Bản án số 260/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 260/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 260/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 260/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 260/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 260/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | LY HÔN |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 260/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2025
V/v “tranh chấp về ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Lê Diễm Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Tiến
2. Ông Đỗ Tiến Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4
– Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Sang – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2025/TLST-HNGĐ ngày
27 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 422/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mộng T, sinh năm 1971; CCCD số: 048171000020
cấp ngày 26/12/2021.
Nơi cư trú: 83/26 C, phường B (trước đây là Phường Y, quận U), Thành phố
Hồ Chí Minh (Bà T có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1970, CCCD số: 048070000034, cấp ngày
12/11/2021.
Nơi cư trú: 83/26 C, phường B (trước đây là Phường Y, quận U), Thành phố
Hồ Chí Minh (Ông H có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, nguyên đơn là bà Võ Thị
Mộng T trình bày:
Bà và ông Nguyễn H kết hôn vào năm 1994, có đăng ký kết hôn theo Giấy
chứng nhận kết hôn số 59/P11 ngày 23/11/1994 tại UBND quận U, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2
Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 do những
bất đồng trong cuộc sống gia đình, trưởng khu phố phải đến can thiệp, hòa giải.
Năm 2019, bà nộp đơn ly hôn, sau đó rút đơn để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, mâu
thuẫn vẫn xảy ra, ông H thường xuyên gây chuyện, cải vã nhau. Hai năm nay bà và
ông H không còn quan hệ vợ chồng nữa. Cách đây một tháng, sau khi bà nộp đơn ly
hôn thì ông H đánh bà vào lúc nửa đêm, bà phải chạy đến nhờ Công an phường can
thiệp. Công an có đến nhà lập biên bản và ông H thừa nhận có đánh bà. Ngay hôm
sau, bà phải dọn ra khỏi nhà, cả hai sống ly thân từ đó tới nay. Ngoài ra, ông H lén
lắp định vị vào xe máy của bà, bà đi đến đâu thì sau đó ông H đến gây chuyện với
nhà mà bà đến. Ông H còn hay đến chỗ bà phụ bán quán ghen tuông, cho rằng bà đi
với người đàn ông khác. Hiện nay bà thấy không còn tình cảm, không còn sự tôn
trọng lẫn nhau nữa nên không cần thêm thời gian suy nghĩ, đề nghị Tòa án giải
quyết cho bà ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Hữu T1, sinh ngày
3/6/1992 và Nguyễn Thị Lan T2, sinh ngày 24/4/1999. Con chung đã thành niên nên
không yêu cầu giải quyết.
-Về tài sản chung: Tự hai bên thỏa thuận.
- Về nợ chung: Không có.
Bị đơn, ông Nguyễn H trình bày:
Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bà T cũng nhiều lần
gây chuyện, chửi ông và còn xúi giục con đánh ông. Lần trước bà T làm đơn ly hôn,
ông cũng có ký đơn, sau đó bà T rút đơn lại. Hai năm nay bà T không cho ông quan
hệ vợ chồng với lý do bị bệnh, ông cũng không nói gì. Lần này ông đánh bà T là do
bực tức vì nghĩ đến chuyện trước đây bà T đã nộp đơn ly hôn với ông, làm cho ông
buồn nên đánh bà T. Ông cũng thấy mình sai và cũng đã xin lỗi nhưng bà T không
chịu bỏ qua, cương quyết xin ly hôn. Ông cũng biết không thể sống chung được nữa
nhưng bà T muốn ly hôn thì tùy bà T, ông không đồng ý ly hôn. Ông muốn bà T về
nhà để các con có chỗ về, bản thân ông sẽ đi chỗ khác sống vì biết không thể sống
chung.
Về con chung: Ông và bà T có hai con chung tên Nguyễn Hữu Tuấn, sinh ngày
3/6/1992 và Nguyễn Thị Lan Trinh, sinh ngày 24/4/1999. Hai con chung đã thành
niên nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Võ Thị Mộng T trình bày: Bà vẫn giữ yêu cầu
khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà ly hôn với ông H vì không còn
tình cảm, ông H chỉ hứa hẹn chứ không thay đổi mặc dù bà đã cho cơ hội rất nhiều
lần. Từ trước đến nay bà một mình lo toan trong ngoài nên rất mệt mõi, không chịu
đựng được nữa, việc tiếp tục sống chung chỉ thêm áp lực nặng nề, mâu thuẫn cũng
sẽ tiếp diễn như cũ.
Ông Nguyễn H trình bày: Ông không đồng ý ly hôn, nếu bà T muốn ly hôn thì
cứ ly hôn nhưng ông mong bà T quay trở về nhà ở, bản thân ông sẽ tìm chỗ khác ở.
Mâu thuẫn là do từ cả hai phía, bà T có hành vi kích động, xúi giục con cái chống
3
đối ông. Ngoài ra, ông còn phát hiện bà T đi đến khách sạn nên ông mới nghi ngờ bà
T có người khác. Năm 2019 ông đã đồng ý ký đơn ly hôn nhưng bà T tự ý rút đơn
nên sự việc mới kéo dài đến ngày hôm nay, làm ông bức xúc không kềm chế được
và có đánh bà T.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu:
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
- Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của
những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ
luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ chứng nhận kết hôn số 59/P11 ngày 23/11/1994 thì quan hệ hôn nhân
của bà T và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Qua lời khai của bà T,
ông H, biên bản xác minh sự việc của Công an phường B thì hai bên thừa nhận có
mâu thuẫn. Năm 2019 có nộp đơn ly hôn, sau đó bà T rút đơn để vợ chồng hàn gắn
nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp diễn, hai năm nay cả hai không quan hệ vợ chồng. Ngày
19/7/2025, ông H có hành vi bạo lực gia đình dẫn đến gây thương tích cho bà T. Bà
T cương quyết yêu cầu ly hôn. Ông H không đồng ý ly hôn nhưng không có thiện
chí hàn gắn tình cảm. Xét thấy đời sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng kéo
dài, không hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được
nên có căn cứ đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về con chung, hai con đã thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét.
Về nợ chung, cả hai khai không có nợ chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại
diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn – bà Võ Thị Mộng T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn với bị đơn là ông Nguyễn H. Đây là quan hệ “tranh chấp về ly hôn”.
Ông H có nơi cư trú tại phường B, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thành phố Hồ Chí Minh theo qui
định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
4
[1.2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt
tại phiên tòa.
[1.3] Về sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, Thành phố Hồ Chí
Minh tại phiên tòa: Do Tòa án có thu thập tài liệu chứng cứ nên Viện kiểm sát tham
gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về pháp luật nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Mộng T: Căn cứ vào trích lục kết hôn số
193/TLKH-BS ngày 12/5/2025, của Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình,
nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H
có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 59/P.11 do UBND quận U,
Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/11/1994 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp,
được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Căn cứ vào trình bày của bà T thì quá trình chung sống giữa hai bên phát sinh
mâu thuẫn, ông H hay uống rượu về kiếm chuyện chửi mắng vợ con, có hành vi bạo
lực gia đình, nhiều lần đánh bà T. Năm 2019 bà có nộp đơn ly hôn với ông H nhưng
sau đó rút đơn để vợ chồng hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn vẫn tiếp diễn.
Ông H trình bày vợ chồng có mâu thuẫn, bà T hay gây chuyện chửi và xúi giục con
đánh ông.
Căn cứ vào biên bản làm việc giải quyết mâu thuẫn gia đình tại địa chỉ số
83/26 C, phường B (trước đây là Phường Y, quận U), Thành phố Hồ Chí Minh do
Công an phường B lập ngày 21/7/2025, ý kiến của khu phố trưởng, căn cứ trình bày
của bà T, thì nguyên nhân bắt nguồn từ mâu thuẫn trong quá trình sinh sống vợ
chồng, ông H nghi ngờ bà T ngoại tình, cùng với việc thường xuyên uống bia rượu
say nên xảy ra việc đánh đập bà T. Ông H cũng xác nhận việc bạo hành, gây thương
tích ở vùng mặt, đầu cho bà T. Căn cứ đơn thuốc ngày 21/7/2025 của Bệnh viện
Thống Nhất chẩn đoán thì bà T bị tổn thương nông và nhiều ở đầu. Như vậy, ông H
đã vi phạm nghĩa vụ giữa vợ chồng là thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc,
giúp đỡ nhau. Ngoài ra, việc vợ chồng thường xuyên chửi mắng, xúc phạm, nghi
ngờ nhau đã vi phạm nghĩa vụ “giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho
nhau” được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong
thời gian cả hai sống ly thân, ông H vẫn tiếp tục nghi ngờ, tìm đến nơi bà T làm việc
có những lời nói ghen tuông, xúc phạm bà T. Mặt khác, ông H tuy không đồng ý ly
hôn nhưng cũng thừa nhận là không thể tiếp tục sống chung với bà T được nữa, bà T
có về nhà ở thì ông cũng ra sống riêng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ
chồng của bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có
căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014.
[2.2] Về con chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H có 02 con chung tên
Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 3/6/1992 và Nguyễn Thị Lan T2, sinh ngày 24/4/1999.
Hai con chung đã thành niên, bà T và ông H không yêu cầu giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H yêu cầu để hai
bên tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem
xét.
5
[2.4] Về nợ chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H khai không có nợ
chung.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có
căn cứ vì phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là
300.000 (ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền
tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0080860 ngày 26/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Căn cứ các Điều 19, 21, 51, 56, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – bà Võ Thị Mộng T:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn H.
1.2 Về con chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H có 02 con chung tên
Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 3/6/1992 và Nguyễn Thị Lan T2, sinh ngày 24/4/1999.
Hai con chung đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
1.3 Về tài sản chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H tự thỏa thuận,
không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
1.4 Về nợ chung: Bà Võ Thị Mộng T và ông Nguyễn H không có nợ chung
nên không xem xét.
2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Võ Thị Mộng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm
là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng được cấn trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền
tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0080860 ngày 26/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được
quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

6
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014.
TM. HỘI ĐỒNG XT X SƠ THM
Nơi nhn: THM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân TP.HCM;
- VKSND khu vực 4;
- THA DS TP.HCM;
- UBND phường B;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ.
Trương Lê Diễm Thúy
HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THM
HỘI THM NHÂN DÂN THM PHÁN – CHỦ TỌA
7
8
HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THM
HỘI THM NHÂN DÂN THM PHÁN – CHỦ TỌA
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm