Bản án số 34/2017/HC-ST ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh Khánh Hòa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2017/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 34/2017/HC-ST ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh Khánh Hòa
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 34/2017/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2017
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tòa án bác yêu cầu của người khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA
Bản án số: 34/2017/HC-ST
Ngày 21 - 9 - 2017
V/v khiếu kiện QĐ thu hồi
Giấy chứng nhận QSDĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: i Thị Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Hữu Lý
Ông Mai Gia Cát.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thúy Ngân Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phan Quang Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét
xử thẩm công khai vụ án thụ số 50/2016/TLST-HC ngày 27 tháng 12 năm
2016, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai trong trường
hợp thu hồi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 43/2017/QĐXXST-HC ngày 31 tháng 8 năm 2017, Quyết định hoãn
phiên tòa số 32/2017/QĐST-HC ngày 12/9/2017, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Hồ Quang K; địa chỉ: Đại lộ, thành phố C, tỉnh
Khánh Hòa;
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ: Tổ
dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa;
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Trí T; Phó Chủ
tịch (Văn bản ủy quyền số 2706/UBND ngày 06/6/2017).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồ Quang L; địa chỉ: Thôn T, xã CH, huyện C, tỉnh Khánh Hòa;
Ông Hồ Quang K người đại diện theo ủy quyền của ông Hồ Quang L
(Văn bản ủy quyền ngày 19/9/2017);
2. Ủy ban nhân dân xã CH;
Người đại diện hợp pháp của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông
Nguyễn Trọng K, Chủ tịch UBND xã CH là đại diện theo pháp luật của Ủy ban
nhân dân xã CH.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn T;
2. Ông Huỳnh Bá D;
3. Ông Lƣơng Xuân D;
2
4. Ông Diệp Thế G;
5. Ông La Thành C;
6. Ông Nguyễn Nhƣ Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 11 tháng 6 m 2014, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND)
huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số BT 816892, Số vào sổ cấp GCN: CH00812, công nhận
quyền sử dụng đất đối với 29865,7m
2
đất rừng sản xuất (thuộc thửa đất số 506
tờ bản đồ số 2 cho người sử dụng đất là ông Hồ Quang L và ông Hồ Quang K.
Ngày 09 tháng 12 năm 2014, Thanh tra huyện C Kết luận số 325/KL-
ĐTTra về kết quả thanh tra công tác cấp Giấy CNQSD đất của ông Hồ Quang L,
ông Hồ Quang K.
Ngày 21 tháng 4 năm 2015, UBND huyện C Kết luận số 1753/KL-
UBND về việc thanh tra công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông Hồ Quang L ông Hồ Quang K.
Ngày 23 tháng 11 năm 2015, UBND huyện C ban hành Quyết định số
2675/QĐ-UBND về việc thu hồi đất do ông Hồ Quang L lấn, chiếm sử dụng
(gồm 29865,7m
2
thửa đất số 506 tờ bản đồ số 2 80470m
2
đất thửa đất số 155
tờ bản đồ số 2) để giao cho UBND xã CH quản lý, sử dụng.
Ngày 21 tháng 3 năm 2016, UBND huyện C ban hành Quyết định số
372/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT
816892, Số vào sổ cấp GCN: CH00812 do UBND huyện C cấp ngày 11/6/2014
cho ông Hồ Quang L và ông Hồ Quang K.
Ngày 08 tháng 11 năm 2016, ông Hồ Quang K (sau đây gọi ông K)
đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 của
UBND huyện C.
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, ông Hồ
Quang K người khởi kiện đồng thời người đại diện hợp pháp của ông Hồ
Quang L cho là: Thửa đất số 506 tờ bản đồ số 2 là thửa đất do ông khai hoang từ
đất rừng đồi từ năm 1995, 1996, đến năm 1999, 2000 cha của ông Hồ Quang
L tiếp tục khai hoang cùng ông. Việc khai hoang sự chứng kiến của các ông
Huỳnh Bá D, Nguyễn Như Đ, La Thành C, Diệp Thế G, Nguyễn T, Lương Xuân
D. UBND huyện C đã xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha
con ông theo đúng trình tự quy định của pháp luật nhưng lại ban hành Quyết
định số 372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 thu hồi Giấy chứng nhận nói trên là
không thỏa đáng.
Kèm theo đơn khởi kiện, ông K đã giao nộp cho Tòa các tài liệu, chứng cứ
gồm: Các bản photo Quyết định s372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 của UBND
3
huyện C; Quyết định số 5808/UBND-XDNĐ ngày 07/9/2007, số 904/QĐ-
UBND ngày 22/5/2007 của UBND tỉnh K; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số BT 816892, số vào sổ cấp GCN: CH 00812 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp
cho ông Hồ Quang L và ông Hồ Quang K ngày 11/6/2014; Sổ hộ khẩu gia đình.
Quá trình giải quyết vụ án, ông K còn giao nộp bản photo các Biên bản
kiểm khối lượng bồi thường, htrợ đối với dán Hoàn vốn BT Hệ thống
đường nhánh Khu du lịch Bắc bán đảo C, xã CH.
Qtrình giải quyết ván tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của
người bị kiện cho : Căn cứ vào Kết luận số 1753/KL-UBND ngày 21/4/2015
của UBND huyện C Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 22/5/2007 của Ủy
ban nhân dân tỉnh K, việc ban hành Quyết định số 372/QĐ-UBND ngày
21/3/2016 của UBND huyện C về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BT 816892, số vào s CH 00812 ngày 11/6/2014 đúng nên UBND
huyện C giữ nguyên quyết định số 372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016.
Người đại diện hợp pháp của người bkiện còn trình bày, trước khi ban
hành Quyết định số 372/QĐ-UBND vviệc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp cho ông Long, ông Khải, quan Thanh tra huyện Cam Lâm đã
Kết luận số 325/KL-ĐTTra ngày 09/12/2014 xác định việc cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BT 816892, số vào sổ cấp GCN: CH 00812 không
đúng pháp luật do phần đất được cấp giấy chứng nhận có nguồn gốc là đất công.
Nội dung kết luận cụ thể như sau:
Ông Hồ Quang L (sau đây gọi ông L) đến CH sinh sống từ năm 1986
theo diện kinh tế mới được cấp 3000m
2
đất để canh tác. Năm 1992, ông
L đã bán toàn bộ diện tích đất nêu trên chuyển đến huyện S sinh sống. Năm
1999, ông L trở lại xã CH dựng nhà tạm trên đất của vợ chồng ông Nguyễn B để
ở.
Năm 2000, ông L không được chính quyền địa phương chấp thuận việc xin
đất trồng rừng nhưng vẫn tự ý chiếm đất với diện tích khoảng 12ha để trồng cây
(đào, keo, xoài…) và dựng nhà tạm để ở.
Từ năm 2003 đến 2007, UBND CH đã nhiều lần lập biên bản vi phạm
hành chính đối với ông L, buộc ông L phải tháo dcông trình xây dựng trái
phép để trả lại đất đã lấn chiếm.
Quá trình triển khai thực hiện dự án đường N theo Quyết định số
3678/QĐ.UB ngày 28/10/2002 của UBND tỉnh K, ngày 19/8/2003, ông L đăng
ký, khai 02 thửa đất thuộc trích đo địa chính khu đất số 14 (thửa số 08 diện
tích 58.686m
2
và thửa số 01 diện tích 43.706m
2
). Ngày 22/12/2003, UBND thị
C1 (nay thành phố C1) đã ban hành Quyết định số 1629/QĐ.UB thu hồi
18.269m
2
đất thuộc thửa đất số 01 và số 08 nói trên nhưng tại Quyết định số
3773/QĐ.UB ngày 02/12/2003 của UBND tỉnh K về việc phê duyệt kinh phí bồi
thường d án đường N, ông L không được xem xét bồi thường, htrợ về đất do
đất có nguồn gốc là đất công do UBND xã CH quản lý. Ông L khiếu nại việc bồi
thường, hỗ trợ về đất đối với dự án nói trên đã được xem xét giải quyết bằng
Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 22/5/2007 với nội dung bác khiếu nại của
4
ông L đồng thời chỉ đạo thu hồi đất ông Hồ Quang L chiếm trái phép để quản lý
theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do sự thay đổi về nhân sự của UBND
CH việc lưu hkhông chặt chẽ nên việc thu hồi đất đối với ông L vẫn
chưa được thực hiện.
Ông L và ông K có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với 14.928m
2
đất thuộc thửa 172 tờ bản đồ lâm nghiệp số 02. Hồ được Hội
đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH chấp thuận thông qua
và niêm yết theo quy định và chuyển đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
thẩm định. Do hình thể thửa đất ông L đăng khai không các cạnh khép
kín (cạnh của thửa đất phía nam giáp với ao nước là diện tích đất đã được Công
ty M khai thác cát xong), việc trích lục thửa đất chưa bảo đảm về mặt kỹ thuật
tính pháp lý, Văn phòng đăng quyền sử dụng đất chuyển hồ về UBND
CH để đo đạc, xác định lại diện tích thửa đất. Ông K đã trực tiếp liên hệ Tổ
đo đạc của Văn phòng đăng quyền sử dụng đất để thực hiện việc đo đạc lại.
Kết qu xác định ngoài thực địa, diện tích thực tế ông L, ông K sử dụng
29.865,7m
2
. So với diện tích đất 14.928m
2
ông L sử dụng thuộc thửa 172, tờ bản
đồ lâm nghiệp số 02 đo đạc năm 2007, diện tích thực tế ngoài thực địa
(29.865,7m
2
) tăng 14.937,7m
2
là do gia đình ông L san lấp ao để trồng keo lai
lấn thêm khoảng 8.000m
2
đất thuộc đất chưa sử dụng (do Công ty M khai thác
cát xong nhưng chưa thực hiện công tác trả lại mặt bằng cho UBND xã CH quản
lý) nên Văn phòng đăng quyền sử dụng đất đã hủy sthửa cho sthửa
mới là 506 đối với diện tích đất 29.865,7m
2
.
Qua kiểm tra thực địa soát bản đồ địa chính, thửa đất số 01 diện
tích 43.706m
2
sau khi thu hồi phần diện tích 18.170m
2
của ông L đthi công
tuyến đường giao thông N (nay đường Đ) được chia cắt thành hai khu đất,
khu đất phía Nam diện tích 14.928m
2
thuộc thửa 172 tờ Bản đồ lâm nghiệp
số 02 năm 2007 và khu đất phía Bắc diện tích 10.608m
2
hợp thửa với thửa số
08 trước đây diện tích 58.686m
2
tạo thành thửa 155 diện tích 80.470m
2
.
Khi phát hiện sự nhầm lẫn về vị tthửa đất (hồ xét cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông L, ông K đối với thửa 172 155 tờ bản đồ số
2, thửa 155 nằm phía Bắc đường Đ nhưng thực tế phần đất được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất nằm phía Nam đường Đ), UBND CH đã
Công văn số 89/UBND ngày 21/8/2014 vviệc đề nghị tạm dừng các quyền về
giao dịch đối với thửa đất 506 tờ bản đồ lâm nghiệp số 02 đã cấp cho ông L, ông
K.
Ông Nguyễn Trọng K Chủ tịch UBND xã CH trình bày: Việc xét đề nghị
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, ông K được UBND CH
thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi xem
xét hồ sơ, UBND CH không biết thửa đất cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Hồ Quang L và ông Hồ Quang K thuộc phần đất được giải
quyết tại Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 22/5/2007 của UBND tỉnh K nên
đã xác nhận để ông L và ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại
5
thửa số 506. Khi phát hiện sự sai sót, UBND đã đnghị UBND huyện C
hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông L, ông K.
Ông Diệp Thế G khai là: Năm 1998, ông mua đất để canh tác thì thấy ông
L, ông K đã canh tác tại thửa đất liền kề với đất của ông.
Các ông Nguyễn T, Huỳnh D, Lương Xuân D, Nguyễn Như Đ, La
Thành C đều khai đã thấy ông L, ông K khai hoang, canh tác tại thửa đất số 506
tờ bản đồ số 2 từ năm 1995, 1996.
Phát biểu tại phiên tòa, Kiểm sát viên cho là: Thẩm phán, Thư phiên
tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng đầy đủ các quy định của Luật tố tụng
hành chính về thụ lý, lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành đối thoại,
tống đạt các văn bản tố tụng, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, các trình tự, tủ tục
tố tụng về phiên tòa thẩm. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền,
nghĩa vụ theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Yêu cầu của người khởi
kiện là không có cơ sở để chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa,
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp
luật, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quyết định số 372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 của UBND huyện C
về việc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 816892, số vào sổ
CH 00812 ngày 11/6/2014 là quyết định hành chính về quản lý đất đai nên khiếu
kiện của ông Hồ Quang K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án
hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Đơn khởi kiện của ông Hồ Quang K được gửi đến Tòa án ngày
08/11/2016 trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116
Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thụ đưa ra giải quyết vụ án
hành chính là đúng thẩm quyền theo Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các Biên bản kiểm khối lượng bồi thường, hỗ trợ đối với dự án
Hoàn vốn BT Hệ thống đường nhánh Khu du lịch B, CH do ông K giao nộp
không liên quan đến vụ án, không phải là tài liệu, chứng cứ của vụ án.
[2.2] Lời khai của những người làm chứng về thời điểm sử dụng đất của
ông L, ông K mâu thuẫn với nội dung kê khai của ông L, ông K tại hồ sơ xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không đủ căn cứ pháp lý xác định ông L,
ông K sử dụng đất trước 15/10/1993. Ông L, ông K không tài liệu, chứng cứ
nào xác định người đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 cũng như Điều 101 Luật Đất đai năm 2013.
6
[2.3] Theo Kết luận số 325/KL-ĐTTra, ngày 09/12/2014 của cơ quan
Thanh tra huyện C về kết quả thanh tra công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông Hồ Quang L, ông Hồ Quang K thì:
- Trong diện tích 29.865,7m
2
đất được UBND huyện C cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông L, ông K có 14.928m
2
đất (thuộc thửa đất số 01
Trích đo địa chính số 14 đo đạc năm 2003 thửa 172 Bản đồ lâm nghiệp số
02 đo đạc năm 2007) đã được xác định đất công do ông L chiếm dụng trái
phép theo Quyết định số 904/QĐ-UBND ngày 22/5/2007, phần còn lại đất
ông L, ông K chiếm đất chưa sử dụng (do Công ty M khai thác cát xong nhưng
chưa thực hiện công tác trả lại mặt bằng cho UBND CH), nằm phía Nam
đường Đ, không thuộc thửa 155 tờ Bản đồ lâm nghiệp số 02 đo đạc năm 2007.
- Từ năm 2003 đến năm 2007, ông Hồ Quang L đã nhiều lần bị xử v
hành vi lấn chiếm đất buộc phải trả lại đất đã chiếm nhưng UBND CH
thiếu tinh thần trách nhiệm, không có các biện pháp ngăn chặn dứt điểm việc lấn
chiếm và kế hoạch quản lý đất lấn chiếm của ông L.
- Việc ông L, ông K đăng , khai diện tích 29.865,7m
2
đất thửa đất
số 172 155 tờ Bản đồ lâm nghiệp số 2 với nguồn gốc là đất do khai hoang
năm 1999 là không đúng thực tế.
- Việc xét cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông L, ông K đối
với diện tích 29.865,7m
2
thuộc thửa 506 tờ Bản đồ số 02 là trái pháp luật.
[2.4] Căn cứ Kết luận s325/KL-ĐTTra, ngày 09/12/2014 của quan
Thanh tra huyện C, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, ông
K đối với diện tích 29.865,7m
2
thuộc thửa 506 tờ Bản đồ số 02 trái với quy
định của điểm đ khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007
của Chính phủ. UBND huyện C ban hành Quyết định số 372/QĐ-UBND ngày
21/3/2016 vviệc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số BT 816892,
Số vào sổ cấp GCN: CH00812 cấp ngày 11/6/2014 cho ông Hồ Quang L và ông
Hồ Quang K là căn cứ, phù hợp với Điều 50 Điều 52 Luật đất đai năm
2003, Điều 21 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ (pháp
luật tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cũng như Điều 101,
Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ (pháp luật tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). vậy, yêu cầu của người khởi kiện
không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí:
Do yêu cầu của người khởi kiện không được chấp nhận nên người khởi
kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
1. Căn cứ Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, Điều 87 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ,
Bác yêu cầu của ông Hồ Quang K về việc yêu cầu hủy Quyết định số
372/QĐ-UBND ngày 21/3/2016 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc thu hồi
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 816892, Số vào sổ cấp GCN:
CH00812 cấp ngày 11/6/2014 cho ông Hồ Quang L và ông Hồ Quang K.
2. Căn cứ Điều 348 Luật tố tụng hành chính, Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ
phí Tòa án, ông Hồ Quang K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí
HC/ST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền
số AA/2016/0000128 ngày 26/12/2016 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh
Hòa. Ông K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo đối với đương sự
vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Khánh Hòa;
- Cục THA DS tỉnh Khánh Hòa;
- UBND tỉnh Khánh Hòa;
- Lưu án văn;
- Lưu hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Nghĩa
8
9
Tải về
Bản án số 34/2017/HC-ST Bản án số 34/2017/HC-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất