Bản án số 29/2023/DSST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 29/2023/DSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 29/2023/DSST
| Tên Bản án: | Bản án số 29/2023/DSST ngày 23/03/2023 của TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Tuy Phước (TAND tỉnh Bình Định) |
| Số hiệu: | 29/2023/DSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận 1 phần |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN T Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản số: 29/2023/DSST
Ngày: 23-3-2023
V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: -Bà Phạm Thị Tuyết Mai;
-Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Trọng Khánh – Cán bộ Toà án
nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình
Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 10
năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 37/2023/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên
tòa số: 219/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh Bình Định; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH M
Địa chỉ: Tầng 1-2 Tòa nhà P, số 5 đường D1, P. L, TP. Th, TP. Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền Tr – Giám đốc;
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Công ty Luật TNHH MTV S do Trương
Ngọc A – Giám đốc đại diện theo pháp luật, theo văn bản ủy quyền ngày 01-04-2022,
có đơn xin xét xử vắng mặt;
Địa chỉ: 89 H, phường X, quận C, thành phố Đà Nẵng;
Bị đơn: Dương Thị Th1, sinh năm 1968, vắng mặt;
Trú tại: Thôn N1, xã Ph2, huyện T, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 7 năm 2022, Người đại diện hợp pháp
của Nguyên đơn là ông Trương Ngọc A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại
các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ,
đại diện hợp pháp của Nguyên đơn trình bày: Vào ngày 11-12-2018, bà Dương Thị
Th1 có ký hợp đồng tín dụng số 20181212-0003466 với Công ty Tài chính TNHH
MTV Ngân hàng V (nay là Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC) (sau đây
gọi tắt là VPB SMBC FC) để vay số tiền 21.100.000đ với lãi suất thỏa thuận
5,00%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà Dương Thị
Th1 có trách nhiệm thanh toán số tiền 36.681.549đ (bao gồm cả gốc và lãi), trả chậm
liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.530.000đ, tháng cuối
cùng trả 1.491.549đ, bắt đầu từ ngày 13-01-2019. Thực hiện hợp đồng, bà Dương Thị
Th1 đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán được 12 lần với tổng số
tiền 16.493.000đ, bao gồm 8.642.804đ nợ gốc và 7.850.196đ nợ lãi. Kể từ ngày 27-
07-2021 đến nay, bà Dương Thị Th1 không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù
Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Ngày 29-03-2021, khoản nợ nói trên đã
được VPB SMBC FC chuyển nhượng cho Công ty TNHH M theo Hợp đồng Mua
Bán Nợ số VPBFC-GALAXY-21-0003, ngày 29-03-2021. Do khách hàng trễ hạn
thanh toán nên Công ty TNHH M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Dương
Thị Th1 trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền nợ 20.188.549đ bao gồm các khoản
sau: Nợ gốc còn lại: 12.457.196đ và nợ lãi tính đến ngày hợp đồng hết hạn (ngày 14-
12-2020): 7.731.353đ. Công ty không yêu cầu tính lãi kể từ ngày 15-12-2020 đến nay,
ngoài ra, đại diện hợp pháp của Nguyên đơn không trình bày và yêu cầu gì thêm.
Đối với bị đơn Dương Thị Th1 vắng mặt tại phiên tòa. Mặc dù Tòa án đã tiến
hành thực hiện việc tống đạt và niêm yết nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng
bị đơn bà Th1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ
tục theo Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
buộc bà Th1 phải thanh toán cho Công ty TNHH M số tiền 20.188.549đ bao gồm các
khoản sau: Nợ gốc còn lại: 12.457.196đ và nợ lãi tính đến ngày hợp đồng hết hạn
(ngày 14-12-2020): 7.731.353đ, theo quy định tại Điều 463,466,468 BLDS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản,
Bị đơn Dương Thị Th1 cư trú tại Thôn N1, xã Ph2, huyện T, tỉnh Bình Định nên căn
cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
T, tỉnh Bình Định. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt nhiều lần không
có lý do. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, Bị
đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
các đương sự trên theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Công ty TNHH M yêu cầu bà Dương Thị Th1 trả cho
Công ty số tiền mà bà Th1 vay Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V còn nợ
là 20.188.549đ, trong đó nợ gốc còn lại: 12.457.196đ và nợ lãi tính đến ngày hợp
đồng hết hạn (ngày14-12-2020): 7.731.353đ. Hội đồng xét xử thấy rằng vào ngày 11-
12-2018, bị đơn Dương Thị Th1 có ký Hợp đồng tín dụng số 20181212-0003466 với
Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V để vay 21.100.000đ, khi vay có hợp
đồng vay, thỏa thuận lãi suất 60,00%/năm tương đương 5,00%/tháng, không thế chấp
tài sản. Thời hạn vay được ấn định từ ngày 13-01-2019 đến ngày 14-12-2020. Đây là
hợp đồng vay tài sản thuộc hợp đồng dân sự đúng theo quy định pháp luật do hai bên
đương sự tự nguyện thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Th1 đã thanh toán
16.493.000đ, đến nay còn nợ 20.188.549đ. Ngày 30-3-2021, khoản nợ nói trên đã
được Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V bán cho Công ty TNHH M, giao
dịch chuyển nhượng được xác lập bằng Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-
21-0003 ngày 30-3-2021. Trong đó có biên bản xác nhận rằng khoản nợ của bị đơn
Dương Thị Th1 đã được chuyển giao cho bên Công ty TNHH M. Nên nay Công ty
TNHH M yêu cầu Tòa buộc bà Th1 trả một lần cho công ty toàn bộ số tiền nợ trên là
có căn cứ theo khoản 2 Điều 221 BLDS. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy rằng yêu
cầu trên của Công ty TNHH M chỉ phù hợp phần đòi nợ gốc là 12.457.196đ. Bỡi lẽ
khi bà Th1 tự nguyện thanh toán số tiền 16.493.000đ trong đó có nợ gốc là
8.642.804đ, phần lãi bà Th1 đã trả 7.850.196đ. Phần lãi này là lãi suất cao nhưng bà
Th1 đã tự nguyện thực hiện, mà quá trình Tòa án triệu tập bà Th1 không có yêu cầu
tính lại lãi nên Tòa không xét phần lãi đã thực hiện. Riêng khoảng tiền lãi 7.731.353đ
tính theo hợp đồng vay là 60,00%/năm tương đương 5,00%/tháng là quá cao so với lãi
suất tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó,
lãi suất tối đa là 20%/năm, tương đương với 1,66%/tháng. Do đó Hội đồng xét xử căn

4
cứ vào Điều 486 BLDS và điểm b, Điều 8, Điều 9 Nghị Quyết 01/2019/HĐTP-
TANDTC, ngày 11-01-2019 Của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp
dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm” thì mức lãi suất
giữa hai bên thỏa thuận vượt quá 20%/năm so với Bộ luật dân sự, nên Hội đồng xét
xử áp dụng mức lãi tối đa của Bộ luật dân sự là 20%/năm để tính đối với 13 kỳ nợ
chưa trả của bà Th1 là 13 tháng, thành tiền 12.457.196đ x 20%/năm x 13 tháng =
2.688.262đ. Do đó buộc bà Th1 phải trả cho Công ty TNHH M là 15.145.458đ, bác
phần lãi còn lại của Công ty yêu cầu.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Dương Thị Th1 phải chịu án phí dân sự
sơ thẩm là 757.000đ, buộc Công ty TNHH M phải chịu án phí đối với phần lãi bị bác
là 300.000đ sung vào công quỹ Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí Công ty TNHH M đã
nộp 504.000đ được khấu trừ vào án phí nên hoàn lại cho Công ty TNHH M 204.000đ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T chỉ phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử về phần đề nghị trả gốc, còn phần lãi không phù hợp như đã
phân tích trên nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: các Điều 26, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều khoản 2
Điều 221, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức Tin
dụng, điểm b khoản 2 Điều 8, Điều 9 Nghị Quyết 01/2019/HĐTP-TANDTC, ngày
11-01-2019 Của Hội đồng Thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn áp dụng một số quy
định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc bà Dương Thị Th1 phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH M số
tiền 15.145.458đ( Mười lăm triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm năm mươi
tám đồng) ,trong đó gốc là 12.457.196đ và lãi là 2.688.262đ.
- Bác một phần yêu cầu tính lãi của Công ty TNHH M.
[2]. Về án phí DSST: Buộc bà Dương Thị Th1 phải chịu 757.000đ, buộc Công
ty TNHH M phải chịu 300.000đ sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiền tạm ứng án phí
Công ty TNHH M đã nộp 504.000đ theo biên lai thu tiền số 0006384 ngày 12-10-
2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T được khấu trừ vào án phí nên hoàn lại
cho Công ty TNHH M 204.000đ.

5
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện T;
- CCTHADS huyện T;
- Phòng KTNV -TAND tỉnh BĐ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bích Thủy

6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm