Bản án số 262/2025/DS-PT ngày 23/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 262/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 262/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 262/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 262/2025/DS-PT ngày 23/07/2025 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
Số hiệu: | 262/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 23/07/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | ông yêu cầu Toà án buộc ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H trả cho ông số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và 10 lượng vàng 24K. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 262/2025/DS-PT
Ngày 23- 7-2025
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Út
Ông Trịnh Xuân Miễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Màu - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2025/TLPT-DS ngày 12 tháng 5
năm 2025, về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2025/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:164/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 05
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1960 (Có mặt). Căn cước công
dân số 096060007909, cấp ngày 14/8/2021.
Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp R, xã T, tỉnh Cà
Mau).
- Bị đơn:
1.Ông Trần Hoàng N, sinh năm 1962. Căn cước công dân số 096062004645,
cấp ngày 09/8/2021.
2. Bà Lê Diệu H, sinh năm 1968. Căn cước công dân số 096168007375, cấp
ngày 09/8/2021.
Nơi cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã K, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H: Bà Trần Kim
H1, sinh năm 1988; Căn cước công dân số 096188017196, cấp ngày 28/6/2021 (có
mặt).
2
Nơi cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã K, tỉnh Cà
Mau).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Kim H1, sinh năm 1988 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp T, xã K, tỉnh Cà
Mau).
2. Bà Võ Mai P, sinh năm 1964 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà P:
1.Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1960 (có mặt).
Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp R, xã T, tỉnh Cà
Mau).
2.Anh Trần Trọng Đ, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A đường A, Khu dân cư P, Phường P, quận C, Thành phố Cần
Thơ.
3.Anh Trần Trọng T, sinh năm 2000 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp R, xã T, tỉnh Cà
Mau).
- Người kháng cáo: Ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Trần Hoàng L trình bày:
Ngày 09/4/2020 âm lịch, ông có cho ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H vay số
tiền 900.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng) với lãi suất thoả thuận và cho
mượn 10 lượng vàng 24K, không lãi suất (Có 02 biên nhận kèm theo). Quá trình
vay tiền thì bị đơn cũng có trả lãi cho ông nhưng bao nhiêu thì ông không nhớ rõ.
Đến nay thì ông N và bà H vẫn chưa trả cho ông khoản tiền gốc vay 900.000.000
đồng và 10 lượng vàng 24K, nay ông yêu cầu Toà án buộc ông Trần Hoàng N và
bà Lê Diệu H trả cho ông số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và 10
lượng vàng 24K.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Hoàng N trình bày:
Ông xác định ông là người ghi 02 biên nhận nợ và vợ chồng ông ký nhận nợ
như biên nhận ông L cung cấp là đúng. Theo hiểu biết thì quá trình vay nhiều lần
và cũng có trả, sau chốt lại xác định có thiếu nợ ông Trần Hoàng L tổng số tiền còn
lại là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và 10 (mười) lượng vàng 24k. Tuy nhiên,
quá trình sử dụng tiền hay trả khoản nào, lời lãi ra sao thì do vợ ông là bà Lê Diệu
H và con ông là Trần Kim H1 thực hiện và theo dõi, ông không nắm rõ. (Phần
1.000.000.000 đồng ông L cũng có khởi kiện vụ án khác ông cũng có thừa nhận nợ
nên trình bày chung trong vụ án này).
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Lê Diệu H trình bày:
Bà thừa nhận vợ chồng bà là người ký nhận vay số tiền 900.000.000 đồng và
3
10 lượng vàng 24K như biên nhận ông L cung cấp là đúng, tuy nhiên bà xác định
con của bà là Trần Kim H1 đã chuyển trả nhiều lần cho ông Trần Hoàng L và đã
trả xong hết khoản nợ trên nên không đồng ý trả theo yêu cầu khởi kiện.
Anh Trần Trọng Đ và anh Trần Trọng T xin từ chối tham gia tố tụng hoặc
vắng mặt quá trình giải quyết vụ án và xác định giao toàn quyền cho cha là ông
Trần Hoàng L, các anh không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Trần Hoàng L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà
án giải quyết buộc bị đơn ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H trả cho ông số tiền
900.000.000 đồng và 10 lượng vàng 24K theo 02 biên nhận. Đồng thời, ngoài
khoản vay này thì suốt thời gian qua giữa hai bên gia đình (do là người thân) nên
có chuyển cho mượn qua lại với nhau, Kim H1 sao kê là chuyển trả những khoản
mượn vay riêng mà ông đã cung cấp chứng từ giao dịch, không có trả bất kỳ khoản
nào liên quan đến khoản vay mà ông đang khởi kiện.
Bị đơn ông Trần Hoàng N thừa nhận có vay 900.000.000 đồng và 10 lượng
vàng 24K của ông L là đúng, tuy nhiên quá trình trả nợ thì do vợ con ông nắm theo
dõi, ông không biết là đã trả hay chưa, ông không có ý kiến gì, Toà án cứ giải
quyết theo quy định.
Bà Lê Diệu H thừa nhận có vay của ông L 900.000.000 đồng và 10 lượng
vàng 24K theo 02 Biên nhận là đúng và thay đổi lời khai so với quá trình giải
quyết là đã trả trực tiếp tiền mặt 900.000.000 đồng và 90.000.000 đồng tiền lãi sau
khi vay khoảng 3 tháng cho bà Võ Mai P (vợ của ông L) nhưng không có nhận lại
biên nhận và con của bà là Trần Kim H1 đã chuyển khoản trả toàn bộ nợ vàng theo
sao kê cung cấp qua tài khoản bà Võ Mai P (vợ của ông L), do tin tưởng nên khi
chốt nợ lần cuối không có xin lại Biên nhận, nay vợ chồng bà không đồng ý trả
theo yêu cầu khởi kiện của ông L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Kim H1 cho rằng đã cung
cấp được bản sao kê của ngân hàng thể hiện bà đã chuyển khoản cho bà Võ Mai P
- vợ ông L trả tiền cho cha mẹ bà là bà H, ông N, khoản tiền vay 900.000.000 đồng
và 10 lượng vàng 24K, sau mới chốt lại nợ 1.300.000.000 đồng, trả được thêm
300.000.000 đồng, còn 1.000.000.000 đồng gia đình bà đã thừa nhận đồng ý trả ở
vụ án khác. Bà chuyển tiền cho bà P là chuyển thay cho bà H, ông N.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2025/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hoàng L đối
với bị đơn ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H.
Buộc ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H có nghĩa vụ trả cho ông Trần
Hoàng L số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và 10 (Mười) lượng
vàng 24K.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự.
4
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hoàng L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Về thủ tục tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá
trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp
nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H. Giữ nguyên bản án dân sự
sơ thẩm số: 129/2025/DS-ST ngày 02 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân
huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện hợp pháp của ông Trần Hoàng N, bà Lê
Diệu H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và cung cấp tài liệu sao kê từ Ngân
hàng để chứng minh có việc chuyển khoản thanh toán số nợ cho ông Trần Hoàng
L.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Văn N1, bà Lê Diệu H, Hội đồng
xét xử thấy rằng: Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị đơn xác
định bị đơn đã thanh toán 900.000.000 đồng và 90.000.000 đồng tiền lãi bằng cách
giao tiền mặt, chỉ còn nợ lại 10 lượng vàng 24k và đã thanh toán xong nên mới có
chốt khoản nợ bằng biên nhận nhận nợ 1.300.000.000 đồng. Nguyên đơn không
thống nhất lời trình bày của bị đơn. Nguyên đơn khẳng định hai giấy nhận nợ là hai
khoản nợ riêng. Bị đơn đề nghị cho thời gian 05 ngày để bị đơn giải trình các
khoản vay mượn và thanh toán do hiện tại bị đơn không thực hiện ngay được. Hội
đồng thống nhất chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
[3] Ngày 02 tháng 7 năm 2025 bị đơn nộp giải trình, kèm sao kê các chứng từ
ngân hàng chứng minh cho việc thanh toán số tiền 545.000.000 đồng tương đương
với 10 cây vàng 24k. Tại phiên tòa phía bị đơn trình bày bị đơn không nhớ và cũng
không liệt kê được tổng cộng các khoản tiền mượn và tổng cộng số tiền đã thanh
toán cho nguyên đơn qua tài khoản, trong bảng giải trình và tại phiên toà chỉ liệt kê
được các lần chuyển khoản cho rằng để thanh toán nợ vàng. Theo chứng từ Ngân
hàng thể hiện bị đơn chuyển khoản từ ngày 26/5/2021 đến ngày 20/7/2023 tổng
cộng là 42 lượt. Bị đơn tính các lần chuyển khoản từ ngày 26/5/2021 đến ngày
24/02/2022 là 14 lần tổng cộng số tiền chuyển khoản là 545.000.000 đồng tương
đương với 10 lượng vàng 24K không ghi nội dung chuyển khoản. Tuy nhiên, theo
lần lượt thứ tự chuyển khoản thể hiện từ ngày 26/5/2021 đến ngày 24/02/2022 là
17 lần tổng cộng số tiền chuyển khoản là 547.000.000 đồng, các lần chuyển khoản
này bị đơn đã không liệt kê lần chuyển khoản ngày 22/10/2021 số tiền 600.000
đồng; ngày 26/10/2021 số tiền 200.000 đồng; ngày 03/11/2021 số tiền 1.200.000
đồng, bị đơn cho rằng các khoản chuyển khoản này là tiền mua trái cây không liên
quan đến việc vay nợ. Bị đơn xác định giá vàng vào thời điểm thanh toán là
54.000.000 đồng một lượng (Tờ trình ngày 02/7/2025). Theo công văn của hội K
5
xác giá vàng ngày 24/2/2022 là 5.460.000 đồng/01 chỉ một lượng là 54.600.000
đồng/lượng. Bị đơn cho rằng đã chuyển khoản thanh toán số tiền 545.000.000
đồng/ 10 lượng nhưng lại xác định một lượng có giá 54.000.000 đồng, trong khi đó
tổng số tiền chuyển khoản là 547.000.000 đồng, không phù hợp với lời trình bày
của bị đơn.
[4]Tại phiên toà ngày 03/7/2025, bị đơn xác định khi bị đơn trả nợ vàng xong
thì bị đơn mới bắt đầu giao dịch vay tiếp, có vay chuyển khoản, có vay tiền mặt
nên bị đơn không tính được số tiền đến ngày chốt nợ số tiền 1.300.000.000 đồng
cụ thể là bao nhiêu. Tuy nhiên, theo chứng từ chuyển khoản của nguyên đơn thể
hiện nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn từ ngày 05/7/2021 đến ngày 07/12/2021
là 05 lần chuyển khoản với số tiền 900.000.000 đồng là mâu thuẫn với lời trình bày
của bị đơn là khi chốt nợ mới vay tiếp từ ngày 24/02/2022.
[5]Sau khi ngừng phiên toà thu thập giá vàng, bị đơn có tờ giải trình ngày
04/7/2025 với nội dung tổng số tiền con của bị đơn là Trần Kim H1 và Vưu Quốc
N2 chuyển khoản cho nguyên đơn là 3.364.500.000 đồng. Bà Võ Mai P vợ nguyên
đơn chuyển khoản cho con của bị đơn số tiền là 2.645.000.000 đồng. Đối trừ chênh
lệch số tiền 719.500.000 đồng, trừ tiền vàng số tiền 545.000.000 đồng còn lại số
tiền 174.500.000 đồng, cộng với số tiền gia đình nợ 1.000.000.000 đồng, tổng cộng
lại nợ số tiền 1.174.500.000 đồng tương ứng với số tiền lãi từ năm 2021 đến 2023.
[6]Tất cả các lời trình bày trên của bị đơn mâu thuẫn với nhau, căn cứ vào
chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện bị đơn có chuyển khoản cho nguyên đơn từ ngày
24/2/2022, tuy nhiên ngày bị đơn chốt nợ không trùng khớp với ngày ghi giấy biên
nhận nợ còn lại ngày 25/4/2023 số tiền 1.300.000.000 đồng, đến khi giải trình ngày
04/7/2025 cũng không thể hiện được chốt nợ thành số tiền 1.300.000.000 đồng.
Nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn không chứng minh được nội dung chuyển
khoản là chuyển khoản thanh toán nợ vàng, không chứng minh được giấy chốt nợ
có thể hiện đã thanh toán bao nhiêu còn bao nhiêu, khi chốt nợ không lấy lại biên
nhận nợ củ, hiện nay nguyên đơn vẫn còn giữ biên nhận mà bị đơn còn nợ.
[7]Đối với số tiền 900.000.000 đồng bị đơn cho rằng đã trả xong bằng tiền
mặt nhưng bị đơn không chứng minh được việc thanh toán cho nguyên đơn.
Từ nhận định trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[8] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp
nên được chấp nhận.
[9] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông N1, bà H không
được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông N1 là người cao tuổi,
có nộp đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định.
[10]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Hoàng N, bà Lê Diệu H. Giữ
nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 129/2025/DS – ST ngày 02 tháng 4 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời ( nay là Toà án nhân dân khu vực 3).
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Hoàng L
đối với bị đơn ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H.
Buộc ông Trần Hoàng N và bà Lê Diệu H có nghĩa vụ trả cho ông Trần
Hoàng L số tiền 900.000.000 đồng (Chín trăm triệu đồng) và 10 (Mười) lượng
vàng 24K.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, thì
hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương
ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Hoàng N là người cao tuổi nên được
miễn nộp án phí theo quy định. Buộc bà Lê Diệu H phải nộp án phí có giá ngạch số
tiền là 34.110.000 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm mười nghìn đồng).
3. Án phí dân sự phúc thẩm. Ông Trần Hoàng N được miễn nộp. Bà Lê Diệu
H phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ chuyển thu số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm 300.000 đồng bà H đã dự nộp ngày 16/4/2025, biên lai số 0005493 tại Chi
cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
7
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 3 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Hải Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Bản án số 905/2025/DS-PT ngày 13/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Bản án số 865/2025/DS-PT ngày 05/08/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm