
tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Đồng Tháp).
7. Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Liên Hiệp – Phạm Minh Tùng
Nguyễn Thị Thuý Hng
19
20
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tỉnh;
- TAND Khu vực 8;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Phòng GĐ, TT, KT và THA;
- Lưu: VT, HS (Hạnh)
Nguyễn Thị Thúy Hằng
21
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Liên Hiệp – Phạm Minh Tùng
Nguyễn Thị Thuý Hng
Tải về
Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT Bản án số 36/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất