Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 148/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT ngày 09/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 148/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/09/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp thay đổi quyền nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————
Bản án số: 148/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 09/9/2026.
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Thẩm phán: 1. Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
2. Ông Phan Trịnh Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Mai Thị Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
95/2026/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1100/2026/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo
quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4909/2026/QĐ-PT ngày 29 tháng 7
năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 13800/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 8
năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: 225/20/55 Tạ Quang Bửu, phường C Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phan Đức N, sinh năm 1992 (có mặt).
Địa chỉ: 225/20/55 Tạ Quang Bửu, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do có kháng cáo của bị đơn ông Phan Đức N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai T trình bày:
Bà T và ông Phan Đức N là vợ chồng chung sống hợp pháp và có đăng ký
kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 181/2018 do Ủy ban nhân dân phường
Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/11/2018.
2
Bà T xác định vợ chồng bà mâu thuẫn từ năm 2021 đến nay về nhiều vấn
đề trong cuộc sống từ tình cảm đến kinh tế, bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình
cảm ngày càng rạn nứt, bà T đã chia sẻ nhiều lần với ông N nhưng không giải
quyết được mâu thuẫn, bà T nghĩ con còn nhỏ nên cố gắng chung sống và hàn gắn
để chăm sóc con. Tuy nhiên khoảng thời gian 05 năm nay vợ chồng không thể nói
chuyện hay chia sẻ được nữa, mâu thuẫn trầm trọng hơn. Do đó, bà T yêu cầu sớm
được ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống và chăm sóc con chung.
Về con chung: Bà và ông N có 01 con chung tên Phan Tấn Lộc (nam), sinh
ngày 30/11/2020. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly
hôn và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bị đơn ông Phan Đức N trình bày:
Ông N thống nhất trình bày của bà T về việc kết hôn và con chung đúng
như bà T trình bày.
Ông N cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì nghiêm trọng, chủ yếu
những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày nhưng không đến mức phải ly
hôn. Bản thân ông N vẫn còn yêu thương vợ con và muốn hoà giải hàn gắn để vợ
chồng có cơ hội cùng chăm sóc con chung do trẻ Phan Tấn Lộc bị tăng động nhẹ,
cần môi trường tốt có đủ cha và mẹ chăm sóc để con phát triển bình thường nên
không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì ông N yêu cầu
được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lộc, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 1100/2026/HNGĐ-ST ngày 15
tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh
đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị
Mai T, cho bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với ông Phan Đức N.
2.Về con chung: Giao con chung Phan Tấn Lộc cho bà T trực tiếp nuôi
dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi
con.
3 Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền N vụ của cha mẹ với con sau khi ly hôn,
án phí, quyền kháng cáo, việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
3
Ngày 15/6/2026 bị đơn ông Phan Đức N có đơn kháng cáo một phần bản án
sơ thẩm, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Phan Tấn Lộc, không yêu cầu bà T
cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn ông Phan Đức N đồng thời là người kháng cáo trình bày:
Hiện nay ông và bà T vẫn cùng nuôi con và ở tại căn nhà số 225/20/55 Tạ
Quang Bửu, phường Chánh Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là giáo viên dạy
lái xe ô tô theo hợp đồng lao động thời hạn đến ngày 22/3/2031 với Trung tâm
Giáo dục nghề nghiệp Sao Việt nên công việc ổn định với thu nhập hiện nay
khoảng 25.000.000đồng/tháng, ngoài ra có thể có thêm tiền bồi dưỡng nếu dạy tốt
nhưng không thể xác định cụ thể là bao nhiêu. Trẻ Phan Tấn Lộc bị tặng động
nhẹ, thời gian qua ông cũng là người trực tiếp chăm sóc con thì sau khi ly hôn vẫn
tiếp tục chăm sóc như cũ. Ông và bà T đã dự tính bán căn nhà đang ở nên ông sẽ
đưa con về sống cùng với gia đình mẹ ruột của ông tại căn nhà số 30 Phạm Thế
Hiển phường Chánh Hưng và dự kiến xin cho con học lớp 1 tại Trường Nguyên
Trực tại phường Chánh Hưng cách nhà mẹ ruột ông khoảng gần 01 km, thời gian
làm việc của ông linh hoạt nên có thể đưa đón con đi học. Đề nghị Tòa xem xét
cho ông được nuôi con chung Tấn Lộc sau khi ly hôn, nếu được nuôi con ông
không yêu cầu bà T cấp dưỡng vì có đủ khả năng nuôi con.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai T đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm và
trình bày:
Bà T có công việc ổn định tại phòng hành chính nhân sự của Công ty cổ
phần hóa phẩm Tùng Việt, địa điểm văn phòng tại quận 5 cũ , Thành phố Hồ Chí
Minh, công ty có Nhà máy ở khu công nghiệp Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai nhưng
công việc của bà là quản lý nhân sự nên không phải làm việc tại nhà máy mà được
linh hoạt và đã được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn nên công việc
ổn định, thu nhập theo hợp đồng khoảng 17.000.000đồng/tháng và có thêm tiền
hoa hồng các nhà cung cấp cho bình quân khoảng 10.000.000đồng/tháng. Ngoài
ra bà có làm tư vấn lao động online cho 1 công ty khác với lương
10.000.000đồng/tháng. Đúng là trẻ Lộc bị tặng động nhẹ, ngày 08/3/2026 giữa bà
và ông N xảy ra việc giằng co với nhau nên ngày đó bà có nhắn tin để ông N chịu
trách nhiệm chính trong chăm sóc con để tránh ông bộc lộ cảm xúc thái quá sẽ
ảnh hưởng đến con nhưng thực tế từ lúc sinh con ra đến nay bà T là người trực
tiếp chăm sóc con, hiện tại bà có đủ thời gian trực tiếp chăm sóc cho trẻ Lộc, ngoài
ra còn có bà ngoại còn khỏe, có điều kiện kinh tế sẵn sàng hỗ trợ bà nuôi con. Về
chỗ ở, hiện tại bà và ông N còn ở chung nhà nhưng sống ly thân mỗi người một
phòng. Theo dự kiến thì tháng 11/2026 căn nhà đang ở bị giải tỏa, bà T được mẹ
ruột cho căn hộ chung cư Mizuki nằm trên đường Nguyễn Văn Linh, Bình Hưng,
Bình Chánh để ở riêng nên bà dự định đưa con về ở cùng, còn căn nhà gia đình
bên nội trẻ Lộc đang ở khoảng 60 m
2
đã có 6 người ở nếu thêm cha con ông N là
8 người thì không gian sống chật hẹp và dự kiến tháng 01/2027 căn nhà này cũng
sẽ bị giải tỏa, trẻ Lộc nếu sống tại đây thì không có chỗ ở ổn định. Bà T không có
khả năng để được làm mẹ lần nữa (bà từng bị sự cố về sức khỏe lúc sinh trẻ Tấn
4
Lộc nên bác sĩ bệnh viện Pháp Việt đã khuyến cáo bà không được sinh thêm con
sẽ ảnh hưởng tới tính mạng) nên dành mọi tâm ý cho việc nuôi dưỡng trẻ Lộc, bà
tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho bà được trực tiếp
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Lộc sau khi ly hôn để cải thiện biểu hiện tăng động cho
trẻ Lộc để trẻ có thể phát triển khỏe mạnh bình thường về mọi mặt như các bạn
đồng T lứa. Nếu được nuôi con, bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa
phát biểu: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện
đầy đủ quyền và N vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Xét đơn kháng cáo của
ông N còn trong hạn luật định nên hợp lệ.Về nội dung kháng cáo: đối với quan hệ
hôn nhân hai bên đã thuận tình lý hôn nên không xét. Đối với yêu cầu kháng cáo
trực tiếp nuôi con của ông N, xét thấy ông N bà T cùng có điều kiện nuôi con
nhưng trẻ Lộc còn nhỏ, lại bị tăng động nhẹ như cha mẹ trình bày nên cần sự gần
gữi chăm sóc của người mẹ, án sơ thẩm giao con cho bà T nuôi là có cơ sở đề
nghị Tòa giữ nguyên án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định :
[1] Về hình thức : Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Đức N làm trong
thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, phù hợp với quy định tại
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được chấp nhận
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Mai T và ông Phan Đức N tự nguyện chung sống và có
đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 181/2018 do Ủy ban nhân dân
phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/11/2018 nên
đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên
bà T có đơn yêu cầu ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Phan Tấn
Lộc (nam), sinh ngày 30/11/2020 tại Tòa án nhân dân Khu vực 10 và được Tòa
án chấp nhận. Sau khi xử sơ thẩm, ông N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm yêu
cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, nếu được giao nuôi con ông
không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ trình bày của các đương sự thì trẻ Lộc hiện đang sống cùng bà T và
ông N, cả hai vẫn sắp xếp thời gian, công việc để đưa đón con đi học, chăm sóc
trẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Bà T cho biết hiện nay bà và ông N vẫn sống chung
nhà, việc phụ giúp chăm sóc con có mẹ ruột của bà T hỗ trợ nhiều, nếu được trực
tiếp nuôi con bà T có đủ điều kiện kinh tế cũng như chỗ ở ổn định, thời gian và
người phụ giúp để chăm sóc con thuận tiện nhất. Ông N cũng xác định có đầy đủ
điều kiện để chăm sóc con chung.
Hội đồng xét xử nhận thấy ông N và bà T cùng có nguyện vọng được trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn thể hiện cha mẹ đều có sự quan tâm, tình cảm yêu
5
thương con như nhau. Về điều kiện nuôi con, ông N và bà T đều đáp ứng các điều
kiện căn bản để nuôi con như có chỗ ở ổn định, có việc làm, thu nhập để T trải
cuộc sống.
Theo trình bày của ông N bà T thì trẻ Lộc có dấu hiệu bị khó kiểm soát cảm
xúc, giảm chú ý khi giao tiếp nên rất cần có sự quan tâm sâu sát, gần gũi, hỗ trợ,
giáo dục, giúp đỡ, chăm sóc và đồng hành bên cạnh hàng ngày để trẻ phát triển
trở lại bình thường như các trẻ khác và phát triển toàn diện về mọi mặt từ tinh
thần cho đến thể chất.
Tuy nhiên, ông N là giáo viên giảng dạy lái xe ô tô tại Trung tâm Giáo dục
Nghề nghiệp Sao Việt, theo quy định của Bộ giao thông vận tải trong đó tại Thông
tư 05/2024/TT-BGTVT và Thông tư 04/2022/TT-BGTVT đã quy định khung giờ
học lái xe ban đêm áp dụng đối với học viên học lái xe ô tô, theo đó thời gian lái
xe ban đêm được quy định từ 18 giờ 00’ tối hôm trước đến 5 giờ 00’ sáng hôm
sau, mức tối thiểu mà học viên phải tích lũy đủ số giờ lái xe ban đêm từ 2 đến 4
tiếng hoặc quãng đường tương ứng tùy theo hạng bằng và quy định phân bổ của
cơ sở đào tạo và được ghi nhận, kiểm soát bởi thiết bị DAT. Xuất phát từ đặc thù
công việc nên thời gian làm việc của người dạy lái xe như ông N có thể thay đổi
theo yêu cầu công việc của trung tâm và đã được hai bên thỏa thuận trong Hợp
đồng lao động mà ông N có N vụ phải thực hiện vì vậy thời gian chăm sóc con
của ông N có phần hạn chế hơn bà T.
Xét về điều kiện chỗ ở sau khi ly hôn, ông N xác định sẽ về ở chung nhà
với gia đình cha mẹ của ông tại đường Phạm Thế Hiển (dự tính giải tỏa vào tháng
01/2027) còn bà T có chỗ ở riêng là căn hộ chung cư nên không gian sống và sinh
hoạt dành cho trẻ Lộc nếu sống cùng bà T có phần thuận lợi và ổn định hơn cho
trẻ Lộc. Mặt khác, trẻ Lộc còn nhỏ, từ lúc sinh ra vẫn sống cùng mẹ cho đến nay
và được mẹ trực tiếp chăm sóc, để đảm bảo sự ổn định, quyền lợi về mọi mặt của
con nên Toà án cấp sơ thẩm giao con chung Phan Tấn Lộc cho bà T trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng là có cơ sở.
Về các nội dung khác (quan hệ vợ chồng, tài sản chung và nợ chung) ông
N không kháng cáo nên không xét.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông N, cần giữ nguyên
bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh tại phiên tòa.
[3] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo
phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 38, Điều 148, Điều 306,
khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
6
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội Ban hành quy định về mức thu, miễm giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Đức N về
mặt hình thức.
* Về nội dung:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phan Đức N, giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 1100/2026/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai T.
-Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn ông Phan Đức
N.
-Về con chung: Giao con chung Phan Tấn Lộc (nam), sinh ngày 30/11/2020
cho bà Nguyễn Thị Mai T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu
ông N cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có N vụ tôn trọng quyền của con được
sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi
con có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực
tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con
có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con
thực hiện các N vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành
viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con
cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con
trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp
luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và
mức cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
2. Về án phí và thi hành án:
Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn 300.000đồng bà Nguyễn Thị Mai T
phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà T đã
tạm nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020682 ngày 03/4/2026
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ
thẩm.
7
Án phí dân sự phúc thẩm 300.000đồng ông Phan Đức N phải chịu nhưng
được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông N đã tạm
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0039860 ngày 24/6/2026 của Thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM
- THADS TP.HCM ;
- TA, VKS, Phòng Thi hành án khu vực 10 TPHCM;
- Cơ quan đăng ký kết hôn ;
- Các đương sự ;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Thu Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT Bản án số 148/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất