Bản án số 34/2018/HSST ngày 27/03/2018 của TAND tỉnh Nghệ An về tội giết người và che giấu tội phạm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2018/HSST

Tên Bản án: Bản án số 34/2018/HSST ngày 27/03/2018 của TAND tỉnh Nghệ An về tội giết người và che giấu tội phạm
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Nghệ An
Số hiệu: 34/2018/HSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/03/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN Độc lập - Tự do - Hạnh p húc
Bản án số: 34/2018/HSST
Ngày 27/3/2018
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Ch to phiên t: Ông Trần Ngọc Sơn
Thẩm phán: Bà Lg Thị Duyến
Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Thanh
Ông Hồ Viết Tùng
Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Giang – Thẩm tra
viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông
Nguyễn Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27/3/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét x sơ thẩm
công khai v án hình s th s: 11/2018/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2018 đối
với các bị ca
́
o có họ và tên như sau:
1. Nguyễn Doãn K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/6/1998; Nơi
ĐKHKTT và chỗ : Xóm 3A, Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm
ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo :
Không ; Con ông Nguyễn Doãn V, sinh năm 1957 Đinh Thị Th, sinh năm
1961; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ 03; Vợ, con: Chưa có; Tiền án,
tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2017 đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Doãn L; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/12/1985; i
ĐKHKTT và chỗ : Xóm 3A, Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm
ruộng; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo :
Không ; Con ông Nguyễn Doãn V, sinh năm 1957 Đinh Thị Thanh, sinh năm
1961; anh chem ruột 03 người, bcáo con đầu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án,
tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam t ngày 01/8/2017 đến ngày
29/12/2017; có mặt.
3. Nguyễn Doãn V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1957; Nơi
ĐKHKTT và chỗ : Xóm 3A, Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm
2
ruộng; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo :
Không ; Con ông Nguyễn Doãn V, chết Nguyễn Thị D, chết; anh chị em ruột
04 người, bị cáo con thứ 2; Vợ Đinh Thị Thanh, sinh năm 1961; Con: 03
con, lớn 32 tuổi, nhỏ 20 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt.
4. Nguyễn Đình H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/01/1981; Nơi
ĐKHKTT chỗ : Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái
xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo :
Không ; Con ông Nguyễn Đình Canh, sinh năm 1953 Hoàng Thị Bích, sinh
năm 1950; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là thứ 4; Vợ Nguyễn Thị Hồng, sinh
năm 1982; Con: 03 con, lớn nhất 09 tuổi, nhỏ 01 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2017 đến ngày 09/10/2017; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Doãn K: Luật Thái Hồng Hạnh, Văn
phòng luật sư Thái Hồng Hạnh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An; có mặt.
+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Doãn L: Luật Phan Thị Sự, Văn
phòng luật sư Dung Sự và cộng sự, đoàn luật sư Nghệ An; có mặt.
+ Đại diện hợp pháp của người bị hại: chị Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1990
có mặt. Ông Nguyễn Minh, sinh m 1949- mặt; bà Đinh Thị n, sinh
năm 1950 vắng mặt.
Đều trú tại: Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Tú Trung Hiếu, sinh
năm 2013; cháu Nguyễn Thị Thảo Nguyên, sinh năm 2017- Có mặt
Đều trú tại: Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
+ Người làm chứng:
Anh Nguyễn Viết Thanh, sinh năm 1997 vắng mặt
Địa chỉ: Xóm 2B, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Chị Nguyễn Thị Hồng, sinh năm 1982 có mặt.
Địa chỉ: Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 có mặt.
Địa chỉ: Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Chị Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1988 có mặt.
Địa chỉ: Xóm 3A, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Cháu Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 2005 vắng mặt.
Người giám hộ cho cháu Thảo chị Nguyễn Thị Xoan (Mẹ ruột cháu Thảo)-
vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm 1, xã Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An.
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 31/7/2017, Nguyễn Doãn K, một mình đi bộ từ nhà
đến Nhà n hóa xóm 3A, Y B, huyện H, tỉnh Nghệ An để chơi. Tại cổng Nhà
văn hóa m 3A, K gặp Nguyễn Viết Thanh, sinh năm 1997 Đào Văn Chung,
sinh năm 1987 đều trú cùng xóm với K. Tại đây, K Thanh trêu đùa anh Chung:
“Dừ ta đi tán gái hay ăn chè”, anh Chung trả lời: Tau không tin bây, bây toàn lừa
tau”. K nói: Anh không tin thì thôi”, anh Chung trả lời: “Tau không tin”. Cùng lúc
này, anh Nguyễn Hùng, sinh năm 1985 trú cùng xóm 3A một mình điều khiển
xe máy đến và nói với K: “Mi là cấy đồ mấy dạy”, K trả lời: “Em nói gì anh mà anh
nói em rứa”, anh Hùng nói: “Hai anh em bây đã chập còn nói họ”, K nói: “Chập
chập cái l…”. Anh Hùng liền xuống xe máy đánh K. Bị đánh, K bỏ chạy về nhà
lấy một con dao, loại dao bấm dưới đầu giường của mình nằm rồi chạy ra phía
Nhà văn hóa xóm 3A. Khi đến ngã tư gần Nhà văn hóa xóm 3A, K gặp Thanh đang
đi bộ. Thanh can ngăn nói với K: Chấp chi thằng say rượu”; Đòng thời, Thanh
ôm K đi về nhà của K. Trên đường đi, K nói với Thanh: “Có phải say thích đập ai là
đập à, răng không đập thằng khác mà đập tau”. Quá trình đi về đến cổng nhà mình,
K chửi: “C…, l thằng Hùng Minh”. Vừa lúc này, Nguyễn Doãn L, trú cùng xóm
3A (Anh trai của K) từ trong nhà đi ra gặp K hỏi: Chuyện chi rứa”, K kể lại sự
việc bị đánh, L nói: “Để tau xuống nói chuyện cho”. Nói xong, L đi bộ đến gặp
Hùng, K cầm dao bấm đi theo đến ngã tư nhìn về phía cổng Nhà văn hóa xóm 3A.
Lúc này, L đến đứng trước xe máy của anh Hùng, L nói: “Khi nãy mi mần chi em
tau đó”, anh Hùng đó: “Anh em bây đến đập tau à”. Đồng thời, anh Hùng dùng tay
đánh vào mặt của L. Lúc này, K cầm dao bấm chạy đến. Thấy vậy, anh Hùng xuống
xe máy tiến đến phía K định đánh K liền bị K bật bấm lưỡi dao ra rồi cầmtay phải
đâm một nhát trúng vào cổ của anh Hùng. Sau khi đâm anh Hùng, K rút dao ra quay
người bỏ chạy, L chạy theo K về nhà. Đến cổng nhà mình, K cầm con dao bấm vứt
qua bờ tường rào vào trong vườn rồi cùng với L vào nhà tắt điện khóa cửa. Còn anh
Hùng bị đâm đi lùi lại khoảng 02 bước chân rồi ngã gục ngay xuống mặt đường
tông, được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả anh Hùng bị chết trên đường đi cấp
cứu.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Nguyễn Đình H, sinh năm 1981 trú tại xóm
3A,xã Y B, huyện H , tỉnh Nghệ An điều khiển xe máy đi đến nhà Nguyễn Doãn V,
sinh năm 1957 (Bố đẻ của L K) cùng xóm 3A. Khi đi đến ngã gần Nhà văn
4
hóa xóm 3A, H gặp V một mình điều khiển xe máy đi ngược chiều, điều khiển xe
máy sau V Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 trú cùng xóm 3A, Y B, huyện H,
tỉnh Nghệ An. H V dừng xe máy, H nói: “Tình hình thằng Hùng chết rồi, nói
quân nớ ra đầu thú”. V, H Nguyễn Thị L điều khiển xe máy đi về nhà V. Tại
cổng nhà V, H gọi: L ơi ra anh hỏi”. Đang nằm trong nhà, nghe tiếng H gọi,
Nguyễn Doãn L dậy bật điện và đứng cửa phòng khách. H V điều khiển xe
máy đi vào trong sân. V H đi đến đứng thềm phòng khách (phía trên sát với
bậc tam cấp). H thấy Nguyễn Doãn L đứng ở cửa phòng khách liền nói: “L ơi ra đầu
thú đi em ạ, đường mô hắn cũng chết rồi”. Vừa lúc này, Nguyễn Thị L đến và đứng
cùng với H và V ở thềm phòng khách. Nghe thấy H i với Nguyễn Doãn L, K nằm
trong giường phòng khách nói: “Ai làm kẻ đó chịu để em đi đầu thú cho”. V liền
gọi K: “Con ra đây”, K từ trong giường đi ra đứng ở thềm phòng khách cùng với L,
H, Nguyễn Thị L V. V liền hỏi K Nguyễn Doãn L: “Xảy ra án mạng cha hỏi,
hai đứa bây đứa đâm anh Hùng”, K trả lời: Con đâm, người làm thì người
đó chịu, để con đi tự thú”. V nói: “Con ra tự thú đi”. Nguyễn Doãn L nghe vậy liền
nói: “Để anh đi tự thú cho, em ở nhà mần công việc giúp cha mẹ trả nợ”. H nói với
Nguyễn Doãn L: “Thôi em ra đầu thú đi, để thằng K nhà làm ăn giúp cha mẹ
trả nợ”. K nói: “Con làm thì con chịu”/. H nói với Nguyễn Doãn L: L mặc đồ
dài, anh chở đi tự thú”. Đồng thời, H xuống sân quay xe máy, đầu xe hướng ra cổng
để chờ L. Tại thềm phòng khách, V nói với Nguyễn Doãn L: “Con đi nhận tội thay
em thì đi tự thú, cha cảm ơn con”. Nguyễn Doãn L đi vào phòng mặc quần áo dài,
Nguyễn Thị L nói với V: “Con ng con, anh đi nhận tội thay em cũng
được”. Lúc này, Nguyễn Doãn L mặc quần áo dài ra ngồi sau xe máy của H. H điều
khiển xe máy chở Nguyễn Doãn L đi đầu thú. Đến khoảng 00 giờ ngày 01/8/2017,
khi K đang nằm ngủ. V gọi K dậy và nói: “Con dùng dao chi mà đâm người ta chết
rứa”, K trả lời: “Con đâm bằng dao bấm”, V nói: “Dừ mô rồi”, K nói: “Quăng ngoài
vườn”, V nói: “Con ra tìm con dao nớ vô đây cho cha”. K đi ra vườn tìm khoảng 10
phút thấy nhặt con dao lúc đầu K đã vứt rồi đưa vào cho V xem. V nói:
“Anh đi nhận hộ rồi, con đi rửa con dao rồi đưa lại cho cha”. K im lặng không nói
cầm con dao đi ra nhà tắm, K dùng nước rửa sạch con dao rồi cầm vào đưa cho
V. V nói K đi ngủ, còn mình thì ngồi tại bàn ghế phòng khách. Đến khoảng 02 giờ
ngày 01/8/2017, V cầm theo con dao bấm mà K đưa đi ra đến gần hiện trường rồi
ném con dao qua hàng cây dứa dại vào trong vườn nhà Huệ Biện. Sau khi ném
con dao mà K dùng để đâm anh Hùng chết, V đi đến nhà anh Hùng. Đến khoảng 06
5
giờ cùng ngày, V vnhà gọi K dậy nói: “Anh đi nhận hộ rồi thì con tuyệt đối
không được nói cho ai biết”.
Ngày 01/8/2017, quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã trưng
cầu Giám định viên Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An giám định
nguyên nhân chết và giám định dấu vết sinh vật đối với vật chứng của vụ án.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 186/KL-PC54(PY) ngày
09/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận nguyên nhân
chết của anh Nguyễn Hùng: Suy tuần hoàn cấp do vết thương làm đứt động
mạch thân cách tay đầu bên trái.
Tại bản kết luận giám định số: 38/KL-PC54(SV) ngày 10/8/2017 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu máu thu của tử thi Nguyễn Hùng gửi tới giám định thuộc nhóm máu
AB.
Trên con dao nhọn gửi giám định có dính máu, do lượng dấu vết quá ít nên
không thể xác định được loài máu và nhóm máu.
Các vết chấm màu nâu dính trên chiếc áo phông gửi giám định không phải
dấu vết máu.
Ngày 15/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An Công
văn số 1234/HS( Đ 3) đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An biện
luận dấu vết như sau: Tất cả các vết thương thể hiện ở điểm 1.3; 1.4; 1.5 và 1.6 mục
khám ngoài, phần giám định Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 186/KL-
PC54(PY) đề ngày 09/8/2017 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nghệ An, là do sự tác
động qua lại giữa cơ thể với vật tày có bề mặt không nhẵn tạo nên”.
Ngày 15/8/2017, quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An ra quyết
định trưng cầu giám định số 172 trưng cầu Giám định viên Viện pháp y tâm thần
Trung ương giám định tâm thần đối với Nguyễn Doãn L.
Tại kết luận giám định pháp y m thần số 426/KLGĐ ngày 07/12/2017 của
Viện pháp y tâm thần Trung Ương Bộ y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện
hành vi phạm tội tại thời điểm giám định bị can Nguyễn Doãn L bị bệnh chậm
phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 mã số
F70. Tại các thời điểm trên bị can hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành
vi.
Vật chứng vụ án: 01 (Một) con dao, loại doa bấm gập, một lưỡi sắc, mũi
nhọn. Phần lưỡi cán dao làm bằng kim loại, dài 23cm, phần lưỡi dao dài
11cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 2,4cm.
6
01 (Một) chiếc áo phông ngắn tay cổ tròn màu xanh, loại áo nam. Mặt
trước áo có các chữ cái A, W, E, S, O, M, E hàng trên S, H, T, R, T hàng
dưới.
Vtrách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Hạnh (Vợ nạn nhân) là người đại
diện hợp pháp cho người bhại yêu cầu bị can Nguyễn Doãn K bồi thường chi phí
mai táng với số tiền 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng); đền tổn thất về
mặt tinh thần tiền khắc phục hỗ trợ nuôi hai con nhỏ của anh Hùng chị Hạnh
đến đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật; hỗ trợ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng
bố mẹ đẻ của anh Hùng và đề nghị xử lý đối với Nguyễn Doãn K theo quy định của
pháp luật. Hiện gia đình của Nguyễn Doãn K đã bồi thường cho gia đình chị Hạnh
80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
Với nội dung trên, Bản cáo trạng số 30/VKS- P2 ngày 31 tháng 01 năm 2018
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tbị cáo Nguyễn Doãn
K về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999;
Nguyễn Doãn L, Nguyễn Doãn V, Nguyễn Đình H về tội “Che giấu tội phạm” quy
định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy
tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm n khoản 1 điều 93, điểm p, b khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật
hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn K từ 18 đến 19 năm tù. Thời hạn
tù tính từ ngày 08/8/2017.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ
luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn V từ 09 đến 12 tháng tù nhưng
cho hưởng án treo thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình
sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn L từ 06 đến 09 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình
sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H từ 09 đến 12 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 1999 tịch thu tiêu
hủy 01 con dao là hung khí gây án.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 585, Điều 591, Điều 593 Bộ luật dân sự
năm 2015 buộc bị cáo bồi thường chi phí tiền mai táng phí từ 20 triệu đến 30 triệu
đồng. Tiền tổn thất tinh thần cho chị Hạnh, ông Minh Nga từ 80 triệu đến 90
triệu đồng. Tổng cộng 02 khoản từ 100 triệu đến 120 triệu đồng nhưng được trừ 80
7
triệu đồng đã bồi thường. Tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Hùng, chị Hạnh cháu
Nguyễn Trung Hiếu, cháu Nguyễn Thị Thảo Nguyên mỗi cháu một tháng từ 1
triệu đến 1,5 triệu đồng kể từ ngày 31/7/2017 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Luật sư bào chữa cho bị cáo K: Về hành vi phạm, tội danh không ý kiến
tranh luận. Nhưng mức án mà Viện kiểm sát đưa ra là nặng đối với bị cáo. Trong vụ
án này, có một phần lỗi của người bị hại, thiếu kiềm chế, đã đánh K và L nên bị cáo
K phần nào bị bức xúc. Sau khi phạm tội bị cáo muốn đi tự thú nhưng bị H, V ngăn
cản. Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Gia đình
bị cáo đã cố gắng khắc phục thiệt hại được 80 triệu đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử
xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt là 12 năm.
Luật bào chữa cho bị cáo L: Không tranh luận về tội danh. Qtrình điều
tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, năn năn hối cải. Bị cáo bị tâm
thần nhẹ, chậm phát triển đã có kết luận giám định. Tại thời điểm phạm tội bị cáo bị
hạn chế khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Bị cáo nhân thân tốt, nhận
thức pháp luật hạn chế, gia đình bị cáo bố có công với Nhà nước. Đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét về hình phạt cho bị cáo L, xét xử mức thấp nhất của khung hình
phạt.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về bồi thường dân sự, bị cáo Nguyễn Doãn K đề nghị Hội
đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
Đại diện hợp pháp của người bị hại chị Nguyễn Thị Hạnh, ông Nguyễn
Minh đề nghị xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đề nghị giải quyết
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về các quyết định hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định ttụng của
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không người nào ý kiến hoặc khiếu nại v
hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
8
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Doãn K, Nguyễn Doãn L,
Nguyễn Doãn V và Nguyễn Đình H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố đúng, không oan. Bị cáo
K khai chính bị cáo người dùng dao đâm anh Nguyễn Hùng vào lúc hơn 21
giờ ngày 31/7/2017 tại khu vực Nhà văn hóa xóm 3A Y B, huyện H, tỉnh Nghệ
An làm anh Hùng tử vong. Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H khai
do xuất phát từ quan hệ huyết thống cha, con, anh, em quan hệ hàng xóm, láng
giềng nên đã bàn bạc Nguyễn Doãn L nhận tội thay. Cũng tình cảm anh em nên
Nguyễn Doãn L đã ra đầu thú nhận tội thay. Xét thấy lời nhận tội của các bị cáo
phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai
các nhan chứng, kết quả giám định các tài liệu chứng cứ khác tại hồ vụ án
được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Đối chiếu hành vi của các bị cáo với các quy
định của Bộ luật hình sự đủ sở kết luận Nguyễn Doãn K phạm tội “Giết
người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999. Các bị cáo Nguyễn
Doãn L, Nguyễn Doãn V, Nguyễn Đình H phạm tội Che giấu tội phạm theo
khoản 1 điều 313 Bộ luật hình sư năm 1999 như Cáo trạng truy tố.
[3] Vụ án hai loại tội danh bị truy tố, Nguyễn Doãn K bị truy tố về tội
“Giết người”, Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H bị truy tvề tội
“Che giấu tội phạm”. Vì vậy cần đánh giá tính chất hành vi, tội danh truy tố, vai trò,
nhân thân đối với các bị cáo tương ứng với từng loại tội cho phù hợp.
[4] Hành vi phạm tội của bcáo Nguyễn Doãn K thuộc trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng, vụ án xảy ra gây hoang mang luận trong quần chúng nhân dân.
Chỉ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lời ăn tiếng nói mà bị cáo đã hành vi dùng dao
đâm anh Nguyễn Hùng, tước đoạt tính mạng của anh Hùng gây đau thương mất
mát cho gia đình bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh hội. vậy, cần
áp dụng hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị
cáo. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian dài nhằm cải tạo giáo dục
bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy
nhiên xét, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo muốn đi đầu thú nhưng bị cáo
Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H chị Nguyễn Thị L ngăn cản
với mục đích để Nguyễn Doãn L đi đầu thú nhận tội thay cho K về hành vi dùng
dao đâm chết anh Hùng. Nhưng, do ăn năn hối hận về việc làm của mình nên K đã
đến quan cảnh t điều tra ng an tỉnh Nghệ An đầu thú khai báo toàn bộ
hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, về
nguyên nhân xảy ra vụ án một phần lỗi của nạn nhân. Quá trình điều tra cũng
như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, đã tác động gia
đình khắc phục một phần hậu quả cho gia đình người bị hại. Đây các tình tiết
9
giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.
Ngoài ra, bị cáo có bố người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng
nhiều Huân, Huy chương. Đây tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nên cũng cần xem xét lượng hình cho bị cáo để thể
hiện sự khoan hồng của pháp luật, xbị cáo dưới mức khởi điểm đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm. Về tình tiết tự thú tại điểm o khoản 1 Điều 46
Bộ luật hình sự năm 1999 như Cáo trạng truy tố; Hội đồng xét xử thấy, vụ án phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng, xảy ra nhiều người biết. Sau hơn 01 tuần kể từ lúc xảy ra
vụ án Nguyễn Doãn K mới đến quan Công an khai báo về hành vi phạm tội của
mình. vậy, bị cáo chỉ được hưởng tình tiết đầu thú khoản 2 Điều 46 Bộ luật
hình sự năm 1999.
[5] Đối với tội Che giấu tội phạm: Các bị cáo Nguyễn Doãn V, Nguyễn
Doãn L, Nguyễn Đình H biết Nguyễn Doãn K là người dùng dao đâm chết anh
Hùng nhưng đã trao đổi, bàn bạc, phân tích thiệt hơn để Nguyễn Doãn L đi nhận
thay cho Nguyễn Doãn K. Hành vi của c bị cáo L, V H nguy hiểm cho
hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của quan tiến hành tố tụng, gây khó
khăn kéo dài cho công tác phát hiện, điều tra, truy tố xét xử vụ án. Mặt khác,
còn làm ảnh hưởng xấu, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.
[6] Đối với Nguyễn Doãn V: Bị cáo là bố ruột của bị cáo K và bị cáo L trong
vụ án. Sau khi K đâm chết anh Hùng bị cáo người biết L không pH người
gây ra cái chết cho anh Hùng, nhưng bị cáo L người hạn chế vnhận thức
hành vi nên V đã trao đổi bàn bạc với bị cáo Nguyễn Đình H, chị Nguyễn Thị L
để bị cáo L đứng ra nhận tội giết anh Hùng thay cho bị cáo K. Sau khi bị cáo L
đồng ý đi nhận tội thay cho K, V nói K đi tìm dao đem đi rửa sạch rồi cầm con dao
đó vứt khu vực sát hiện trường xảy ra vụ án. Hành vi của bị cáo V đã phạm vào
tội “Che giấu tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999.
Đáng lẽ ra khi bị cáo biết K người đâm chết anh Hùng bị cáo pH đưa K ra đầu
thú nhưng lại động viên L đi nhận tội thay K, gây khó khăn kéo dài thời gian
điều tra vụ án. Cần xét xử nghiêm đối với bị o. Tuy nhiên, cũng cần xem xét bị
cáo nguyên là quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam, tham gia kháng chiến chống
Mỹ cứu nước thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại nước CHDCND Lào. Sau khi phục
viên đến nay đều sinh sống sinh hoạt tại chi bộ xóm 3A, Đảng bộ sở xã Y B,
huyện H. Bị cáo luôn người Đảng viên gương mẫu, luôn đi đầu trong mọi công
tác của tập thể. Bị cáo 04 người con nhưng con gái đầu đã chết, người con trai
thứ 3 Nguyễn Doãn L bị bệnh tâm thần nên tất cả hy vọng đều mong chờ vào
người con trai út là Nguyễn Doãn K. Cũng vì tình cảm gia đình, lại được sự bàn bạc
của Nguyễn Đình H, Nguyễn Thị L và sự đồng ý đi nhận tội thay em của Nguyễn
10
Doãn L nên bị cáo V mới đồng tình che giấu tội phạm. Bị cáo là người có nhân thân
tốt, công với Đảng Nhà nước, được tặng thưởng huân, huy chương. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[6] Đối với bị cáo Nguyễn Doãn L: L anh trai ruột của K, tối ngày
31/7/2017 sau khi biết K bị anh Hùng đánh, L đã nói: “Để tau xuống nói chuyện
cho”. Sau khi biết K dùng dao đâm chết anh Hùng, K đã nhận với bđẻ Nguyễn
Doãn V muốn đi đầu thú. Nhưng Nguyễn Doãn L đã ngăn cản. Đồng thời được
sự bàn bạc trao đổi của Nguyễn Đình H Nguyễn Thị L nên L đã đi nhận tội
thay em ruột của mình K về hành vi dùng dao đâm chết anh Hùng. Hành vi của
Nguyễn Doãn L đã phạm tội “Che giấu tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ
luật hình sự 1999. Cần xét xử nghiêm minh đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng vì tình
cảm anh em trai ruột, lại được sự bàn bạc của V, H Nguyễn Thị L biết bản
thân L không thể giúp đỡ nhiều cho gia đình bằng K nên L mới đi nhận tội thay K.
Bị cáo nhân thân tốt, gia đình bị cáo bố người công với Nhà nước được
tặng thưởng Huân, Huy chương. Quá trình điều tra tại phiên a bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bên cạnh đó, bị cáo người bbệnh tâm thần dạng
nhẹ theo quy định Quốc tế F70. Bị hạn chế khả năng nhận thức khả năng điều
khiển hành vi của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ tại điểm n, p khoản 1, khoản 2
Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.
[7] Đối với Nguyễn Đình H: H là người mối quan hệ họ hàng với c bị
cáo V, K và L. Sau khi đến nhà V, bị cáo trực tiếp nghe rõ câu chuyện giữa V, K và
Nguyễn Doãn L về việc K đã dùng dao đâm chết anh Hùng. Mặc dù vậy, H đã trực
tiếp bàn bạc với bị cáo V, bị cáo L Nguyễn Thị L về những thiệt hơn trong việc
lo toan kinh tế gia đình giữa K L. Dẫn đến việc L đi đầu thú nhận tội thay cho K
về hành vi đâm chết anh Hùng và chính H là người chở L đến công an. Hành vi của
H đã phạm tội “Che giấu tội phạmquy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự
năm 1999. Cũng cần xét xử nghiêm minh để làm gương cho những người khác. Tuy
nhiên, cũng chỉ vì thấy thương cảm với hoàn cảnh của gia đình bị cáo Nguyễn Doãn
V, lại được sự đồng ý của Nguyễn Doãn L đi nhận tội thay K nên mới phạm tội. Bị
cáo nhân thân tốt, gia đình bị cáo anh em nội ngoại công với Đảng Nhà
nước. Tuy nhiên, các tài liệu bị cáo cung cấp tại hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để áp
dụng khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Quá trình điều tra và tại phiên tòa
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình tham gia công tác Đoàn địa
phương có nhiều thành tích góp phần giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy,
cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
11
Các bị cáo Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn V, Nguyễn Đình H đều nhân
thân tốt, nơi trú ràng. vậy cần xử phạt nghiêm minh đối với các bị cáo
nhưng xét thấy chưa cần cách ly ra khỏi đời sống hội mà cho các bị cáo cải tạo
tại địa phương và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo cũng đủ nghiêm.
[8] Đối với Nguyễn Thị L, mặc dấu hiệu che giấu tội phạm, nhưng
hành vi của L không yếu tố quyết định việc Nguyễn Doãn L đi đầu thú nhận tội
thay cho Nguyễn Doãn K. L không chứa chấp, nuôi dưỡng K đang trốn tránh pháp
luật, đưa K đi trốn hoặc tìm nơi cho K ẩn náu cũng như không hành vi cất giấu,
thủ tiêu tang vật vụ án. Xét thấy tính nguy hiểm về hành vi của Nguyễn Thị L
không cao nên Cơ quan điều tra không khởi tố Viện kiểm sát không truy tố L về
tội “Che giấu tội phạm là đúng pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra tại phiên tòa đại diện hợp
pháp của bị hại chị Nguyễn Thị Hạnh yêu cầu bo bồi thường tiền mai táng phí
45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng). Tiền bồi thường tổn thất tinh thần, cấp
dưỡng nuôi hai con của anh Hùng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi tiền cấp
dưỡng nuôi bố mẹ theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra tại phiên tòa
hai bên không thỏa thuận được, đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật. Hội
đồng xét xử thấy rằng yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hạnh chính đáng nhưng căn
cứ các quy định của pháp luật thì chỉ chấp nhận được các khoản sau:
- Tiền mai táng phí: chấp nhận mức 25.000.000đ (Hai ơi lăm triệu
đồng).
- Tiền tổn thất tinh thần: chấp nhận mức tối đa đnghị của Viện kiểm sát
90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng). Khoản tiền này những người thuộc hàng
thừa kế thứ nhất của người bị hại được hưởng.
- Tiền cấp dưỡng nuôi con: Đối với 02 con của chị Hạnh và anh Hùng: Hội
đồng xét xử xét thấy, trách nhiệm nuôi con của hai người. vậy, cần chấp nhận
mức khởi điểm như đnghị của đại diện Viện kiểm sát 1.000.000đ (Một triệu
đồng)/1 tháng kể từ khi tháng 8/2017 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
- Đối với yêu cầu cấp dưỡng bố mẹ của bị hại, Hội đồng xét xthấy rằng:
Ông Nguyễn Minh, Đinh Thị Sơn ngh nghiệp làm ruộng, không lương
hưu. Ông Nguyễn Minh được hưởng tiền trợ cấp thương binh mỗi tháng 1 triệu
đồng. Hiện ông Minh bà Nga nay đã già yếu nhưng tất cả các con của ông bà đều có
nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ. Ông Minh Sơn 7 người con, anh Hùng mất còn
lại 6 người, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi bố mẹ anh Hùng buộc bị cáo pH thực hiện. Vì
vậy chấp nhận ở mức 200.000đ/tháng/1 người cho đến khi ông Minh bà Nga chết.
12
[10] Về vật chứng: 01 (Một) con dao, loại dao bấm gập, một lưỡi sắc, mũi
nhọn hiện tại Cục thi hành án tỉnh Nghệ An. Phần lưỡi cán dao làm bằng
kim loại, dài 23cm, phần lưỡi dao dài 11cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao
2,4cm thu giữ của bị cáo Nguyễn Doãn K công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm
tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (Một) chiếc áo phông ngắn tay cổ tròn màu xanh, loại áo nam. Mặt
trước áo có các chữ cái A, W, E, S, O, M, E hàng trên S, H, T, R, T hàng
dưới thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí: Buộc các bị cáo pH chịu án phí Hình sự thẩm án phí dân sự
thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Doãn K phạm tội Giết người”; các bcáo Nguyễn
Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H phạm tội “Che giấu tội phạm”.
Áp dụng điểm n khoản 1 điều 93, điểm p, b khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật
hình sự năm 1999; điểm x khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm
2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn K 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tính từ
ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/8/2017.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ
luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn V 9 (Chín) tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thử thách 18 tháng. Thời hạn ththách tính từ ngày tuyên án
thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47;
Điều 60 Bộ luật hình snăm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn L 06 (Sáu) tháng
nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng. Thời hạn thử thách tính tngày
tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 313; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ
luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H 9 (Chín) tháng tù cho hưởng
án treo, thử thách 18 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H cho chính
quyền địa phương quản giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị
cáo trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, giám
sát bị cáo.
13
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 591; Điều 593
Bộ luật dân snăm 2015, buộc bị cáo Nguyễn Doãn K pH bồi thường cho đại diện
hợp pháp của người bị hại, cụ thể:
+, Tiền mai táng phí: 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng)
+, Tiền tổn thất tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bị
hại vợ chồng ông Nguyễn Minh Đinh Thị Sơn, chị Nguyễn Thị Hạnh
hai con cháu Nguyễn Trung Hiếu, cháu Nguyễn Thị Thảo Nguyên số tiền
90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng). Cụ thể mỗi người được hưởng 18.000.000đ
(Mười tám triệu đồng).
Tổng cộng 02 khoản 115.000.000đ (Một trăm mười lăm triệu đồng), bcáo
đã bồi thường được 80.000.000 (Tám mươi triệu đồng) nay còn pH bồi thường tiếp
cho gia đình bị hại 35.000.000đ (Ba ơi lăm triệu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Doãn K cấp dưỡng nuôi hai con chung của anh Hùng chị
Hạnh mỗi con 1.000.000 (Một triệu đồng)/ tháng ktừ tháng 8/2017 cho đến khi
các con đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng nuôi ông Minh, n mỗi người mỗi tháng
200.000đ thi hành kể từ tháng 8/ 2017 cho đến khi ông Minh và Sơn mất.
Về vật chứng: Áp dụng 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy
01 con dao, 01 áo phông đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa
quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ
An ngày 05/02/2018.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn
Doãn K pH chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự thẩm; 1.750.000đ (Một triệu
bảy trăm năm mươi nghìn) án pdân sự thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn) án
phí cấp dưỡng. Buộc bị cáo Nguyễn Doãn V, Nguyễn Doãn L, Nguyễn Đình H mỗi
bị cáo pH chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành án không thi hành các khoản phải thi
hành thì hàng tháng phải chịu khoản lãi suất bản do Ngân hàng Nhà ớc quy
định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi hành án
14
dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An;
- Cục THADS tỉnh Nghệ An;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
- Bị cáo; người bị hại;
- Người bào chữa;
- UBND xã Y B, h. H;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Ngọc Sơn
Tải về
Bản án số 34/2018/HSST Bản án số 34/2018/HSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất