Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lộc Bình (TAND tỉnh Lạng Sơn)
Số hiệu: 32/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17-7-2024
V/v Ly n, tranh chấp về
nuôi con khi ly n
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thúy Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vy Thị Thơm và bà Lý Thị Phẩm.
- Thư phiên toà: Vy Thị Hằng - Thư Tòa án nhân dân huyện
Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn xét xử thẩm ng khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
79/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
32/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tàng Thị Q, sinh năm 1992; nơi trú: Thôn B, T,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Dương Văn M, sinh năm 1983; nơi trú: Thôn B, T,
huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người làm chứng: Thị C, sinh năm 1966; nơi trú: Thôn K, xã
S, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 20/5/2024, lời khai tại Tòa án, nguyên
đơn chị Tàng Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tàng Thị Q tự nguyện kết hôn với anh Dương
Văn M từ năm 2014, trước đó hai người có thời gian tự tìm hiểu, yêu nhau được
khoảng 06 tháng, được hai gia đình tổ chức cưới cho theo phong tục tập quán, có
2
đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn ngày
31/5/2017.
Cưới nhau về vợ chồng riêng không chung sống cùng nhà với bố mẹ
chồng, thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng đã phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Dương Văn M hay uống rượu, không
quan tâm đến vợ con, không chịu tu trí làm ăn, vchồng không tiếng nói
chung dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị đi làm công nhân
nhưng mỗi khi về nhà thì lại bị anh Dương Văn M đánh đập, ghen tuông chị
cớ. Chị đi làm nhưng rất trách nhiệm với gia đình, con cái, hàng tháng chị
vẫn thường xuyên gửi tiền về cho bà nội để chăm sóc, nuôi nấng con chung,
thậm trí chị còn gửi tiền vcho anh Dương Văn M chi tiêu nhưng anh Dương
Văn M không tu trí làm ăn hay rượu chè, chị khuyên bảo thế nào cũng
không được.
Ngày 30/4/2024 anh Dương Văn M đánh chị, nguyên nhân do anh
Dương Văn M đòi tiền của chị để chi tiêu cá nhân, chị không cho dẫn đến bị anh
Dương Văn M đánh, hai bên đã giằng co nhau anh Dương Văn M đã vứt quần
áo của chị ra khỏi nhà, tại thời điểm đó chị đã phải về nngoại ngay trong
đêm. Từ đó đến nay chvới anh Dương Văn M đã sống ly thân, cả hai không
còn quan tâm, chăm sóc đến nhau, mỗi người sống một nơi (chị đã về nhà ngoại
sinh sống).
Việc mâu thuẫn vợ chồng, gia đình hai bên nội ngoại đều biết, họ cũng đã
khuyên bảo anh Dương Văn M, bố đẻ của chị muốn tạo công ăn việc làm cho
anh Dương Văn M, cho anh đi làm phụ hồ cùng bố nhưng anh Dương Văn M
không chịu tu trí làm ăn lại còn uống rượu, bố mẹ vợ đã khuyên bảo nhưng anh
Dương Văn M không nghe còn cãi lại mchị và tự bỏ về không đi làm nữa, chị
thấy vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, khó thể hàn gắn được, mẹ chồng
chị có nói chuyện với chị “nếu không sống được thì bỏ nhau đi”.
Anh Dương Văn M hiện đang ở nhà làm ruộng, anh Dương Văn M có yêu
cầu đoàn tụ nhưng chị thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa,
nên giải thoát cho nhau, đến nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, ch
yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Văn M.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung Dương Thanh T, sinh ngày
08/10/2017. Tại đơn khởi kiện chị yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng, giáo
dục con chung, nhưng đến nay do anh Dương Văn M yêu cầu được quyền
chăm sóc nuôi dưỡng con chung chị hoàn toàn nhất trí chị sẽ trách nhiệm
cấp dưỡng nuôi con 1.700.000 đồng/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời
điểm cấp dưỡng trước ngày 30 hàng tháng, ch không phải chịu lãi suất do chậm
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị 01 căn nhà cấp 4 trị giá khoảng 200
triệu đồng, chị không yêu cầu Tán xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không
có. Chị đã có đơn đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt.
3
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2024 bị đơn anh Dương Văn M trình
bày:
Về quan hệ hôn nhân: Đăng kết hôn, quá trình chung sống mâu
thuẫn đúng như chị Tàng Thị Q trình bày tại Toà án. Nay chị Tàng Thị Q yêu
cầu ly hôn anh không nhất trí xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, vẫn muốn
hàn gắn tình cảm để cùng nhau nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng 01 con chung cháu Dương Thanh T, sinh
ngày 08/10/2017. Hiện cháu đang sống cùng bố và bà nội. Nếu buộc phải ly hôn
anh yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh yêu cầu chị Tàng Thị Q nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.700.000
đồng/tháng kể từ khi quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18
tuổi, thời điểm cấp dưỡng trước ngày 30 hàng tháng, anh không yêu cầu chị
Tàng Thị Q phải chịu lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Anh hiện
làm nông nghiệp, làm ruộng thu nhập từ 03 đến 04 triệu đồng/tháng, nhà ở,
có mẹ đẻ hỗ trợ giúp đỡ anh trong việc chăm sóc con cái. Về tài sản chungnợ
chung: Không có. Anh Dương Văn M đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng
mặt.
Người làm chứng: Thị C vắng mặt tại phiên toà, lời khai trong hồ
thể hiện: mẹ đcủa chị Tàng Thị Q, mvợ của anh Dương n M.
không có mâu thuẫn gì với 02 vợ chồng. Tàng Thị Q kết hôn với Dương Văn
M tự nguyện, có được tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân
T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc,
không mâu thuẫn gì, đến năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do Dương Văn M uống rượu vào thì không làm chủ
được bản thân, không chịu tu trí làm ăn. biết vợ chồng đã có mâu thuẫn trầm
trọng, khó thể hàn gắn đoàn tụ được, đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho
Tàng Thị Q được ly hôn với Dương Văn M. Về con chung: Vợ chồng có 01 con
chung, cháu con trai nên khi ly hôn nên để con cho anh Dương Văn M nuôi
dưỡng, Tàng Thị Q đi làm kiếm tiền sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định là phù
hợp. Hiện tại con chung đang chung sống cùng bố, bên cạnh nhà nội phụ
giúp chăm sóc cũng đảm bảo cho cháu trưởng thành. Về tài sản chung: Vợ
chồng tài sản chung 01 ngôi nhà cấp 4 nhưng Tàng Thị Q không yêu cầu
chia không ý kiến gì. Về nợ chung: Không có. Do bận công việc, từ
chối tham gia tố tụng, đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt bà.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, tại phiên họp vắng mặt anh Dương Văn M, chị Tàng Thị Q đã đơn đề
nghị Toà án không tiến hành hoà giải.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân n huyn Lc Bình, tỉnh Lạng Sơn:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ vụ án trong quá trình
giải quyết vụ án, tại phiên tòa thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
Tòa án thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn,
4
người làm chứng đã hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 77, Điều
78 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70,
72 Bluật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Tàng Thị Q anh Dương Văn M
vắng mặt nhưng đã lời khai, đơn đề nghị Tòa án xét xvắng mặt. Người
làm chứng đã lời khai, ý kiến từ chối tham gia ttụng xin được giải
quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, khoản 1 Điều 238 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vnội dung vụ án: Chị Tàng Thị Q và anh Dương Văn M tự nguyện kết
hôn, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào
ngày 31/5/2017 nên n nn của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng có mâu thuẫn t
m 2020 do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, yêu thương nhau. Từ
tháng 4 năm 2024 đến nay vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không còn tiếng nói
chung, đã sống ly thân, không còn yêu thương, quan tâm tới nhau, không
hành động gì hàn gắn tình cảm. Chị Tàng Thị Q u cầu ly n với anh ơng
Văn M n cứ nên đề nghị Hội đồng t xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật
Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Tàng Thị Q được ly hôn với
anh Dương Văn M.
Về con chung: Chị Tàng Thị Q anh Dương Văn M 01 con chung
cháu Dương Thanh T, sinh ngày 08/10/2017. ChTàng Thị Q và anh Dương Văn
M đều có ý kiến thống nhất giao con chung cho anh Dương Văn M trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cho đến khi con đủ 18 tuổi. V cấp dưỡng nuôi
con: ChTàng Thị Q anh Dương Văn M đều thống nhất chị Tàng Thị Q
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.700.000 đồng/tháng kể từ khi bản án có
hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng trước ngày
30 hàng tháng, anh Dương Văn M không yêu cầu chị ng Thị Q phải chịu lãi
suất do chậm thực hiện nghĩa vcấp dưỡng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn
nhân gia đình giao con chung cháu Dương Thanh T, sinh ngày 08/10/2017
cho anh Dương Văn M trc tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi
con đủ 18 tuổi. Chị Tàng Thị Q nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung
1.700.000 đồng/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Vtài sản chung: Đương s
xác định không yêu cầu Toà án giải quyết nợ chung: Không có nên không đề
nghị xem xét. Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị ng Thị Q b đơn anh ơng
Văn M, người làm chứng Hà Thị C vắng mặt tại phiên tòa, hồ thể hiện họ
đã lời khai ý kiến, đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, các văn bản tố
tụng đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản
1 Điều 228, khoản 2 Điều 229, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội
đồng t xvẫn tiến nh xét xử ván.
5
[2] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con vậy quan hệ pháp luật "Ly
hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Ttụngn
sự. Bị đơn anh Dương Văn M trú tại Thôn B, T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tàng Thị Q anh Dương Văn M kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh
Lạng Sơn vào ngày 31/5/2017. Như vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị hợp
pháp. Vchồng u thuẫn từ m 2020 do bất đồng quan điểm sống, không
quan tâm, u thương nhau. Từ tháng 4 năm 2024 đến nay vợ chồng đã mâu
thuẫn trầm trọng, không còn tiếng nói chung, đã sống ly thân, không còn yêu
thương, chăm sóc tới nhau, không hành động hàn gắn tình cảm. Anh
Dương Văn M yêu cầu được đoàn tụ nhưng không đưa ra được phương án cụ
thể để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy nh trạng hôn nhân
của chị Tàng Thị Q và anh Dương Văn M đã trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của ch
Tàng Thị Q là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Vcon chung: Vợ chng ch Tàng Thị Q anh Dương Văn M 01
con chung cháu Dương Thanh T, sinh ngày 08/10/2017. Chị ng Thị Q
anh Dương n M đều thống nhất giao con chung cho anh Dương Văn M trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Dương Thanh T cho đến khi con đủ
18 tuổi. Về cấp ỡng nuôi con: Chị Tàng Thị Q anh Dương Văn M thống
nhất, chị Tàng Thị Q nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.700.000
đồng/tháng ktừ khi bản án hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi,
thời điểm cấp dưỡng trước ngày 30 hàng tháng, chị Tàng Thị Q không phải chịu
lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng do anh Dương Văn M không
yêu cầu. Chị ng ThQ quyền, nga vthăm nom con chung không ai được
cản trở. Hội đồng xét xử thấy, việc giao con chung cho một người chăm sóc nuôi
dưỡng, giáo dục và cấp dưỡng nuôi con đã được các đương sự đã tự nguyện thoả
thuận thoả thuận này không trái với quy định của pháp luật nên được Hội
đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[5] Về tài sản chung nợ chung: Các đương s không yêu cầu chia tài
sản chung, v nợ chung: Không nên Hội đồng xét xử không xem xét giải
quyết.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình
căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Tàng Thị Q phải chịu án phí ly n
thẩm án phí cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân snăm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Uỷ ban Thường vụ Quốc
6
hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án
phí và lệ phí Toà án.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bn án theo quy
định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Ttụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82,
Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều
229, khoản 1 Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá
14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án phí lệ
phí Toà án.
1. Về quan hn nhân: Xcho chị Tàng Thị Q được ly hôn với anh Dương
Văn M. (Giấy chứng nhận kết hôn số 32, đăng ký ngày 31/5/2017 tại y ban nhân
dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng n).
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Dương Thanh T, sinh ngày
08/10/2017 cho anh ơng Văn M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục
cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Tàng Thị Q nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung 1.700.000 đồng/tháng (một triệu bẩy trăm nghìn đồng/tháng) kể từ khi
bản án hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng
nuôi con trước ngày 30 hàng tháng, anh Dương Văn M không yêu cầu chị Tàng
Thị Q phải chịu lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Chị Tàng Thị Q quyn, nga vụ tm nom con chung kng ai được cản
trchị Tàng Thị Q thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Tàng Thị Q phải chịu tiền án phí ly hôn
thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng). Tổng số tiền án phí chTàng Thị Q phải nộp 600.000
đồng (sáu trăm nghìn đồng) được nộp vào Ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị
Tàng Thị Q đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0002338, ngày 18/6/2024 tại Chi cục Thi
nh án dân sự huyn L, tỉnh Lạng n. ThTàng Thị Q phải nộp tiếp số tiền án
phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ktừ ngày bn án đưc
niêm yết theo quy định của Bộ lut T tng n sự.
7
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND huyện Lộc Bình;
- Chi cục THADS huyện L;
- UBND xã T, huyện L;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thúy Huyền
8
Tải về
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất