Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 18/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 18/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 30/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/07/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Trần Kim T trả nợ tín dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 30/2025/DS-ST
Ngày: 18-7-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Hà Như Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Văn Vô
2. Ông Lê Hữu Trọng
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Cẩm Vân - Thư viên Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân khu vực 3 - Thành phHồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Thành phố Hồ C Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
183/2024/DSST ngày 28 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm
2025 Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2025/QĐST-DS ngày 19 tháng 6 năm
2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
Địa chỉ trụ sở chính: Số I P, phường S (cũ phường B, Quận A), Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Lee Yun H, sinh năm
1975, chức danh: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Lâm Thị Thùy D, sinh năm
2000, địa chỉ liên lạc: Phòng số 401, tầng 4, tòa nhà số G T, phường T (cũ
phường T, Quận G), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Trần Kim T, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Số F C, phường N (cũ Phường A, Quận C), Thành phố
Hồ Chí Minh.
Địa chỉ nơi ở: Số E A, phường A (cũ Phường I, Quận E), Thành phố Hồ
Chí Minh.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Công ty T1 (Việt Nam)
trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo y quyền của nguyên đơn
trình bày:
Ngày 01 tháng 4 năm 2023, Công ty T1 (Việt Nam) (viết tắt Công ty T1)
Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4468265 về việc cấp tín dụng cho
Trần Kim T với khoản vay trị giá 35.541.000 đồng (ba mươi lăm triệu năm trăm
bốn mươi bốn nghìn đồng), lãi suất trong hạn 52%/năm, lãi suất quá hạn 150%
lãi suất tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi chậm trả 10%/năm, thời hạn cho
vay từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 15 tháng 3 năm 2026. Các bên
thỏa thuận, T thực hiện thanh toán hàng tháng vào ngày 15, trả làm 36 kỳ, k
đầu tiên bắt đầu từ ngày 15 tháng 4 năm 2023 theo Lịch thanh toán được Công ty
T1 gửi cho T, khi đến hạn thanh toán nếu bà T không trả hoặc trả không đủ nợ
gốc, lãi theo thỏa thuận, ngoài việc phải trả tiền lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa
thuận (tiền lãi trong hạn) thì T còn phải trả tiền tiền lãi trên nợ gốc quá hạn
tiền lãi chậm trả được quy định tại tiểu mục 8.3 mục 8 của Đề nghị vay vốn
kiêm hợp đồng tín dụng số 4468265, theo cách tính như sau:
- Số tiền lãi quá hạn = tổng số tiền lãi quá hạn của từng kỳ (tính đến thời điểm
tính lãi). Số tiền lãi quá hạn từng kỳ = 150% x lãi suất % x (số tiền gốc chưa trả
mỗi kỳ) x (số ngày quá hạn/365).
- Số tiền lãi chậm trả = tổng số tiền lãi chậm trả của từng kỳ (tính đến thời
điểm tính lãi). Số tiền lãi chậm trả từng kỳ = 10% x (số tiền lãi chưa trả của mỗi
kỳ) x (số ngày quá hạn/365).
Sau khi kết, Công ty T1 đã giải ngân stiền 35.541.000 đồng (ba mươi
lăm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) cho T vào ngày 03 tháng 4 năm
2023.
Sau khi được giải ngân, bà T đã thanh toán cho Công ty T1 số tiền
14.192.088 đồng, trong đó tiền nợ gốc 4.272.133 đồng, tiền lãi 9.830.590
đồng, lãi chậm trả 5.365 đồng, phí 84.000 đồng. Từ ngày 18 tháng 10 năm
2023 cho đến nay, T không tiếp tục thanh toán theo thỏa thuận tại Đề nghị vay
vốn kiêm hợp đồng tín dụng.
Công ty T1 đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại, gửi thư đề nghị bà T thực hiện
nghĩa vụ thanh toán nhưng T vẫn chưa thanh toán khoản nợ cho Công ty T1, vi
phạm các điều khoản thanh toán đã được thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp
đồng tín dụng nêu trên nên Công ty T1 khởi kiện đến Tòa án yêu cầu cá nhân T
thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi còn thiếu.
Tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2025, T còn chưa thanh toán cho Công ty
T1 stiền tổng cộng 61.472.100 đồng, trong đó: nợ gốc 31.268.867 đồng, lãi
trong hạn 20.307.409 đồng, lãi quá hạn 8.196.385 đồng, lãi chậm trả 1.699.439
đồng.
Bị đơn Trần Kim T được Tòa án thực hiện việc cấp, tống đạt các văn
bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng T vắng mặt trong quá trình giải
3
quyết vụ án, không ý kiến trình bày không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho
Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
- Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Lâm Thị Thùy D vắng
mặt, đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai ngày 18 tháng 7 năm 2025,
Lâm Thị Thùy D xác định nguyên đơn yêu cầu Trần Kim T trả cho nguyên
đơn số tiền tạm tính đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 tổng cộng là 65.369.277 đồng,
trong đó n gốc còn lại chưa thanh toán 31.268.867 đồng, lãi trong hạn
21.552.152 đồng, lãi quá hạn 10.491.859 đồng, lãi chậm trả 2.056.399 đồng
tiền lãi phát sinh ktừ ngày 19 tháng 7 năm 2025 cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ vay trên.
- Bị đơn là bà Trần Kim T vắng mặt, không rõ lý do nên không có ý kiến trình
bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ
khi thụ vụ án tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đương sự
được thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố
tụng dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn đơn
đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử
lần thứ hai nhưng vắng mặt, không rõ lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương
sự là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty
T1 (Việt Nam), buộc bị đơn Trần Kim T thanh toán cho nguyên đơn số tiền
còn thiếu tính đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 65.369.277 đồng, trong đó nợ gốc
còn lại chưa thanh toán 31.268.867 đồng, lãi trong hạn 21.552.152 đồng, lãi
quá hạn10.491.859 đồng, lãi chậm trả 2.056.399 đồng tiền lãi phát sinh kể
từ ngày 19 tháng 7 năm 2025 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty T1 (Việt Nam)
theo mức lãi suất thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng số 4468265
ngày 01 tháng 4 năm 2023 và Bản điều khoản và điều kiện cho vay của Công ty T1
(Việt Nam). Bị đơn chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và ý kiến trình bày của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu Trần Kim T thanh toán tiền nợ
gốc nợ lãi còn thiếu phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Công ty T1 (Việt Nam) đã
thực hiện khởi kiện theo địa chỉ của bà T là E A, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ
4
Chí Minh (địa chỉ mới 538 A phường A, Thành phố Hồ Chí Minh), được ghi
trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4468265 ngày 01 tháng
4 năm 2023. Ngày 17 tháng 12 năm 2024, Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí
Minh đã cung cấp thông tin hiện tại địa chỉ số E A, Phường I, Quận E không
ai tên Trần Kim T trú làm việc. Kết quả xác minh ngày 27 tháng 02 năm
2025 của Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện T hộ khẩu
thường trú tại 6 C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực
tế ngụ. Ngoài ra, kết quxác minh ngày 29 tháng 3 năm 2025 của Công an P2,
Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận T không thực tế đăng hộ khẩu
thường trú, tạm trú và không thực tế cư ngụ tại 1 M, Phường A, Quận H. Bà T thay
đổi địa chỉ trú mà không tng báo cho Công ty T1 (Việt Nam) thuộc trường
hợp cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố
tụng dân sự hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số
04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, nên Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam) xác định đây là quan hệ
tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự khoản 1
Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định vtiếp
nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Lâm Thị Thùy D là người đại diện theo
ủy quyền cho nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn là bà Trần Kim T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định đưa
vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến
lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không do và cũng không đơn đề nghị t
xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của B
luật Tố tụngn sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Nguyên đơn là Công ty T1 (Việt Nam) (viết tắt là ng ty T1) yêu cầu bị đơn
Trần Kim T (viết tắt T) thanh toán tiền nợ tín dụng còn thiếu tính đến
ngày 18 tháng 7 năm 2025 gồm tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán 31.268.867
đồng, lãi trong hạn 21.552.152 đồng, lãi quá hạn 10.491.859 đồng, lãi chậm
trả là 2.056.399 đồng trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19 tháng 7 năm 2025 đến
khi thanh toán xong theo lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm
hợp đồng tín dụng.
[3.1] Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng số 4468265 ngày 01 tháng 4
năm 2023 được thực hiện theo hình thức hợp đồng điện tgiữa Công ty T1 (Việt
Nam) Trần Kim T ng như trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải
quyết vụ án, sở xác định, Công ty T1 cho bà T vay số tiền là 35.541.000
đồng (ba mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng), gồm khoản vay
33.000.000 đồng phí bảo hiểm khoản vay 2.541.000 đồng, thời hạn vay từ ngày
5
tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 15 tháng 3 năm 2026, lãi suất hàng tháng
4.33%/tháng, lãi suất theo năm 52%/năm (một năm 365 ngày), thanh toán n
gốc lãi hàng tháng vào ngày 15, ngày thanh toán đầu tiên ngày 15 tháng 4
năm 2023, ngày thanh toán sau cùng ngày 15 tháng 3 năm 2026. Công ty T1
(Việt Nam) đã giải ngân số tiền 35.541.000 đồng cho T vào ngày 03 tháng 4
năm 2023.
[3.2] Căn cứ Báo cáo Lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng do Công ty T1
cung cấp cũng như trình bày của nguyên đơn thể hiện sau khi vay, T đã thanh
toán cho ng ty T1 stiền tổng cộng 14.192.088 đồng, ngừng thanh toán kể từ
ngày 18 tháng 10 năm 2023 cho đến nay.
[3.3] Tiểu mục 8.1 mục 8 điểm 3 phần B của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng
tín dụng số 4468265 ký ngày 01 tháng 4 năm 2023 có quy định: “Khách hàng đồng
ý thanh toán nợ gốc và/hoặc tiền lãi được tính theo lãi suất bằng việc thanh toán số
tiền trả hàng tháng nhưng không trễ hơn ngày thanh toán”. Ngoài ra, Điều 11 của
Bản điều khoản và điều kiện cho vay (là một phần không thể tách rời của hợp đồng
tín dụng) có quy định Công ty T1 được quyền đơn phương chấm dứt cho vay, thu
hồi nợ trước hạn khi khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng Bản điều khoản
điều kiện cho vay.
[3.4] Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nnên kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2023,
Công ty T1 đã chuyển toàn bộ nợ còn lại sang nợ quá hạn áp dụng mức lãi
suất theo quy định tại tiểu mục 8.3 mục 8 điểm 3 phần B của Đề nghị vay vốn
kiêm hợp đồng tín dụng số 4468265 ký ngày 01 tháng 4 năm 2023. Tính đến ngày
18 tháng 7 năm 2025, bà T còn chưa thanh toán cho Công ty T1 số tiền là nợ gốc là
31.268.867 đồng, lãi trong hạn là 21.552.152 đồng, lãi quá hạn là 10.491.859 đồng,
lãi chậm trả là 2.056.399 đồng.
[3.5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn Trần
Kim T về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các tài liệu, chứng cứ kèm
theo nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhưng T không ý kiến phản hồi
cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại
khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự nghĩa vụ đưa ra chứng
cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc đưa ra không đủ chứng cứ
thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có
trong hồ sơ vụ án.
[3.6] Bị đơn giao kết hợp đồng tín dụng nhưng không thanh toán nợ gốc và lãi
theo đúng kỳ hạn đã thỏa thuận với nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do
đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền vay còn thiếu tính
đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 65.369.277 đồng, bao gồm: nợ gốc còn lại chưa
thanh toán 31.268.867 đồng, nợ lãi trong hạn 21.552.152 đồng, lãi quá hạn
10.491.859 đồng và lãi chậm trả 2.056.399 đồng có cơ sở, phù hợp với quy định
tại khoản 2 Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2017), Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều
13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N,
6
khoản 4 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.7] Như vậy, tổng số tiền bị đơn trách nhiệm trả cho nguyên đơn
65.369.277 đồng.
[3.8] Bị đơn tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán
kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi
suất hai bên đã thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng số 4468265 ký ngày
01 tháng 4 năm 2023, Bản điều khoản kiều kiện cho vay của Công ty T1 (Việt
Nam).
[4] Về án phí dân sự thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp
nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự thẩm theo quy định tại Điều
147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí và lệ phí
Tòa án. Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 ca Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
(được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 4 Điều 13 Thông số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân s92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện,
quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tiếp nhận nhiệm vụ, thực
hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân,
7
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 (Việt Nam):
- Buộc Trần Kim T có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam)
số tiền nợ của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng số 4468265 ngày 01 tháng 4
năm 2023, tính đến ngày 18 tháng 7 năm 2025 là 65.369.277 đồng (sáu mươi lăm
triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó, nợ gốc
31.268.867 đồng, lãi trong hạn 21.552.152 đồng, lãi quá hạn 10.491.859
đồng và lãi chậm trả là 2.056.399 đồng.
Thực hiện thanh toán ngay sau khi bản án hiệu lực pháp luật tại quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 19 tháng 7 năm 2025, bà Trần Kim T còn phải tiếp tục chịu khoản
tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên
thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng s4468265 ngày 01 tháng 04
năm 2023, Bản điều khoản và điều kiện cho vay của Công ty T1 (Việt Nam) cho
đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân sự thẩm 3.268.464 đồng (ba triệu hai trăm sáu mươi tám
nghìn bốn trăm sáu mươi bốn đồng) do bà Trần Kim T chịu.
Trả lại cho Công ty T1 (Việt Nam) stiền tạm ứng án phí đã nộp là 959.231
đồng (chín trăm năm mươi chín nghìn hai trăm ba mươi mốt đồng) theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0036380 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi bản án
hiệu lực pháp luật.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Viện kiểmt nhân dân khu vực 3;
- Thi hành án dân sự TP.HCM;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hà Như Oanh
8
Tải về
Bản án số 30/2025/DS-ST Bản án số 30/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 30/2025/DS-ST Bản án số 30/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất