Bản án số 31/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 31/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 31/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng ông Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1; sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Lâm Đồng).
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 31/2026/DS-PT
Ngày: 15-01-2026
V/v: “Kiện đòi tài sản tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Châu Thạch
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên toà: Trần Thị Tâm Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh
Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét
xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ số 10/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng
02 năm 2025 về tranh chấp: Kiện đòi tài sản hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của
Toà án nhân dân huyện ĐHuoai, tỉnh Lâm Đồng (nay Tòa án nhân dân khu
vực 5 – Lâm Đồng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm
2025, Quyết định tạm ngng phiên tòa số 56/2025/QĐ-PT ngày 26/3/2025; Quyết
định hoãn phiên tòa số 455/2025/QĐ-PT ngày 27/6/2025, Thông báo về việc mở
lại phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án Dân sự số 659/TB-PT ngày 31/12/2025 giữa
các đương sự:
- Nguyên đơn: Vợ chồng ông Tôn Xuân H, sinh năm: 1960, Nguyễn Thị
H1, sinh năm: 1966; cư trú tại thôn F, xã B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Trần Quốc T, sinh năm: 1981, bà Nguyễn Thị L, sinh
năm: 1986; cư trú tại thôn F, xã B, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
Người kháng cáo: Vợ chồng Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1 Nguyên đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 03/01/2019, đơn khởi kiện bổ sung
ghi ngày 10/02/2019, lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố
tụng tại giai đoạn thẩm của vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 thì:
Năm 2016 vợ chồng ông H, bà H1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà L
đất tại thôn D (nay là thôn C), xã Đ, huyện Đ (cũ) có chiều ngang mặt tiền quốc lộ
G là 06m, vợ chồng ông T, bà L đã thanh toán đủ tiền cho vợ chồng ông H, H1.
Nhưng do đất đó bị trũng không thuận tiện cho việc làm nhà nên vợ chồng
ông T, L thương lượng với vchồng ông H, H1 hoán đổi đất khác của vợ
chồng ông H, H1 liền kề và nhận chuyển nhượng thêm 01m đất mặt tiền của vợ
chồng ông H, H1. Các bên đã cắm mốc ranh giới, giao đất vợ chồng ông T,
L còn nợ lại 30.000.000đ. Đồng thời vợ chồng ông T, L nợ tiền đổ đất
10.000.000đ; hẹn trong vòng 02 năm sẽ trả.
Ngày 12/3/2016 vợ chồng ông T, L viết giấy xác nhận nợ 30.000.000đ
hẹn ngày 12/3/2017 sẽ trả hết số nợ trên (bút lục 03), còn số tiền nợ 10.000.000đ
đổ đất thì ghi phía sau giấy đề ngày 28/12/2015 (AL) (bút lục 07). Như vậy, vợ
chồng ông T, L còn nvợ chồng ông H, H1 tổng cộng 40.000.000đ. Đến
hẹn trả nợ vợ chồng ông T, L không trả nợ như cam kết nên phát sinh tranh
chấp, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về
tranh chấp kiện đòi tài sản.
Do vậy vợ chồng ông H, bà H1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Buộc vợ chồng ông T, L trách nhiệm trả nợ số tiền 48.800.000đ
(trong đó tiền gốc 40.000.000đ tiền lãi từ tháng 3/2017 đến tháng 01/2019
22 tháng với lãi suất là 1%/tháng là 8.800.000đ).
+ Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà
H1 vợ chồng ông T, bà L.
- Theo lời trình bày của vợ chồng ông T, L thì: Ngày 28/12/2015 (AL) vợ
chồng ông, nhận chuyển nhượng 01 đất của vợ chồng ông H, H1
diện tích là 552m², chiều ngang mặt đường 06m, chiều dài là 92m thuộc thửa số
11, tờ bản đồ số 03 theo Giấy chứng nhận quyền sử đất số M635109 do Ủy ban
nhân dân huyện Đ cấp ngày 02/10/1998, giá trị chuyển nhượng là 72.000.000đ.
Tuy nhiên, do lô đất bị trũng không thuận tiện cho việc làm nhà nên ngày
10/3/2016 vợ chồng ông, bà thương lượng để hoán đổi 01 lô đất khác của vợ chồng
ông H, H1 liền kề nhận chuyển nhượng thêm 01m đất mặt tiền của vợ
chồng ông H, bà H1 với giá tiền 20.000.000đ nhưng được nợ tiền mua đất trong
vòng 02 năm. Như vậy, tổng cộng vợ chồng ông, đã nhận chuyển nhượng của
vợ chồng ông H, H1 644m
2
(ngang 07m, dài 92m); thửa đất tứ cạnh như
3
sau: Đông giáp đất ông H; Tây giáp quốc lộ G; Nam giáp đất ông T1; Bắc giáp đất
ông H; vợ chồng ông, đã trả đủ cho tiền vợ chồng ông H, H1. Sau đó vợ
chồng ông T, bà L yêu cầu vợ chồng ông, bà ra Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ để
các bên làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông H,
H1 lại không hợp tác, đồng thời hành vi rào phần diện tích đất đã chuyển
nhượng nên phát sinh tranh chấp.
Nay vợ chồng ông, bà yêu cầu phản tố: đề nghị Tòa án buộc vợ chồng ông
H, bà H1 phải thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận ban đầu là giao trả đất và thực
hiện hợp đồng theo đúng quy định.
- Theo lời trình bày của bà Đinh Thị T2, người làm chứng, thì: xác định
vào ngày 23/4/2016 có trực tiếp ký vào “Giấy thỏa thuận ranh giới”, theo đó bà xác
định khi ký vào giấy thỏa thuận ranh giới ngoài bà ra thì còn có một số người khác
cũng tham gia vào giấy thỏa thuận ranh giới gồm ông T1, T3 và các ông,
bà H, H1, T và bà L, bà H1 là người trực tiếp chỉ ranh giới. Nay các bên tranh chấp
thì bà xác định không liên quan gì trong vụ án này nên xin phép không tham gia tố
tụng trong vụ án và xin được vắng mặt.
Tòa án đã tiến hành hoà giải nhưng không thành.
Tại Bản án số 09/2023/DS - ST ngày 25/9/2023; Tòa án nhân dân huyện Đạ
Hoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 – Lâm Đồng) đã xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Tôn
Xuân H, Nguyễn Thị H1 về việc: “Tranh chấp kiện đòi tài sản” đối với bị đơn
vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Tôn
Xuân H, Nguyễn Thị H1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bị
đơn vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn vợ chồng ông Trần Quốc
T, bà Nguyễn Thị L về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, yêu cầu tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với nguyên
đơn vợ chồng ông Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa vợ chồng ông
Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 vợ chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L
ngày 10/3/2016 là có hiệu lực pháp luật.
Công nhận cho vợ chồng ông T, L được toàn quyền sử dụng 483m
2
(trong
đó có 229m
2
thuộc một phần thửa đất số 10 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, diện tích đất 254m
2
thuộc thửa đất 295 đã cấp cho vợ chồng ông Tôn
Xuân H, bà Nguyễn Thị H1.
4
(Đính kèm theo họa đồ đo đạc, chỉnh theo hiện trạng ngày 26/8/2021 của
Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).
Buộc vợ chồng ông T, bà L nghĩa vụ thanh toán lại giá trị của các loại cây
trồng trên đất 3.566.000đ cho vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1.
Vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L được quyền quản lý, sử dụng tài sản
là cây trồng trên đất trên phần đất được công nhận.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo
trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 kháng cáo toàn bộ Bản án
Dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy Bản án Dân
sự thẩm hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ghi ngày
28/12/2015 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 10/3/2016.
Tại phiên tòa,
Vợ chồng ông Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1 vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Vợ chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L đồng ý thanh toán lại cho vợ
chồng ông H, H1 số tiền 104.000.000đ giá trị quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo
pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét x các
đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung: đề nghị chấp nhận
một phần kháng cáo của vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1, buộc vợ
chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán cho vợ chồng
ông H, bà H1 số tiền 104.000.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp thẩm xác định
theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của vợ chồng ông Tôn Xuân H,
Nguyễn Thị H1; thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các
Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội
đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Qua xem xét thì thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Vợ chồng ông Tôn Xuân H, bà
Nguyễn Thị H1 được Ủy ban nhân dân huyện Đ (cũ), tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
số CM 487861 ngày 31/01/2019 đối với diện tích đất 955m
2
thuộc thửa 295, tờ bản
đồ số 03 tọa lạc tại thôn D, xã Đ, huyện Đ (nay là xã B), tỉnh Lâm Đồng. Ngoài ra,
5
vợ chồng ông H, H1 còn diện tích đất thuộc thửa s10 (chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất) thửa 11, tờ bản đồ số 03 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số M635109 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp
ngày 02/10/1998.
Theo vợ chồng ông H, H1 trình bày thì ngày 28/12/2015 và ngày
10/3/2016 vợ chồng ông, bà thỏa thuận chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà
L diện tích đất chiều ngang 06m, chiều dài 72m, giá trị chuyển nhượng
40.000.000đ. Tuy nhiên, do đất bị trũng không thuận tiện cho việc làm nnên
vợ chồng ông T, L thương lượng, hoán đổi đất khác của vợ chồng ông,
liền kề nhận chuyển nhượng thêm 01m đất mặt tiền của vợ chồng ông, bà. Các
bên đã cắm mốc ranh giới và vợ chồng ông, bà giao đất cho vợ chồng ông T, bà L,
bị đơn còn nợ lại vợ chồng ông, bà số tiền 30.000.000đ. Ngày 12/3/2016 vợ chồng
ông T, bà L viết giấy xác nhận nợ số tiền 30.000.000đ; số tiền 10.000.000đ đổ đất
thì ghi ngày 28/12/2015, như vậy tổng số tiền vợ chồng ông H, H1 còn nợ
40.000.000đ.
Theo lời trình bày của vợ chồng ông T, bà L thì vào ngày 28/12/2015 có nhận
chuyển nhượng của vợ chồng ông H, H1 một đất diện tích 552m
2
(ngang
06m, dài 92m) thuộc một phần thửa 11, tờ bản đồ số 03 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số M635109 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng cấp
ngày 02/10/1998 với giá trị chuyển nhượng là 72.000.000đ. Tuy nhiên do diện tích
đất bị trũng không thuận tiện cho việc làm nhà nên ngày 10/3/2016 vợ chồng ông
H, H1 vợ chồng ông, thỏa thuận hoán đổi 01 đất khác của vợ chồng
ông H, H1 liền kề nhận chuyển nhượng thêm 01m đất mặt tiền của vợ
chồng ông H, H1 với giá là 20.000.000đ. Như vậy tổng diện tích đất vợ chồng
ông, bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông H, H1 644m
2
(ngang 07m,
dài 92m). Do vợ chồng ông H, H1 không thực hiện thủ tục sang tên cho vợ
chồng ông, bà nên các bên phát sinh tranh chấp.
[2.2] Xét thấy, theo giấy sang nhượng đất ngày 28/12/2015 thể hiện nội dung
“Tôi tên Tôn Xuân H, vợ Nguyễn Thị H1...Hôm nay ngày 28/12/2015 (âm
lịch), gia đình chúng tôi thỏa thuận sang nhượng cho hai cháu Trần Quốc T,
Nguyễn Thị L, hoàn cảnh hai cháu quá khó khăn không nơi nên chúng tôi
sang nhượng cho hai cháu 06m mặt tiền và chiều dài 92m, giá tiền là 12.000.000đ.
Tổng số tiền 06m 72.000.000đ...Nay chúng tôi thỏa thuận gtiền đặt cọc của
hai cháu T, L 28.000.000đ, còn 44.000.00hẹn tới ngày 12/02/2016 (âm lịch)
thanh toán hết số tiền còn lại, chúng tôi tiến hành mời địa chính chịu trách nhiệm
đo đất cho L, T làm giấy tờ thủ tục chứng nhận của chính quyền ...Hôm nay
ngày mười tháng hai (AL) đã thanh toán số tiền còn lại 44.000.000đ, còn T, L
thiếu 10.000.000đ tiền đổ đất, hẹn trong vòng 02 năm trả cô H1, phía dưới có chữ
ký và chữ viết của người sang nhượng Nguyễn Thị H1 và người được sang nhượng
Nguyễn Thị L”.
6
Tại “Giấy sang nhượng đất ở” thhiện “Hôm nay, ngày 10/3/2016 gia đình
chú Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 sang nhượng cho ông Trần Quốc T,
Nguyễn Thị L...một miếng đất chiều dài 92m, chiều ngang 07m. Đông giáp
anh H, Tây giáp 72, Nam giáp ông T4, B giáp anh H. Hai gia đình thỏa thuận
với số tiền 40.000.000đ, hôm nay ông T, L đã trả hết số tiền nói trên nên kể từ
ngày hôm nay gia đình ông T, L được toàn quyền sử dụng mảnh đất phía trên
nên chúng tôi viết giấy này để làm bằng chứng, phía dưới chữ ghi họ n
người sang nhượng Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 và người được sang nhượng Trần
Quốc T, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng”.
Xét thấy, các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày
28/12/2015 (Al) ngày 10/3/2016) nói trên bản viết tay được Ủy ban nhân dân
Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xác nhận. Xét về nội dung và hình thức của c
hợp đồng là chưa đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết
vụ án nguyên đơn xác định việc các hợp đồng nói trên hoàn toàn tự nguyện,
bị đơn đã trả đủ tiền chuyển nhượng cho nguyên đơn nhận đất để canh tác, sử
dụng ổn định, làm nhà trên đất từ năm 2016 cho đến nay. Như vậy, Tòa án cấp sơ
thẩm căn cứ theo quy định tại mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ
HĐTP ngày 10/8/2004 của Hồi đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao căn
cứ vào khoản 2 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 28/12/2015 (Al) và ngày 10/3/2016
hiệu lực pháp luật là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.3] Theo họa đồ đo đạc hiện trạng do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
khu vực Đ, tỉnh Lâm Đồng thực hiện ngày 23/12/2025 thì: Diện tích đất ông Trần
Quốc T xác định diện tích 592m
2
(trong đó 172m
2
thuộc một phần thửa
138, tờ bản đồ số 03 xã Đ (cũ) chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
diện tích đất 349m
2
thuộc một phần thửa số 11, tờ bản đồ số 03 Đ đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tôn Xuân H; diện tích đất 58m
2
thuộc một phần thửa 295, tờ bản đồ số 03 Đ đã được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông Tôn Xuân H; diện tích đất 12m
2
thuộc thửa 224 gốc
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong phần diện tích đất ông
Trần Quốc T chỉ 230m
2
đất thuộc khu vực ông Tôn Xuân H đã rào lưới nên
không tiến hành đo đạc được; diện tích đất theo kết quả đo đạc nói trên được vợ
chồng ông H, bà H1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà L.
Theo “Giấy sang nhượng đất ở” ngày 10/3/2016 thể hiện các bên thỏa thuận
chuyển nhượng diện tích đất chiều ngang 07m, chiều dài 92m. Quá trình
giải quyết vụ án vợ chồng ông H, H1 cho rằng về diện tích chiều ngang 07m
do viết sau thời điểm giấy sang nhượng quyền sdụng đất nên sự viết thêm
con số 07m 92m; tuy nhiên vợ chồng ông H, H1 không xuất trình được
chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình.
7
Đồng thời, tại Kết luận giám định số 4117/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của V
tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận “Không đủ sở kết luận chữ viết số 92”
tại dòng thứ 8 (từ trên xuống), chữ viết (số) “92 Mtại dòng chữ viết thứ 12 (từ
trên xuống) trên tài liệu cần giám định hiệu A2 phải hay không phải do
cùng một người viết; một loại bút, một loại mực, cùng thời điểm viết ra”. Như vậy,
trên thực tế việc chuyển nhượng đất nói trên hai bên đã tiến hành bàn giao đã
thanh toán tiền chuyển nhượng đất. Do đó cần công nhận diện tích đất theo họa đồ
đo đạc theo hiện trạng do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực Đ, tỉnh
Lâm Đồng thực hiện ngày 31/12/2025 cho vợ chồng ông T, bà L là có căn cứ, đúng
quy định của pháp luật.
[2.4] Tuy nhiên, theo hồ sơ thể hiện thì giữa các bên ban đầu chỉ thỏa thuận
chuyển nhượng lô đất có 06m mặt tiền; sau khi hoán đổi diện tích đất khác thì giấy
sang nhượng lại ghi thành “07m x 92m”, hiện nay các bên tranh chấp nội dung
này.
Xét thấy, việc các bên thỏa thuận chuyển nhượng ban đầu là 06m x 92m được
các bên thừa nhận. Vào ngày 12/3/2016 (sau ngày viết giấy nhận chuyển nhượng
10/3/2016) thì ông T xác nhận còn nợ số tiền 30.000.000đ tiền đất; điều này thể
hiện phần dư 01m so với thỏa thuận ban đầu (07m so với 06m) chưa trả nên mới có
việc ông Trung L1 giấy xác nhận còn nợ tiền đất của nguyên đơn hẹn đến ngày
12/3/2017 sẽ trả; bị đơn cho rằng đã trả số tiền này nhưng không xuất trình được
căn cứ chứng minh, nguyên đơn lại không thừa nhận.
Tại phiên tòa hôm nay vợ chồng ông T, bà L đồng ý thanh toán cho vợ chồng
ông H, bà H1 số tiền 104.000.000đ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất. Xét thấy sự tự nguyện của vợ chồng ông T, L không trái với quy định của
pháp luật nên cần ghi nhận sự tự nguyện này của vợ chồng ông T, bà L là phù hợp.
[3] Từ những phân tích trên, cần chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng
ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1, sửa Bản án thẩm theo hướng ghi nhận s
tự nguyện của vợ chồng ông T, bà L đồng ý thanh toán cho vợ chồng ông H, H1
số tiền 104.000.000đ.
[4] Các phần khác của Bản án không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc tại giai đoạn
thẩm 7.000.000đ (nguyên đơn đã tạm nộp đã được Tòa án quyết toán
xong), chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc tại giai đoạn phúc thẩm là
13.580.363đ, tổng cộng 20.580.363đ (nguyên đơn đã tạm nộp được Tòa án
quyết toán xong). Do chấp nhận một phần cầu khởi kiện của vợ chồng ông H,
H1 chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của vợ chồng ông T, L nên buộc
8
mỗi bên phải chịu ½ số tiền (20.580.363đ/2) nói trên căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
Buộc vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán
lại cho vợ chồng ông Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1 10.290.181đ.
[6] Ván phí: Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên vợ chồng ông H,
H1 không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm. Các đương sự phải chịu án p
Dân sự thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn toàn bộ án phí Dân sự thẩm
cho ông Tôn Xuân H do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, điểm khoản 2, điểm a
khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn
Thị H1; sửa Bản án Dân sự thẩm số 09/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023
của Toà án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 5 – Lâm Đồng).
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Tôn Xuân H,
Nguyễn Thị H1 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với vợ chồng ông
Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị
L về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu tiếp
thục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với vợ chồng ông
Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1.
2.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng
ông Tôn Xuân H, bà Nguyễn Thị H1 vợ chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn
Thị L ngày 10/3/2016 có hiệu lực pháp luật.
Vợ chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L được quyền sử dụng diện tích
đất 592m
2
(trong đó
172m
2
thuộc một phần thửa đất số 138, tờ bản đồ số 03,
Đ (chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); 349m
2
thuộc một phần
thửa 11, tờ bản đồ số 03 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Tôn Xuân H; 58m
2
thuộc một phần thửa 295, tờ bản đồ số 03 Đ đã cấp Giấy
9
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Tôn Xuân H; 12m
2
thuộc thửa 224 gốc
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngoài ra 230m
2
ông H đã
rào lưới, chưa đo đạc được (được thể hiện trên họa đồ).
2.2. Buộc vợ chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L nghĩa vụ thanh
toán lại giá trị quyền sử dụng đất giá trị của các loại cây trồng trên đất
104.000.000đ (một trăm lẻ bốn triệu) cho vợ chồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn
Thị H1.
Vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L được quyền quản lý, sở hữu, sử
dụng tài sản là cây trồng trên đất trên phần đất được công nhận.
Vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L được quyền liên hệ với cơ quan
nhà nước thẩm quyền để làm thủ tục đăng khai, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối hiện trạng sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo họa đồ đo đạc, chỉnh theo hiện trạng ngày 31/12/2025 của Chi
nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về chi phí tố tụng: vchồng ông Tôn Xuân H, Nguyễn Thị H1 và vợ
chồng ông Trần Quốc T, Nguyễn Thị L mỗi bên phải chịu 10.290.181đ chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ thẩm định giá tài sản. Vợ chồng ông T, L
trách nhiệm trả lại cho vợ chồng ông H, H1 số tiền 10.290.181đ (mười triệu
hai trăm chín mươi nghìn một trăm tám mươi mốt đồng).
4. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
Miễn toàn bộ án phí Dân sự thẩm cho ông Tôn Xuân H. Buộc Nguyễn
Thị H1 phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm; được trừ vào số tiền 1.220.000đ
tạm ứng án phí Dân sự thẩm vợ chồng ông H, H1 đã nộp theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0003927 ngày 01/3/2019 của Chi
cục Thi hành án Dân sự huyện ĐHuoai, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi hành
án Dân sự khu vực 5 Lâm Đồng). Vợ chồng ông H, H1 được nhận lại số tiền
920.000đ tạm ứng án phí còn thừa.
Buộc vợ chồng ông Trần Quốc T, bà Nguyễn Thị L phải chịu 5.200.000đ án
phí Dân sthẩm; được trừ vào số tiền 2.300.000đ tạm ứng án phí Dân sự sơ
thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
AA/2016/0003934 ngày 14/3/2029 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đạ
Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 5 Lâm Đồng).
Vợ chồng ông T, bà L còn phải nộp 2.900.000đ.
- Án phí phúc thẩm:
+ Bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm; H1 được
nhận lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai
10
thu tạm ứng án phí, lệ phí số 007309 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án
Dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay Phòng Thi hành án Dân sự khu
vực 5 – Lâm Đồng).
+ Ông Tôn Xuân H được nhận lại số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Dân s
phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí s 007309 ngày
08/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng (nay
là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 5 – Lâm Đồng).
5. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi
hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án Dân sự.
6. Các phần khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng GĐ, Ktr, Ttr & THA (01);
- TAND khu vực 5 – Lâm Đồng (01);
- Phòng THADS khu vực 5 - Lâm Đồng (01);
- Các đương sự (02);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Châu Thạch
Tải về
Bản án số 31/2026/DS-PT Bản án số 31/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 31/2026/DS-PT Bản án số 31/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất