Bản án số 30/2026/HS-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2026/HS-ST ngày 25/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 30/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 30/2026/HS-ST Bản án số 30/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HS-ST Bản án số 30/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
Bản án số: 30/2026/HS-ST
Ngày: 25-8-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cảnh
Ông Lê Thành Đông
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Du My - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh
Long xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2026/TLST-HS ngày
24 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số
28/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 07/8/1972 tại tỉnh Vĩnh Long, số định danh cá
nhân: *********xxx; Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh V; Nghề nghiệp: làm vườn;
Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;
Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Lê Thị
T, sinh năm 1935 (đã chết); Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có 06 anh chị
em; Vợ: Lê Thị P, sinh năm 1969; Con: có 02 người con, tên Nguyễn Chính T,
sinh năm 1995 và Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/5/2026 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Hoài H, sinh năm 1983 (có mặt);
Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh V.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh V.
2. Nguyễn Hồng T, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh V.
3. Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh V.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 27/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn T sau khi đã có uống
rượu, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 71B2-458.xx đến dự đám tang mẹ ruột
của ông Nguyễn Văn u ở ấp G, xã T, huyện G, tỉnh B (nay là xã T, tỉnh V), trong
lúc dự đám tang, bị cáo T đi xuống khu vực bếp đùa giỡn với những người phụ
nấu ăn tại đám tang, sau đó xảy ra mâu thuẫn cự cãi với ông Nguyễn Tấn N. Ông
Phan Văn C thấy bị cáo T đã uống rượu say sỉn nên đến cặp cổ bị cáo T dẫn bị
cáo T từ trong đám tang ra đến ngoài cổng hàng rào nhà của ông U để bị cáo T đi
về, bị cáo T không về mà tiếp tục chửi, nghe bị cáo T chửi, bị hại Nguyễn Hoài H
dùng tay đánh vào mặt bị cáo T, được ông Nguyễn Văn C1 can ngăn, bị hại H tiếp
tục dùng tay đánh vào mặt bị cáo T nhưng không gây thương tích, bị cáo T lúc
này đến dẫn xe mô tô biển số 71B2-458.80 qua đường, mở cốp xe lấy 01 con dao
bỏ vào túi quần, bị cáo T đi đến giữa đường cầm dao trên tay phải đi đến vị trí của
bị hại H, bị hại H tiếp tục dùng tay đánh vào mặt bị cáo T được ông Nguyễn
Mạnh K can ngăn; bị cáo T cầm dao lên nói: “mày làm gì đánh tao, mày đánh tao
nữa tao đâm mày”, bị hại H trả lời: “đám tang người ta mà mày nhậu mày quần,
mày dám đâm tao không”; bị hại H xông vào bóp cổ bị cáo T; bị cáo T dùng dao
đâm bị hại H theo hướng từ trên xuống trúng vào vai trái của bị hại Hận gây
thương tích; bị hại H đè bị cáo T xuống đường, dùng tay đánh vào mặt bị cáo T
nhưng không gây thương tích, bị cáo Tha dùng dao đâm trúng vào bụng của bị hại
H gây thương tích, thấy bị hại H bị đâm chảy máu nên ông K đến can ngăn và kéo
bị hại H ra; bị cáo T cầm dao bỏ chạy về nhà, trên đường về nhà bị cáo T đã vứt
con dao. Đến 22 giờ ngày 27/10/2024 nhận được thông tin bị cáo T dùng dao đâm
gây thương tích cho bị hại H, Công an xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long đến hiện
trường tiến hành giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra tạm giữ:
Bị cáo Nguyễn Văn T giao nộp: 01 cái áo sơ mi tay ngắn màu xanh bông
phấn, size L, mặt sau áo phía bên trái có nhiều vết bẩn màu nâu; 01 cái quần tây,
loại quần dài, màu đen, phía bên trong lưng quần có màu trắng, dây kéo bằng kim
loại màu vàng đồng, phía trước ống quần trái có vết rách 01 lỗ khoảng 02cm gần
vị trí đầu gối trái; đây là trang phục bị cáo T mặc trong lúc dùng dao đâm gây
thương tích cho bị hại H vào ngày 27/10/2024.
Đối với xe mô tô biển số 71B2-458.80 là xe của Nguyễn Chính H (con của
bị cáo Nguyễn Văn T), xe này H đưa cho bị cáo T để đi làm thuê hàng ngày, con
dao để trong cốp xe là con dao do bị cáo T nhặt được ngoài đường bỏ vào cốp xe
dùng để cắt dây buộc ống bơm cát khi đi làm thuê, Cơ quan điều tra đã tổ chức
truy tìm con dao mà bị cáo T dùng đâm gây thương tích cho bị hại H vào ngày
27/10/2024 nhưng không tìm được.
3
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 454/24/KLTTCT
– TTPYBT ngày 27/12/2024 của Trung tâm Pháp y Bến Tre kết luận thương tích
của bị hại Nguyễn Hoài H như sau:
1. Các kết quả chính:
- Sẹo hố chậu phải, kích thước lớn.
- Sẹo phẫu thuật đường giữa trên – dưới rốn, kích thước trung bình.
- Sẹo phẫu thuật hố chậu phải, kích thước trung bình.
- Sẹo phẫu thuật hố chậu trái, kích thước nhỏ.
- Sẹo vai trái, kích thước nhỏ.
- Thủng 01 lổ ruột non đã xử trí.
- Rách thanh mạc.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế
quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám
định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn
Hoài H tại thời điểm giám định là: 32% (ba mươi hai phần trăm), áp dụng phương
pháp cộng tại thông tư.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Nguyễn Hoài H là:
+ Sẹo hố chậu phải, kích thước lớn: 03% (ba phần trăm) Căn cứ Chương 8,
Mục I.3.
+ Sẹo phẫu thuật đường giữa trên – dưới rốn, kích thước trung bình: 02%
(hai phần trăm) Căn cứ Chương 8 Mục I.2.
+ Sẹo phẫu thuật hố chậu phải, kích thước trung bình: 02% (hai phần trăm)
Căn cứ Chương 8, Mục I.2.
+ Sẹo phẫu thuật hố chậu trái, kích thước nhỏ: 01% (một phần trăm) Căn cứ
Chương 8 Mục I.1.
+ Sẹo vai trái, kích thước nhỏ: 01% (một phần trăm) Căn cứ Chương 8, Mục I.1.
+ Thủng một lỗ ruột non đã xử trí: 26% (hai mươi sáu phần trăm) Căn cứ
Chương 4, Mục III.1.1.
- Cơ chế hình thành vết thương của Nguyễn Hoài H do tác động của ngoại lực.
- Thương tích của Nguyễn Hoài H là do vật sắc nhọn gây ra.
- Chiều hướng hình thành thương tích:
+ Vết thương hố chậu phải: từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, từ phải sang trái.
+ Vết thương vai trái: không thể xác định.
4
Tại Kết luận giám định vật gây thương tích số 311/KLVGTT – TTPY ngày
31/10/2025 của Trung tâm Pháp y Vĩnh Long kết luận đối với con dao tương tự mà
T nhận dạng dùng để gây thương tích cho H vào ngày 27/10/2024 như sau:
Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được Cơ quan trưng cầu
giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định con dao (loại dao
xếp) có thể gây ra được thương tích của bị hại Nguyễn Hoài H.
Con dao gửi giám định có thể gây ra vết thương để lại sẹo hố chậu phải, vai
trái, thủng ruột non, rách thanh mạc như giấy chứng nhận thương tích số
001116/2024/CN ngày 22/11/2024 và giấy chứng nhận thương tích số 001211/2024/
CN do Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cấp.
Quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận dùng 01 con dao gây ra thương tích
cho bị hại H, lời khai này của bị cáo T là phù hợp với lời khai bị hại, người làm
chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật
chứng thu giữ, kết quả nhận dạng, kết quả thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu,
chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H yêu cầu bị cáo T bồi thường toàn bộ thiệt
hại với tổng số tiền là 72.080.000 đồng; bị cáo đồng ý và đã tự nguyện bồi thường
được số tiền 20.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSKV7 ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố
ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a khoản
1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, khoảng
20 giờ, ngày 27/10/2024, bị cáo đã nhậu say, có cự cãi, chửi bới tại đám tang nhà
ông Nguyễn Văn U nên bị bị hại H dùng tay đánh vào mặt bị cáo 02 cái nhưng
không gây thương tích, được ông K can ngăn. Bị cáo dẫn xe mô tô biển số 71B2-
458.xx qua đường, mở cốp xe lấy 01 con dao chủ động quay trở lại, bị cáo và bị hại
H cự cãi, xông vào giằng co, bị cáo dùng con dao đâm 01 nhát vào vai trái, 01 nhát
vào bụng bị hại h gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 32%. Bị
cáo đồng ý với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan
điều tra thu thập; không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo
đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 72.080.000 đồng theo yêu
cầu của bị hại H và đã bồi thường được 20.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý có trách
nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại h số tiền 52.080.000 đồng, bản thân bị cáo đã
tác động gia đình hỗ trợ bị cáo nhưng không có khả năng bồi thường số tiền còn lại
cho bị hại H. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại H khai: Khoảng 20 giờ, ngày 27/10/2024, tại đám tang nhà ông Nguyễn
Văn U thì bị cáo T uống rượu say xỉn, liên tục chửi bới nên bị hại H dùng tay
5
đánh vào mặt bị cáo T 02 cái nhưng không gây thương tích, được ông K can ngăn.
Bị cáo T dẫn xe qua lộ nhưng sau đó cầm 01 con dao quay trở lại đâm 01 nhát vào
vai trái, 01 nhát vào bụng bị hại H gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương
cơ thể là 32%. Bị hại đồng ý với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ
khác do cơ quan điều tra thu thập; không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết
định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Về trách nhiệm
dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo T bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là
72.080.000 đồng, đã nhận 20.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi
thường số tiền còn lại là 52.080.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại khẳng
định vẫn giữ nguyên yêu cầu xử lý bị cáo T theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ
nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị
cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm
a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 05
(năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường toàn bộ
thiệt hại với tổng số tiền là 72.080.000 đồng theo yêu cầu của bị hại H và đã bồi
thường được 20.000.000 đồng. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm
2015, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo H tiếp tục bồi thường cho bị hại H số
tiền 52.080.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi tay ngắn màu xanh bông
phấn, Size L, mặt sau áo phía bên trái có nhiều vết bẩn màu nâu; 01 cái quần tây,
loại quần dài, màu đen, phía bên trong lưng quần có màu trắng, dây kéo bằng
kim loại màu vàng đồng, phía trước ống quần trái có vết rách 01 lỗ khoảng 02
cm gần vị trí đầu gối trái; 01 con dao xếp đa năng, cán dao bằng kim loại được
bọc nhựa màu nâu, vỏ có biểu tượng thập tự màu trắng in nổi, lưỡi dao bằng kim
loại màu trắng, sắc bén, mũi dao nhọn, cán dao dài 11 cm, lưỡi dao dài 08 cm,
cân nặng 85g.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, bản
thân bị cáo đang phải điều trị bệnh và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện
kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại Nguyễn Hoài H không có ý kiến
hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Mạnh K, Nguyễn Văn I, Nguyễn
Văn C vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị cáo T, bị hại H, Kiểm
sát viên đề nghị xét xử vắng mặt người làm chứng. Xét thấy, trong quá trình điều
tra, người làm chứng đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án và
việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với
lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của
những người tham gia tố tụng khác; kết luận giám định; kết quả khám nghiệm
hiện trường; kết quả nhận dạng; thực nghiệm điều tra cùng các chứng cứ khác đã
được thu thập trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ
ngày 27/10/2024, bị cáo T đã uống rượu say, cự cãi với ông N, được ông C dẫn
đến cổng hàng rào nhà ông U để ra về nhưng không về mà tiếp tục chửi thì bị bị
hại H dùng tay đánh 02 cáo vào mặt bị cáo T, không gây thương tích. Bị cáo T
dẫn xe qua lộ nhưng sau đó cầm 01 con dao chủ động quay trở lại tìm bị hại Hận
cự cãi, hai bên xông vào giằng co, bị cáo T dùng dao đâm 01 nhát vào vai trái,
đâm 01 nhát vào bụng gây thương tích cho bị hại H với tỷ lệ phần trăm tổn
thương cơ thể do thương tích là 32%. Do đó, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố
cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31%
đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến điểm
k khoản 1 Điều này…” theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm
a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long và lời buộc
tội của Kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng
tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:
Quyền được an toàn về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của công
dân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Người nào xâm phạm đến sức khỏe
7
người khác một cách trái pháp luật, đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hình
sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất. Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho
xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác gây hoang mang trong nhân
dân và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần
áp dụng mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do
hành vi phạm tội của bị cáo T gây ra.
Tuy nhiên, trong vụ án này, việc bị hại H có hành vi dùng vũ lực tấn công
bị cáo T trước là nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thể hiện một phần lỗi xuất
phát từ phía bị hại H nên hành vi của bị cáo T sẽ được Hội đồng xét xử xem xét
cân nhắc, giảm nhẹ một phần khi lượng hình.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, bị cáo T không có tiền án, tiền sự nên xác định có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định tội và định
khung hình phạt, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường
một phần thiệt hại cho bị hại; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có một phần lỗi; bản thân bị cáo đang
phải điều trị bệnh đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy
định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017).
[6] Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội
của bị cáo T gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một
thời gian nhất định là điều cần thiết nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở
thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật,
đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền
là 72.080.000 đồng theo yêu cầu của bị hại H và đã bồi thường được 20.000.000
đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm. Do đó, căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; các
Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo T tiếp tục bồi
thường cho bị hại H số tiền còn lại là 52.080.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Vĩnh Long thu giữ:
- Đối với 01 cái áo sơ mi tay ngắn màu xanh bông phấn, size L, mặt sau áo
phía bên trái có nhiều vết bẩn màu nâu; 01 cái quần tây, loại quần dài, màu đen,
phía bên trong lưng quần có màu trắng, dây kéo bằng kim loại màu vàng đồng,
phía trước ống quần trái có vết rách 01 lỗ khoảng 02 cm gần vị trí đầu gối trái;
đây là trang phục bị cáo T mặc trong lúc dùng dao đâm gây thương tích cho bị hại
8
H vào ngày 27/10/2024, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử
dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 con dao xếp đa năng, cán dao bằng kim loại được bọc nhựa
màu nâu, vỏ có biểu tượng thập tự màu trắng in nổi, lưỡi dao bằng kim loại
màu trắng, sắc bén, mũi dao nhọn, cán dao dài 11 cm, lưỡi dao dài 08 cm, cân
nặng 85g; đây là con dao có đặc điểm tương tự con dao mà bị cáo T dùng để gây
thương tích cho bị hại H, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Vĩnh Long).
[9] Do vụ án xảy ra trước ngày 01/01/2025 nên không xem xét xử lý đối với
bị cáo T về hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
[10] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và
án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.604.000 đồng.
[11] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo T
về tội danh; điều luật áp dụng; nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm
a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày
27/5/2026.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 357, 468,
584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Hoài H số
tiền 52.080.000 (năm mươi hai triệu không trăm tám mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy:
9
- 01 cái áo sơ mi tay ngắn màu xanh bông phấn, size L, mặt sau áo phía bên
trái có nhiều vết bẩn màu nâu;
- 01 cái quần tây, loại quần dài, màu đen, phía bên trong lưng quần có màu
trắng, dây kéo bằng kim loại màu vàng đồng, phía trước ống quần trái có vết rách
01 lỗ khoảng 02 cm gần vị trí đầu gối trái. nâu
- 01 con dao xếp đa năng, cán dao bằng kim loại được bọc nhựa màu nâu
vỏ có biểu tượng thập tự màu trắng in nổi, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng,
sắc bén, mũi dao nhọn, cán dao dài 11 cm, lưỡi dao dài 08 cm, cân nặng 85g.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh
Vĩnh Long).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai
trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.604.000 (hai triệu sáu
trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của
Luật Thi hành án dân sự./
* Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Long;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 7 – Vĩnh Long;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Vĩnh Long;
- Bộ phận thi hành án hình sự;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Phân trại tạm giam Ba Tri;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Phạm Minh Thơ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 30/2026/HS-ST Bản án số 30/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2026/HS-ST Bản án số 30/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất