Bản án số 338/2026/DS-ST ngày 03/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 338/2026/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 338/2026/DS-ST ngày 03/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 338/2026/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 338/2026/DS-ST Bản án số 338/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 338/2026/DS-ST Bản án số 338/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
----------------
Bản án số: 338/2026/DSST
Ngày: 03/7/2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hứa Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Quốc Bình và bà Đào Thị Hồng Ngọc
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông
Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 07 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội mở
phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 177/2026/TLST- DS ngày 23/03/2026 về
việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
248/2026/QĐXXST-DS ngày 01/6/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2026/QĐST
– DS ngày 17/06/2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty cổ phần J
Địa chỉ: Tầng 15, tòa nhà C, số 219 T, phường Y, thành phố Hà Nội
Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: ông Phan Huy M – Giám đốc trung tâm xử lý nợ.
Người nhận ủy quyền lại: Ông Vũ Xuân Đ ( Văn bản ủy quyền số 51707/2025/UQ-
XLN-J ngày 15/7/2025)
(Có đơn xin vắng mặt)
* Bị đơn: 1. Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1982, CMND số: 11163xxxx do Công an
thành phố Hà Nội cấp ngày 18/04/2012
2. Bà Lê Thị C, sinh năm 1987. CCCD số 00118701xxxx do Cục cảnh sát
ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 08/08/2016
Đều thường trú: Thôn L, xã P, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt)
NHẬN THẤY
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, người đại diện
2
theo ủy quyền của Công ty Cổ phần J do ông Vũ Xuân Đ trình bày:
Ngày 11/09/2017 Ngân hàng TMCP V (V) và vợ chồng ông Hoàng Văn H, bà Lê
Thị C có ký Hợp đồng thẻ tín dụng số 190-P-596956 với số tiền: 57,000,000 đồng (Năm
mươi bảy triệu đồng chẵn). Mục đích vay: Vay tiêu dùng
Đối với khoản vay này, hạn mức ban đầu là 40.000.000 đồng. Sau đó, quy trình sử
dụng, ông H và bà C được tăng hạn mức sử dụng lên 57.000.000 đồng.
+ Lãi suất áp dụng đối với khoản vay là 47.88%/năm (căn cứ áp dụng lãi suất dựa
trên điều kiện giao dịch chun g của thẻ - Biểu lãi suất áp dụng chương trình trả góp các
giao dịch bằng thẻ tín dụng doanh nghiệp V tại thời điểm vay)
Từ ngày 27/08/2020 khoản vay quá hạn, tính đến ngày 03/07/2026, ông Hoàng Văn
H và bà Lê Thị C còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 43.150.243 đồng ( Bốn mươi ba triệu một
trăm năm mươi nghìn hai trăm bốn mươi ba đồng); Nợ lãi: 287.674.204 đồng (Hai trăm
tám mươi bẩy nghìn sáu trăm bảy mươi bốn nghìn hai trăm linh bốn đồng); Tổng cộng:
330.824.447 đồng ( Ba trăm ba mươi triệu tám trăm hai mươn bốn nghìn bốn trăm bốn
mươi bẩy đồng).
Ngày 14/09/2017 Ngân hàng TMCP V (V) và vợ chồng ông Hoàng Văn H, bà Lê
Thị C có ký Hợp đồng cho vay số LN1709110228742 (LD1725800479). Số tiền vay là
345.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu đồng chẵn). Thời hạn vay: 60 tháng. Mục
đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô. Lãi suất trong hạn: tại thời điểm giải ngân là
10,4%/ năm. Lãi suất trong hạn sẽ cố định trong vòng 6 tháng kể từ ngày giải ngân và sẽ
được điều chỉnh định kỳ 3 tháng/ kỳ. Được quy định trong Hợp đồng và khế ước nhận nợ
ký kết giữa bên vay và bên Ngân hàng. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong
hạn. Kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, khi đến kỳ điều chỉnh lãi suất, lãi suất cho vay
trong hạn vẫn được điều chỉnh theo phương thức do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng
này và (các) Khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn của kỳ đó cũng sẽ thay đổi theo bằng 150%
lãi suất cho vay trong hạn sau khi đã điều chỉnh định kỳ.
Trong quá trình vay, ông H và bà C đã trả 226.806.821 đồng ( Hai trăm hai mươi
sáu triệu, tám trăm linh sáu nghìn tám trăm hai mươi mốt đồng) tiền gốc, 105.213.111
đồng ( Một trăm linh năm triệu, hai trăm mười ba nghìn, một trăm mười một đồng) tiền
lãi, tổng thanh toán 332.019.932 đồng ( Ba trăm ba mươi hai triệu, không trăm mười chín
nghìn, chín trăm ba mươi hai đồng).
Từ ngày 16/11/2020 khoản vay quá hạn, tính đến ngày 03/07/2026, ông Hoàng Văn
H và bà Lê Thị C còn nợ số tiền là: Nợ gốc: 118.193.179 đồng ( Một trăm mười tám triệu,
một trăm chín mươi ba nghìn, một trăm bẩy mươi chín đồng); Nợ lãi: 201.802.930 đồng (
Hai trăm linh một triệu, tám trăm linh hai nghìn, chín trăm ba mươi đồng); Tổng cộng:
3
319.996.109 đồng ( Ba trăm mười chín triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm
linh chín đồng)
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là : 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI I10, số
khung MALA741CAHM2XXXXX, số máy G4LAHM373XXX. Giấy chứng nhận Đăng
kí xe ô tô BKS:30E-81x.xx do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp
ngày 14/09/2017, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng nêu trên ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C đã vi
phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp
đồng cho vay và hợp đồng thẻ tín dụng.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, Ngân hàng TMCP V (V) có ký Hợp đồng Mua bán nợ
số 15/2024/VPB-J, Hợp đồng chuyển nhượng số16/2024/VPB-J cùng Theo Hợp đồng
Mua bán nợ số 15/2024/VPB-J, Phụ lục đính kèm khoản nợ của khách hàng vay là ông
Hoàng Văn H và bà Lê Thị C đã ký kết với V. ( sau này Công ty cổ phần J).
Nay, Công ty cổ phần J yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Buộc ông H bà C phải thanh toán cho Công ty cổ phần J tạm tính đến ngày
03/7/2026 các khoản gồm: Nợ gốc: 161,343,422 đồng; Nợ lãi: 489.477.134 đồng; Tổng
cộng là 650.820.556 đồng. Trường hợp ông H bà C không trả thì phía công ty có quyền
yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ, bao
gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI I10, số khung MALA741CAHM2XXXXX, số máy
G4LAHM373XXX. Giấy chứng nhận Đăng kí xe ô tô BKS:30E-81x.xx do Phòng Cảnh
sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 14/09/2017 thuộc quyền sở hữu/sử
dụng của Ông Hoàng Văn H và Bà Lê Thị C.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có ý kiến
trình bày tại phiên Tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội phát biểu ý kiến:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa chấp hành nghiêm túc quy định
về pháp luật tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết và xét xử vụ án.
- Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn
không chấp hành tốt các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự,
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 351, 353,
463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 90, 92, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm
2010; Luật Ngân hàng Nhà nước; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của
Chính phủ về giao dịch đảm bảo được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ –
CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ; Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019
4
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Các Điều
26, 35, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Luật thi hành án dân sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần J đối với ông Hoàng Văn H và
bà Lê Thị C.
- Buộc ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C phải thanh toán trả cho Công ty Cổ phần J
số tiền tạm tính đến ngày 03/7/2026 các khoản gồm: Nợ gốc: 161,343,422 đồng; Nợ lãi:
489.477.134 đồng; Tổng cộng là 650.820.556 đồng và tiếp tục phải trả lãi kể từ ngày
04/7/2026 cho đến khi tất toán xong khoản vay.
- Chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần J được quyền đề nghị cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp của ông H bà C để thu hồi khoản nợ là 01 xe
ô tô nhãn hiệu HYUNDAI I10, số khung MALA741CAHM2XXXXX, số máy
G4LAHM373XXX. Giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô BKS:30E-81x.xx do Phòng Cảnh sát
giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 14/09/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng
của ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C.
Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vẫn chưa đủ thì ông H, bà C tiếp tục
có nghĩa vụ trả khoản nợ còn lại cho Công ty.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu
án phí sơ thẩm. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội.
Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh tụng tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
- Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Văn H bà Lê Thị C vắng mặt tại các phiên
toà không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ. Xét việc vắng mặt của
các đương sự thuộc trường hợp quy định tại Điều 227; Điều 228 và Điều 233 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn quyết định đưa vụ án ra xét xử và giành quyền kháng
cáo cho họ theo qui định pháp luật.
2. Về nội dung:
5
Hợp đồng Mua bán nợ số 15/2024/VPB-J, Hợp đồng chuyển nhượng số
16/2024/VPB-J cùng ngày 27 tháng 12 năm 2024 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng
TMCP V (V) với Công Ty Cổ Phần J.
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số LN1709110228742 ngày 14/09/2017, theo đó
Ngân hàng TMCP V (V) đồng ý cho ông H và bà C vay số tiền: 345.000.000 đồng. Ngân
hàng đã giải ngân số tiền 345.000.000 đồng cho ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C theo
Khế ước nhận nợ ngày 15/09/2017.
Căn cứ theo hợp đồng thẻ tín dụng số 190-P-596956 ngày 11/09/2017, Ngân hàng
TMCP V (V) đồng ý cho ông H và bà C vay số tiền 57.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay trên của ông H bà C, Ngân hàng TMCP V (V) ký Hợp
đồng thế chấp tài sản của gia đình là: 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI I10, số khung
MALA741CAHM2XXXXX, số máy G4LAHM373XXX. Giấy chứng nhận Đăng kí xe ô
tô BKS:30E-81x.xx do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hà Nội cấp ngày
14/09/2017 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Hoàng Văn H bà Lê Thị C.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông H và bà C đã trả được 226,806,821 đồng tiền
gốc, 105,213,111 đồng tiền lãi, tổng thanh toán 332,019,932 đồng. Sau đó không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ theo cam kết với Ngân hàng, vi phạm các nội dung thỏa thuận trong Hợp
đồng nên các khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 16/11/2020.
Tính đến ngày 03/7/2026 ông H bà C còn nợ Công ty các khoản gồm: Nợ gốc:
161,343,422 đồng; Nợ lãi: 489.477.134 đồng; Tổng cộng là 650.820.556 đồng. Do ông H
bà C không trả được nợ cho công ty như đã thỏa thuận các bên ký kết trong hợp đồng đã
dẫn đến tranh chấp giữa các bên.
[2.1]. Xét về Hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng cho vay số LN1709110228742 ngày 14/09/2017 và Hợp đồng thẻ tín
dụng số 190-P-596956 ngày 11/09/2017 cùng Khế ước nhận nợ ngày 15/9/2017 giữa Ngân
hàng TMCP V (V) nay Công Ty Cổ Phần J và ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C thì tại
thời điểm tham gia giao kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP V (V) có đầy đủ tư cách
pháp nhân; ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên
hoàn toàn tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Hình thức và nội dung hợp đồng không
trái đạo đức xã hội. Các điều khoản thoả thuận của hai bên trong hợp đồng không vi phạm
điều cấm của pháp luật. Do đó, Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thẻ tín dụng có hiệu lực
pháp luật và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết, bao gồm
các thoả thuận về lãi suất, lãi suất quá hạn.
Qua xem xét, tính toán mức lãi suất thoả thuận ghi trong hợp đồng tín dụng và hợp
đồng thẻ tín dụng với thời gian chậm trả của ông H, bà C thì, khoản nợ gốc và lãi suất
6
trong hạn, lãi suất quá hạn nguyên đơn yêu cầu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định
của pháp luật nên được chấp nhận.
[2.2]. Xét về Hợp đồng thế chấp tài sản:
Tại thời điểm tham gia giao kết Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên, Ngân hàng
TMCP V (V) nay Công Ty Cổ Phần J có đầy đủ tư cách pháp nhân; ông Hoàng Văn H và
bà Lê Thị C là chủ sử dụng tài sản có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, các bên hoàn toàn
tự nguyện, không ai bị lừa dối, ép buộc. Hình thức và nội dung hợp đồng không trái đạo
đức xã hội, phù hợp quy định tại các Điều: 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ luật Dân sự
năm 2015; Điều 90, 91, 92, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị định 163/2006/NĐ-
CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm
2012 của Chính phủ về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”. Hợp đồng thế chấp có hiệu
lực pháp luật và phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao kết.
Ngày 27/5/2026, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nêu
trên. Tại buổi làm việc bị đơn vắng mặt và không xuất trình tài sản thế chấp theo Quyết
định xem xét thẩm định tại chỗ và Thông báo về việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với
tài sản thế chấp là động sản nêu trên. Do vậy, Tòa án tiến hành lập biên bản về việc không
tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ được đối với tài sản thế chấp.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của Công Ty Cổ Phần J về việc xử lý tài sản thế chấp
nếu bị đơn không trả nợ hoặc không trả đủ nợ thì Công ty có quyền yêu cầu Cơ quan Thi
hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản nợ trên để
thu hồi toàn bộ khoản nợ của ông H, bà C với Công ty.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Tổng tài sản tranh chấp là 650.820.556 đồng ( Sáu
trăm năm mươi tám mươi hai nghìn năm trăm năm mươi sáu đồng) Án phí là 20.000.000
đồng + 4% x ( 650.820.556 đồng – 400.000.000 đồng) = 30.032.822,2 đồng được làm tròn
là 30.033.000 đồng (Ba mươi triệu, không trăm ba mươi ba nghìn đồng). Do yêu cầu của
nguyên đơn được chấp nhận nên ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C phải chịu toàn bộ án
phí.
Công Ty Cổ Phần J được chấp nhận toàn bộ yêu cầu nên không phải chịu tiền án
phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm
nghìn đồng ) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006832 ngày
23/3/2026 của Thi hành án dân sự khu vực 11 – Hà Nội.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp
luật.
7
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các Điều: 317, 318, 319, 320, 323, 351, 353, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 90, 91, 92, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Luật Ngân hàng nhà
nước;
- Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm
bảo được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ – CP ngày 22/02/2012 của Chính
phủ;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số
quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Các Điều 26, 35, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Luật thi hành án
dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phía
Toà án;
- Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần J đối với vợ chồng ông Hoàng
Văn H, bà Lê Thị C.
2. Buộc ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C có trách nhiệm trả cho Công ty cổ phần J
số tiền vay theo Hợp đồng cho vay số LN1709110228742 ngày 14/09/2017 và Hợp đồng
thẻ tín dụng số 190-P-596956 ngày 11/09/2017 cùng Khế ước nhận nợ ngày 15/9/2017
tính đến ngày 03/7/2026 là : 650.820.556 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu, tám trăm hai
nghìn, năm trăm năm mươi sáu đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc: 161,343,422 đồng;
Nợ lãi: 489.477.134 đồng; Ông Hoàng Văn H bà Lê Thị C vẫn phải tiếp tục trả khoản nợ
lãi quá hạn phát sinh trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong
Hợp đồng cho vay, hợp đồng thẻ tín dụng nêu trên, thời gian tính từ ngày 04 tháng 7 năm
2026 cho đến khi trả xong các khoản nợ tại Công ty.
Trường hợp ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ đối với các khoản nợ trên, Công ty cổ phần J có quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: 01 xe ô tô nhãn
hiệu HYUNDAI I10, số khung MALA741CAHM2XXXXX, số máy G4LAHM373XXX.
Giấy chứng nhận Đăng kí xe ô tô BKS: 30E-81x.xx do Phòng Cảnh sát giao thông Công
an thành phố Hà Nội cấp ngày 14/09/2017, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Hoàng
8
Văn H và bà Lê Thị C theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LN1709110228742 ngày
14/09/2017.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán
nghĩa vụ trả nợ của ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý
tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông H và bà C vẫn phải có nghĩa vụ
trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các điều 6,7, 8, 36, 71 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Ông Hoàng Văn H và bà Lê Thị C phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là
30.033.000 đồng (Ba mươi triệu, không trăm ba mươi ba nghìn đồng)
Hoàn trả cho Công ty cổ phần MBN J (nay là Công ty cổ phần J) số tiền tạm ứng án
phí, là 12.800.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006832 ngày 23/3/2026 của Thi hành án dân sự khu vực 11
– Hà Nội.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hà Nội Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKS KV 11- Hà Nội
- Phòng THADS KV 11- Hà Nội
- Các đương sự
- Lưu hồ sơ vụ án; VP
Hứa Thị Hà
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa
Hứa Thị Hà
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 338/2026/DS-ST Bản án số 338/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 338/2026/DS-ST Bản án số 338/2026/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất