Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST ngày 20/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 2915/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST ngày 20/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 2915/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đào Quang H và Huỳnh Kim L ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 2915/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 20/7/2026.
V/v: Ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Hồng Đào
2. Ông Nguyễn Văn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Đạo -
là thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 tham gia phiên tòa:
Bà Tăng Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1482/2026/TLST-
HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2026 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 909/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đào Quang H năm: 1967
CCCD số: ************ cấp ngày 25/4/2021 tại Cục C về TTXH.
Địa chỉ: 3 P, phường B, TP HCM.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Kim L sinh năm: 1968
CCCD số: ************ cấp ngày 25/4/2021 tại Cục C về TTXH.
Địa chỉ: 3 P, phường B, TP HCM.
(Ông H1 và bà L đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2026 nguyên đơn ông Đào Quang H1 trình
bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Đào Quang H1 và bà Huỳnh Kim L tự nguyện
chung sống với nhau từ năm 1986, có đăng ký kết hôn ngày 16/7/1994 tại Ủy ban nhân
dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc trong khoảng 30 năm. Bắt đầu
từ năm 2017, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống. Vợ
chồng không còn thương yêu nhau, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nguyên nhân
2
do bà L nhiều lần thiếu nợ với số tiền rất lớn, ông H1 đã phải đứng ra trả nợ cho nhiều
người đối với những khoản tiền mà cá nhân bà L vay.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, mục đích hôn
nhân không đạt được nên ông H1 yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Kim L.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992. Cả hai đều đã trưởng thành.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Bị đơn bà Huỳnh Kim L trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đào Quang H1 là vợ chồng chung sống với
nhau từ năm 1986, có đăng ký kết hôn ngày 16/7/1994 tại Ủy ban nhân dân quận B,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2021 (dịch Covid 19) thì bắt
đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ ông H1 có người thứ 3 bên ngoài
nhưng bà vẫn tha thứ bỏ qua.
Bà thừa nhận trong khoảng thời gian năm 2014 -2015 thì cá nhân bà có vay
mượn bên ngoài để làm ăn nhằm mục đích có thêm khoản thu nhập để lo thuốc thang
cho cha mẹ ruột của bà. Cha mẹ bà hiện nay đều đã mất. Tuy nhiên, do làm ăn thua lỗ
nên bà không có khả năng trả nợ cho những người mà bà đã từng vay nên chồng bà là
ông H1 đứng ra trả nợ dùm cho bà, số tiền nợ tầm khoảng 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.
Nay ông H1 yêu cầu ly hôn thì bà không đồng ý ly hôn vì giữa bà, ông H1 và các
con chưa giải quyết xong việc phân chia tài sản cho bà.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992. Cả hai đều đã trưởng thành.
+ Về tài sản chung: Tài sản chung giữa bà và ông H1 có tài sản chung là 04 căn
nhà như các giấy tờ ông H1 đã nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, vào các năm 2017 và 2019,
ông H1 bảo bà ký giấy tờ liên quan đến nhà đất để thế chấp Ngân hàng. Bà không biết
lúc đó là bà ký hợp đồng tặng cho các con (Đào Thị Tuyết L1, Đào Ngọc Đ và Nguyễn
Văn T (con rể). Đến nay, khi ông H1 nộp đơn yêu cầu ly hôn thì bà mới biết phần sở
hữu tài sản chung của bà đều được tặng cho hết cho các con.
+ Về nợ chung: Không có.
Bà xác định bà không có yêu cầu phản tố trong vụ án này. Tuy nhiên, liên quan
đến phần tài sản mà bà đã trình bày ở trên, nguyện vọng của bà là mong muốn ông H1
và các con hỗ trợ cho bà một khoản tiền nhất định hoặc sang tên lại cho bà một căn nhà
để bà có điều kiện sinh sống trong trường hợp vợ chồng ly hôn.
Bà mong muốn ông H1 hỗ trợ bà số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng để bà tự lo
cuộc sống của bản thân. Trong trường hợp ông H1 đồng ý hỗ trợ bà số tiền này thì bà
đồng ý thuận tình ly hôn và dọn ra ngoài sinh sống.
- Nguyên đơn ông Đào Quang H1 không đồng ý với ý kiến bị đơn về việc hỗ trợ
số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng hoặc sang tên cho bị đơn một căn nhà như bị đơn
trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
3
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn ông Đào Quang H1 trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện. Cụ thể:
+ Về quan hệ hôn nhân: Ông H1 yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Kim L.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992. Cả hai đều đã trưởng thành.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Bị đơn bà Huỳnh Kim L trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà chỉ đồng ý thuận tình ly với điều kiện ông H1 phải
đưa cho bà số tiền là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng để sau khi ly hôn bà dọn ra ngoài ở và
lo cuộc sống riêng của bà.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992. Cả hai đều đã trưởng thành.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bà xác định là không có yêu cầu phản tố. Hiện nay, bà đang sống chung nhà với
ông H1 và con trai Đào Ngọc Đ. Nếu ly hôn bà không thể sống chung nhà với ông H1.
Do vậy, bà mong muốn ông H1 hỗ trợ bà một khoản tiền như trên để bà tự lo cuộc sống.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
➢ Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội
đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đều tuân thủ đúng
trình tự, thủ tục tố tụng. Tòa án giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng thành
phần tham gia tố tụng.
➢ Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do các đương
sự cung cấp cho thấy:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Kim L và ông Đào Quang H1 là vợ chồng chung
sống với nhau từ năm 1986, có đăng ký kết hôn ngày 16/7/1994 tại Ủy ban nhân dân
quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H1 và bà L kết hôn với nhau trên tinh thần tự
nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà L là hợp pháp,
được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bị đơn cũng thừa
nhận từ năm 2021 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Bị đơn cho rằng nguyên
nhân xuất phát từ ông H1 có người thứ 3 bên ngoài nhưng không đưa ra được tài liệu,
chứng cứ gì chứng minh.
Như vậy, cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia
đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Quang H1 về việc được ly hôn với bà
Huỳnh Kim L.
+ Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992 (cả hai đều đã trưởng thành).
4
+ Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
Về ý kiến của bị đơn đề nghị nguyên đơn hỗ trợ một khoản tiền nhất định
(1.000.000.000 đồng) thì bị đơn đồng ý ly hôn: Đây không phải là yêu cầu phản tố của
bị đơn. Mặt khác, nguyên đơn cũng không đồng ý hỗ trợ nên không có cơ sở xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào đơn xin ly hôn cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy bị
đơn bà Huỳnh Kim L có hộ khẩu thường trú tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh nên
căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung 2025 thì vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục tố tụng dân
sự.
[2].Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Kim L và ông Đào Quang H1 là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1986,
có đăng ký kết hôn ngày 16/7/1994 tại Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí
Minh. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông H1 và bà L là hôn nhân hợp pháp được
pháp luật công nhận.
Tại phiên tòa, ông H1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn vợ chồng đã
đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do vậy, ông H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện được ly hôn với bà L.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa ông L và ông H1 đã thực sự trầm trọng, vợ
chồng không còn tình cảm yêu thương nhau. Chính bị đơn cũng thừa nhận mâu thuẫn
vợ chồng đã phát sinh nhiều năm nay. Bị đơn cho rằng nguyên nhân do ông H1 có
người thứ ba nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh.
Xét thấy, vợ chồng phải yêu thương, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau
xây dựng cuộc sống gia đình ấm no hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc sống chung giữa ông
H1 và bà L đã phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, không còn hạnh phúc, mục
đích hôn nhân không đạt được nên khả năng đoàn tụ là không có. Do vậy, yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và Đào
Ngọc Đ, sinh năm 1992 (cả hai đều đã trưởng thành).
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
[3]. Ý kiến của bị đơn trình bày liên quan về tài sản:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn xác định không có yêu cầu phản tố. Chỉ
trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn cho rằng có tài sản chung là 04 căn nhà. Vào các năm 2017 và 2019, ông
H1 bảo bị đơn ký giấy tờ liên quan đến nhà đất để thế chấp Ngân hàng, nhưng thực chất
5
là ký hợp đồng tặng cho phần sở hữu tài sản chung của bị đơn (tương ứng 50% của mỗi
căn nhà) cho các con. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đây là ý kiến trình bày của bị đơn chứ không phải yêu cầu phản tố, tại phiên tòa
bị đơn cũng xác định không có yêu cầu phản tố. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem
xét yêu cầu liên quan đến tài sản mà bị đơn cho rằng đó là tài sản chung. Sau này, nếu
có tranh chấp liên quan đến tài sản thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
- Ý kiến của bị đơn mong muốn ông H1 hỗ trợ cho bị đơn một khoản tiền nhất
định là 1.000.000.000 (một tỷ) đồng trong trường hợp vợ chồng ly hôn: Ý kiến này
nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận.
[4]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến phát biểu của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, có cơ
sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5]. Về án phí: Ông H1 phải chịu án phí vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147;
khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm
2025;
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Quang H1.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đào Quang H1 được ly hôn với bà Huỳnh Kim L.
Giấy chứng nhận kết hôn số 451/ĐKKH, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân quận
B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/7/1994 cho ông Đào Quang H1 và bà Huỳnh
Kim L không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Có 02 người con chung là Đào Thị Tuyết L1, sinh năm 1987 và
Đào Ngọc Đ, sinh năm 1992. Cả hai đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét.
2. Trường hợp các bên có tranh chấp liên quan đến tài sản thì có quyền khởi kiện
trong một vụ án dân sự khác.
3. Về án phí: Án phí của vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng,
ông Đào Quang H1 phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016575
ngày 18/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông H1 đã nộp đủ án
phí.
6
4. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP . HCM; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND KV5, TP . HCM;
- THADS TP. HCM
(Phòng THADS KV5);
- UBND P.Bình Lợi Trung, TP . HCM;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Mai Thị Thu Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST Bản án số 2915/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất