Bản án số 25/2026/KDTM-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 25/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 25/2026/KDTM-PT ngày 17/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 25/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/07/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án gốc - 25-KDTMPT-17-7-2026- Cty A- Cty Ph- Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 25/2026/KDTM-PT Bản án số 25/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2026/KDTM-PT Bản án số 25/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 25/2026/KDTM-PT
Ngày: 17-7-2026
“V/v tranh chp hợp đồng cho thuê
lại nhà xưởng và bồi thường thit
hi ngoài hợp đồng, HĐCNQSDĐ,
tài sn gn lin
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trần Trọng Nhân;
2. Ông Nguyễn Phước Thanh.
Thư phiên tòa: Ngô Thanh Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Kim Thoa, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2026/TLPT-KDTM ngày 01 tháng 6
năm 2026, về việc: Tranh chấp hp đồng cho thuê lại nhà xưởng; bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền.
Do Bản án Kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày
08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh, bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 24/2026/QĐ-PT ngày
30 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền nghĩa vụ ttụng của
Công ty TNHH T3). Địa chỉ: Lô G đường số E KCN T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hp pháp của nguyên đơn: Dương Thị Lệ T, sinh năm
1987; địa chỉ: Tầng C, Phòng 03.06 Tháp SAV1 T Đại lộ M, phường B, Thành
phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 01-8-2025); có mặt.
Bị đơn:
1. Công ty cổ phần P (Công ty cổ phần P). Địa chỉ: J đường số E KCN H,
xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Văn B; chức vụ: Tổng giám đốc
là người đại diện theo pháp luật của Công ty; có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty: Ông Huỳnh Công M; sinh năm
1985. Địa chỉ: È, Ấp A, L, B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản y quyền
ngày 05-7-2026); có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần P: Luật
Nông Minh Đ Luật Âu Gia V Công ty TNHH MTV L1, thuộc Đoàn
Luật sư Thành phố H (không tham gia cấp phúc thẩm).
2. Công ty cổ phần N2 (Công ty N2). Địa chỉ: Tòa nhà M sA N, phường
T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Công ty:
+ Ông Bùi Thế L là người đại diện theo ủy quyền của Công ty (Văn bản ủy
quyền ngày 06-01-2026); không tham gia cấp phúc thẩm.
+ Ông Trần Hoàng Â, sinh năm 1974; trú tại: Số C, ngõ A B, phường C,
quận H, Thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 16-7-2026).
3. Ông Đồng Văn B, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số C ấp N, X, Thành phố
Hồ Chí Minh; có mặt.
4. Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: I L, phường L, tỉnh Đồng Nai;
mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của H: Ông Trần Hoàng Â, sinh m
1974; trú tại: Số C, ngõ A B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội (Văn bản ủy
quyền ngày 16-7-2026); có mặt.
Bà H và ông B cùng tạm trú: D203 Đường N, Khu B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH Đ1 (Công ty Đ1). Địa chỉ: Lô J đường số E KCN H (GĐ
3+4), ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
2. Công ty TNHH X (Công ty X). Địa chỉ: J đường số E KCN H (GĐ
3+4), ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
3. Ngân hàng TMCP A (Ngân hàng A). Địa chỉ liên hệ: A P, Phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của Ngân hàng (Văn bản ủy quyền
ngày 10-7-2025):
+ Trần Thị T1, sinh năm 1991; chức vụ: Chuyên viên xlý nợ; vắng
mặt;
+ Ông Đức H1, sinh năm 1990; chức vụ: Chuyên viên xnợ; vắng
mặt;
+ Ông Vũ Hoàng N; chức vụ: Trưởng bộ phận xử lý nợ; vắng mặt.
3
+ Ông Bùi Văn C; chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; vắng mặt;
+ Ông Nguyễn Mạnh T2; Trung tâm xử lý nợ phía Nam; vắng mặt;
Cùng địa chỉ: A P, Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Công ty TNHH T4 (Công ty T4). Địa chỉ: G đường số E, KCN T,
Đ, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
5. Ngân hàng TMCP Đ2 (B1).
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Bình N1; chức vụ: Phó
Trưởng phòng KHDN 2 Ngân hàng TMCP Đ2 chi nhánh N3 người đại diện
theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22-10-2025); vắng mặt.
Địa chỉ: Số E (sau), 58, 60, 62, 64 tầng trệt, tầng 10, tầng A, Tòa nhà
TASCO Số F, F N, Phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Công ty cổ phần Đ3 (Công ty Đ3). Địa chỉ: J đường số E KCN H
(GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Công ty cổ phần P; Công ty cổ phần N2 (Công ty N2);
ông Đồng Văn B; bà Lê Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn, bà Dương Thị Lệ T trình bày:
Trước đây, Công ty Đ1 chủ sở hữu của thửa đất 881, tờ bản đồ số 24,
diện tích đất 9.978m
2
, tại xã Đ, huyện Đ, Long An và Công trình xây dựng khác:
Tên công trình Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà văn phòng theo giấy CNQSD đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CD 843496 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp ngày 12-4-2016. Hợp đồng thuê cho thuê lại giữa
Công ty TNHH T3 các chủ thể đối với tài sản thuê vừa nêu được xác lập như
sau:
Ngày 16-8-2016, Công ty TNHH T3 Công ty Đ1 xác lập Hợp đồng thuê
nhà xưởng s02/HĐTNX, đối tượng thuê là diện tích nhà xưởng 2.040m
2
Nhà xưởng 1, diện tích 2.040m
2
, hệ thống PCCC cho nhà xưởng; thời gian thuê
là 10 năm, từ ngày 15-10-2016 đến ngày 15-10-2026.
Ngày 15-8-2016, Công ty TNHH T3 Công ty Đ1 xác lập Hợp đồng thuê
nhà xưởng s01/HĐTNX, đối tượng thuê là diện tích nhà xưởng 1.840m
2
nhà văn phòng 384m
2
; n xưởng cho thuê bao gồm nhà xưởng 1, diện tích
1.840m
2
; nhà văn phòng diện tích 384m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng;
thời gian thuê là 10 năm, từ ngày 15-8-2016 đến ngày 15-8-2026.
Ngày 31-10-2019, Công ty TNHH T3 Công ty Đ1 xác lập Phụ lục Hợp
đồng thuê nhà xưởng số 03/PLHĐ/HĐTNX ngày 31-10-2019, nội dung thỏa
thuận: Hai bên thống nhất điều chỉnh hợp đồng thuê nhà xưởng số 1 +2/HĐTNX
ngày 15, 16-8-2016 về việc Công ty Đ1 đồng ý cho Công ty TNHH T3 sử
4
dụng phần mái các nhà xưởng đã thuê làm dự án điện năng lượng mặt trời thời
hạn 20 năm, từ ngày 31-10-2019 đến ngày 31-10-2039.
Tại thời điểm ng ty Đ1 xác lập các hợp đồng thuê nhà xưởng với Công
ty TNHH T3 thì thửa đất 881, tờ bản đồ số 24 Công trình xây dựng khác gắn
liền trên đất được Công ty Đ1 thế chấp tại Ngân hàng A. Công ty Đ1 vẫn đảm
bảo đầy đủ các quyền nghĩa vụ của mình trong suốt quá trình cho Công ty
TNHH T3 thuê. Công ty Đ1 thông báo cho Ngân hàng biết về việc cho thuê
quyền sdụng đất nhà xưởng hay không thì Công ty TNHH T3 không biết.
Tại Điều khoản 1 Mục 1.2 1.5 của hợp đồng thuê nhà xưởng giữa Công ty
Đ1 với Công ty TNHH T3 thể hiện Công ty TNHH T3 được quyền cho thuê
lại tài sản thuê việc Công ty TNHH T3 cho bên thba thuê lại nhà xưởng
được Công ty Đ1 đồng ý. Theo đó, Công ty TNHH T3 cho thuê lại nhà xưởng
theo các hợp đồng cho thuê lại như sau:
1. Đối với nhà xưởng 2, diện tích 2.040m
2
1.1. Ngày 14-9-2019, Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B xác lập Hợp
đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019, đối tượng thuê
diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
nhà xưởng
cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng diện tích 2.040m
2
hệ thống
PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA- Dùng chung, bên B chỉ sử dụng
được tối đa 500KVA. Ông B đã đặt cọc cho Công ty số tiền 370.000.000
đồng. Thời gian thuê 7 năm, từ ngày 01-10-2019 đến ngày 01-10-2026. Tiền
thuê: Năm thứ nhất năm thứ hai (từ tháng 9/2019 đến tháng 9/2021) 2,6
USD/m
2
/tháng. Tiền thuê giai đoạn này đã thanh toán xong, Công ty không
tranh chấp. Năm thba năm thứ (từ tháng 10/2021 đến tháng 9/2023):
Tăng 5% so với đơn giá năm thứ hai, định kỳ tăng hai năm một lần. Thành tiền
2,73 USD/m
2
/tháng, tương đương 5.569,2USD/tháng. Năm thứ năm năm
thứ sáu (từ tháng 10/2023 đến tháng 9/2025): Tăng 5% so với đơn giá năm thứ
tư, định kỳ tăng hai năm một lần. Thành tiền 2,86 USD/m
2
/tháng, tương
đương 5.834,4USD/tháng. Năm thứ bảy: Từ tháng 10/2025 là 6.120 USD/tháng.
Đơn giá trên không bao gồm thuế GTGT; Tỷ giá USD bán ra được quy đổi theo
tỷ giá tại Ngân hàng N4.
1.2. Ngày 31-3-2020, Công ty TNHH T3 ông Đồng Văn B xác lập Phụ
lục hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/PL APG ngày 31-3-2020, nội dung
thỏa thuận của Phụ lục hợp đồng: Bên A sẽ xuất hóa đơn tiền thuê cho Công ty
P với giá trị 50.000.000 đồng/tháng. Phần tiền thuê này sdo Công ty P thanh
toán.
Từ tháng 6/2022 đến nay, ông B Công ty P không thanh toán tiền thuê
cho Công ty TNHH T3. Như vậy, số tiền thuê ông B còn nợ Công ty TNHH T3
theo Hợp đồng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 đến ngày 08-01-2026
là: 6.177.771.071 đồng. Theo điều chỉnh giá thuê tại phụ lục thuê số 01 thì số
tiền thuê ông B phải thanh toán được tính như sau: 6.177.771.071 đồng – (43,26
tháng x 50.000.000 đồng) = 4.014.771.071 đồng.
5
1.3. Ngày 02-01-2020, Công ty TNHH T3 Công ty P xác lập Hợp đồng
thuê nhà xưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-2020, đối tượng thuê
diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
hệ thống
PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA- dùng chung, bên B chỉ sử dụng
được tối đa 500KVA, thời gian thuê là 07 năm, từ ngày 01-01-2020 đến ngày
31-10-2026. Tiền thuê Công ty P phải thanh toán cho Công ty theo hợp đồng
này tính từ tháng 6/2022 đến ngày 08-01-2026 là: 50.000.000 đồng x 43,26
tháng = 2.163.000.000 đồng.
giải về việc Công ty TNHH T3 lại xác lập 2 hợp đồng cho thuê lại với
hai chủ thể khác nhau đối với cùng một đối tượng nhà xưởng 2, diện tích
2.040m
2
: Ông B người đại diện theo pháp luật của Công ty P. Theo đề nghị
của ông B tách số tiền thuê thành 02 hợp đồng để thuận tiện cho việc thanh toán
xuất hóa đơn cho từng hợp đồng. Cụ thể Hợp đồng số 01-19/HĐTNX
APG ngày 14-9-2019: Gía thuê = giá trên trên hợp đồng 50.000.000 đồng (số
tiền này chuyển qua Hợp đồng số 01-20). Hợp đồng số 01-20/HĐTNX/APG-
PQG ngày 02-01-2020: Giá thuê 50.000.000 đồng. Để cụ thể hóa nội dung
thỏa thuận này nên Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B đã xác lập Phụ lục s
01-20/PLHĐ APG ngày 31-3-2020, điều chỉnh giá thuê tại Hợp đồng số 01-
19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 như sau: (Đơn giá thuê x diện tích thuê x tỷ
giá thanh toán) 50.000.000 đồng, được áp dụng từ tháng 4/2020 đến khi chấm
dứt hợp đồng.
2. Đối với nhà xưởng 1, diện tích 1.840m
2
+ Văn phòng 384m
2
2.1. Ngày 01-8-2020, Công ty TNHH T3 Công ty N2 (trước đây do ông
B người đại diện theo pháp luật, nay H) xác lập Hợp đồng thuê nhà
xưởng số 1820/HĐTNX – APG ngày 01-8-2020, đối tượng thuê diện tích nhà
xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
và nhà xưởng cho thuê bao gồm:
Nhà xưởng 1 diện tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến
áp 1000KVA- Dùng chung, bên B chỉ sử dụng được tối đa là 150KVA, thời gian
thuê 74 tháng, tương đương 6,2 năm, từ ngày 01-8-2020 đến ngày 01-10-
2026. Hợp đồng này không thực hiện được thay bằng Hợp đồng thuê nhà
xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 giữa Công ty TNHH T3
Lê Thị H.
2.2. Ngày 01-8-2020, Công ty TNHH T3 và bà Thị H xác lập Hợp đồng
thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020, đối tượng thuê là diện
tích nhà xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
nhà xưởng cho thuê
bao gồm 01 phần nhà xưởng tổng diện tích 1.840 m
2
: Nhà xưởng 1 diện
tích được sử dụng 1.000m
2
hthống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp
1000KVA- dùng chung, bên B chỉ sdụng được tối đa 150KVA, thời gian
thuê 74 tháng, tương đương 6,2 năm, t ngày 01-8-2020 đến ngày 01-10-
2026. Hợp đồng này thay thế cho Hợp đồng thnhà xưởng số 1820/HĐTNX
APG ngày 01-8-2020 giữa Công ty TNHH T3 Công ty N2. H đã đặt cọc
cho Công ty số tiền 180.000.000 đồng.
6
2.3. Ngày 28-4-2021, Công ty TNHH T3 và Thị H xác lập Phụ lục
hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/1820/HĐTNX – APG ngày 28-4-2021, nội dung
thỏa thuận của Phụ lục hợp đồng: Điều chỉnh diện tích thuê. Bên A đồng ý cho
thuê bên B đồng ý thuê thêm diện tích 384m
2
nhà văn phòng 850m
2
nhà
xưởng nằm trên diện tích đất 9.978m
2
. Tổng diện tích thuê thực tế sau khi
phụ lục hợp đồng 384m
2
nvăn phòng 1.850m
2
nxưởng; trạm biến áp
1000KVA- dùng chung, bên B chỉ sdụng được tối đa 200KVA, thời gian
thuê điều chỉnh còn lại toàn bộ hợp đồng 36 tháng, từ ngày 01-5-2021 đến
ngày 30-4-2024. Bà H đặt cọc thêm số tiền 230.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H
đã đặt cọc là 410.000.000 đồng
H còn nợ Công ty TNHH T3 tiền thuê tính ttháng 6/2022 đến ngày
08-01-2026 là 6.688.020.148 đồng.
Trong thời gian các bên đang thực hiện hợp đồng thuê, Công ty TNHH T3
được biết Công ty Đ1 phát sinh nợ xấu với Ngân hàng A, Ngân hàng thông
báo thu giữ tài sản bảo đảm của Công ty Đ1 và có tiến hành lập Biên bản thu giữ
tài sản bảo đảm thửa đất 881 nhà xưởng, văn phòng gắn liền. Quá trình
này, Công ty TNHH T3 biết nhưng không tham gia. Sau đó, ng ty Đ1 đã
bán nợ xấu cho Công ty T4.
Ngày 07-3-2023, Công ty Đ1 Công ty X xác lập Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và công trình xây dựng gắn liền với đất, đối tượng
thửa đất 881, tờ bản đồ số 24, diện tích đất 9.978m
2
Công trình xây dựng
khác: Tên công trình Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà văn phòng. Ngày 19-4-2023,
Công ty X được Văn phòng đăng đất đai tỉnh L cập nhật biến động sang tên
trên giấy CNQSD đất cho Công ty X tại thửa đất 881 và tài sản gắn liền.
Ngày 01-5-2023, Công ty X Công ty TNHH T3 xác lập Hợp đồng thuê
nhà xưởng số 01-23/HĐTNX –BBC, đối tượng thuê diện tích nhà xưởng
4.274m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
nhà xưởng cho thuê bao Nhà xưởng
diện tích 4.274m
2
, gồm nhà xưởng 1: 2.224 m
2
(1840m
2
xưởng
+ 384 m
2
nhà
văn phòng); nhà xưởng 2: 2.040m
2
; trạm biến áp 1000KVA.
Trong suốt quá trình chuyển giao thửa đất 881 nhà xưởng giữa các chủ
thể. Công ty TNHH T3 vẫn đảm bảo quyền của chủ thể thuê lại gồm ông B,
H, ng ty P. Các chủ thể này vẫn đang sử dụng quyền sử dụng đất nhà
xưởng theo thỏa thuận tại các hợp đồng thuê thì phải có nghĩa vụ thanh toán tiền
thuê theo như thỏa thuận tại hợp đồng.
Từ tháng 6/2022 đến nay, Công ty TNHH T3 nhiều lần yêu cầu Công ty P,
ông Đồng Văn B, bà Lê Thị H thanh toán tiền thuê nhưng các chủ thể này không
thực hiện. Do đó, Công ty TNHH T3 xác định lại yêu cầu khởi kiện và khởi kiện
bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
1. Hủy Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020
giữa Công ty TNHH T3 và Công ty N2.
2. Chấm dứt các hợp đồng sau:
7
2.1. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019
giữa Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B;
2.2. Hợp đồng thuê nxưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-
2020 giữa Công ty TNHH T3 Công ty P; Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng
số 01-20/PLHĐ APG ngày 31-3-2020 giữa Công ty TNHH T3 ông Đồng
Văn B;
2.3. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020;
Phụ lục hợp đồng thuê nxưởng số 01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021
giữa Công ty TNHH T3 và bà Lê Thị H.
3. Buộc các bị đơn thanh toán tiền thuê như sau:
3.1. Buộc ông Đồng V1 Ban thanh toán cho Công ty TNHH T3 tiền thuê
tính đến ngày 08-01-2026 theo Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX
APG ngày 14-9-2019 là 4.014.771.071 đồng;
3.2. Buộc Công ty P thanh toán cho Công ty TNHH T3 tiền thuê tính đến
ngày 08-01-2026 theo Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG
ngày 02-01-2020 là 2.163.000.000 đồng
3.3. Buộc bà Lê Thị H thanh toán cho Công ty TNHH T3 tiền thuê tính đến
ngày 08-01-2026 theo Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày
01-8-2020 Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/1820/HĐTNX APG
ngày 28-4-2021 là 6.688.020.148 đồng.
4. Buộc bị đơn phải trả lãi chậm thanh toán với mức lãi suất 10%/năm từ
ngày 30-6-2022 đến ngày 08-01-2026 như sau:
4.1. Buộc ông Đồng V1 Ban thanh toán tiền lãi 674.200.717 X đồng đối
với Hợp đồng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 Phụ lục số 01-
20/PLHĐ – APG ngày 31-3-2020 giữa Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B;
4.2. Buộc Công ty P thanh toán số tiền lãi là 381.712.329 đồng đối với Hợp
đồng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-2020 giữa Công ty TNHH T3
Công ty P;
4.3. Buộc Thị H thanh toán số tiền lãi 1.153.274.224 đồng đối với
Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 và Phụ lục
hợp đồng thuê nhà xưởng s 01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021 giữa
Công ty TNHH T3 và bà Lê Thị H;
5. Công ty TNHH T3 được sở hữu số tiền cọc 370.000.000 đồng theo Hợp
đồng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 giữa Công ty TNHH T3 ông
Đồng Văn B; số tiền cọc 410.000.000 đồng theo Hợp đồng thuê nhà xưởng s
1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 và Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số
01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021 giữa Công ty TNHH T3 Thị
H.
6. Buộc Công ty cổ phần P, ông Đồng Văn B, Công ty cổ phần N2,
Thị H phải di dời toàn bộ tài sản, vật dụng, thiết bị thuộc quyền sở hữu của các
8
bị đơn để trả lại nhà xưởng, văn phòng nằm trên diện tích đất 9.978m
2
, thuộc
thửa đất số 881, tờ bản đồ 24, tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B,
Đ, huyện Đ, Long An cho Công ty TNHH T3.
Đối với vấn đngừng cung cấp điện tại nhà xưởng, Công ty ý kiến như
sau: Ngày 30-5-2023, Công ty TNHH T3 Thông báo số 08/2023/TB-APC
ngày 30-5-2023 gửi đến Công ty P vviệc tạm ngừng cung cấp điện cho mặt
bằng nhà xưởng. Thời gian tạm ngừng cung cấp từ ngày 31-5-2023. Tại thời
điểm này, quyền sử dụng đất nhà xưởng đã chuyển nhượng cho Công ty X
nhưng chủ thđứng tên trên hợp đồng cung cấp điện với Điện lực huyện Đ vẫn
Công ty Đ1. Do đó, ngày 12-7-2023, Công ty Đ1 đã văn bản gửi đến Điện
lực huyện Đ về việc đề nghị tạm ngừng cung cấp điện. Ngày 28-7-2023, Công ty
Đ1 đơn đề nghị thay đổi chủ thể hợp đồng mua bán điện từ Công ty Đ1 L.A
sang Công ty X. Ngày 31-7-2023, Điện lực huyện Đ đã ngừng cung cấp điện tại
nhà xưởng này. Trước khi ngừng cung cấp điện, Điện lực huyện Đ cũng đã
Thông báo gi cho Công ty P. Như vậy, các chủ thể thuê quyền sử dụng đất và
nhà xưởng của Công ty TNHH T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp
đồng thuê. Công ty TNHH T3 đã thông báo chấm dứt hợp đồng, yêu cầu di
dời tài sản tại nhà xưởng và ngừng cung cấp điện từ ngày 31-5-2023 nhưng các
chủ thể thuê vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình đến ngày 31-7-2023,
Điện lực huyện Đ chính thức ngừng cung cấp điện cho nhà xưởng.
Do đó, việc Công ty P yêu cầu phản tố vviệc bồi thường thiệt hại do
ngừng cung cấp điện không sở nên nguyên đơn không đồng ý với toàn
bộ yêu cầu phản tố của Công ty P. Từ ngày 31-7-2023, Công ty P đã tự đấu nối
vào hệ thống điện mặt trời áp mái trên mái nhà xưởng của khách hàng thuê mái
tiếp tục điện để sản xuất. Việc Công ty P biết trước thời gian ngừng cung
cấp điện biết mặt hàng sản xuất của mình nông sản cần phải điện để
bảo quản, chế biến nhưng Công ty bị đơn đã không biện pháp xử để
mặc cho hậu quả xảy ra, lỗi hoàn toàn của Công ty P nên yêu cầu của Công ty P
là không có căn cứ, đề nghị HĐXX không chấp nhận.
Đối với Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/HĐTNX, Hợp đồng thuê nhà
xưởng số 02/HĐTNX ngày 16-8-2016 giữa Công ty Đ1 Công ty TNHH T3.
Các bên tự thỏa thuận chấm dứt, không tranh chấp trong vụ án này. Đối với Hợp
đồng thuê nhà xưởng số 01-23/HĐTNX BBC ngày 01-5-2023 giữa Công ty
TNHH T3 và Công ty X, Công ty TNHH T3 vẫn thanh toán tiền thuê cho Công
ty X theo đúng thỏa thuận thuận. Công ty TNHH T3 không tranh chấp trong vụ
án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đồng Văn B bị đơn người
đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty P trình bày:
Hiện nay, ông người đại diện theo pháp luật của Công ty P. H
người đại diện theo pháp luật của ng ty N2. Ông H vợ chồng hợp
pháp. Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện Công ty TNHH T3 về việc
xác lập các hợp đồng thuê lại sau:
9
1. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019
Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/PLHĐ APG ngày 31-3-2020 giữa
ông B và Công ty TNHH T3.
2. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-
2020 giữa Công ty TNHH T3 và Công ty P (ông B đại diện ký);
3. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 giữa
Công ty TNHH T3 và Công ty N2 (ông B đại diện ký).
4. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020
Phụ lục hợp đồng thuê nxưởng số 01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021
giữa Công ty TNHH T3 và bà Lê Thị H.
Ông thống nhất với toàn bộ nội dung thỏa thuận trong các hợp đồng thuê
được các bên xác lập. Từ tháng 5/2022 trở về trước, ông, Công ty P bà H đều
thanh toán tiền thuê đầy đủ cho Công ty TNHH T3. Giá thỏa thuận trong hợp
đồng USD, tỷ giá thay đổi theo từng tháng nhưng thỏa thuận tiền thanh toán.
Hàng tháng, Công ty TNHH T3 sẽ báo số tiền cụ thể theo tỷ giá của tháng đó
cho bên bị đơn thanh toán bằng tiền VNĐ. Từ tháng 6/2022 đến nay, các bị đơn
không thanh toán tiền thuê cho Công ty TNHH T3. Mặc dù, việc thuê nhà xưởng
được ký dưới nhiều hợp đồng khác nhau nhưng từ lúc thuê đến nay toàn bộ diện
tích nhà xưởng thuê đều do Công ty P sử dụng.
Thực tế, tất cả những hợp đồng thuê nhà xưởng bị đơn xác lập với
Công ty TNHH T3 hợp đồng cho thuê lại nhà xưởng. Nhà xưởng này trước
đây thuộc quyền sở hữu của Công ty Đ5. Công ty Đ5 cho Công ty TNHH T3
thuê theo hợp đồng thuê ngày 15, 16-8-2016. Sau đó Công ty TNHH T3 cho bị
đơn thuê lại. Vấn đnày bđơn biết tại thời điểm xác lập hợp đồng thuê lại
với Công ty TNHH T3 vẫn thực hiện việc thanh toán tiền thuê đầy đđúng
hạn cho Công ty TNHH T3. Công ty TNHH T3 đã chuyển giao toàn bộ diện tích
thuê nhà xưởng theo thoả thuận cùng với các hệ thống điện, cấp thoát nước
hệ thống phòng cháy chữa cháy cho Công ty. Công ty đã tiếp tục đầu trang
thiết bị và máy móc để sản xuất kinh doanh từ tháng 10/2019 đến nay.
Tuy nhiên, sau khi nhà xưởng được Công ty thuê thì ngày 31-3-2020, Công
ty Đ1 đã thế chấp toàn bộ tài sản thuê nêu trên để vay vốn tại Ngân hàng A. Do
Công ty Đ1 phát sinh nợ xấu nên ngân hàng đã thu giữ tài sản thế chấp theo biên
bản thu giữ tài sản bảo đảm ngày 31-5-2022 đối với toàn bộ thửa đất (bao gồm
cả tài sản được Công ty thuê lại từ Công ty TNHH T3), sự chứng kiến của
ông B. Trong toàn bộ quá trình tlúc thẩm định cho vay đến khi quyết định
thu giữ tài sản thì Công ty đều không biết. Từ ngày 31-5-2022, Ngân hàng
Công ty TNHH T3 cử bảo vệ đbảo vtài sản, không cho hàng hóa ra vào nhà
máy. Khoảng 20 ngày sau, Công ty hoạt động bình thường, vẫn tiếp tục sản
xuất. Ngày 13-3-2023, Ngân hàng A đã thông báo cho Công ty rằng nợ xấu của
Công ty Đ1 đã được bán cho Công ty T4 Công ty T4 chủ nợ của Công ty
Đ1. Sau đó, Công ty Đ1 đã chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất và nhà
10
xưởng cho Công ty X. Bên cạnh đó, Công ty TNHH T3 không chứng minh được
việc Công ty TNHH T3 được quyền tiếp tục cho thuê lại đối với tài sản này.
Trong quá trình diễn ra việc thu giữ tài sản của Ngân hàng, Công ty đã
thông báo bằng văn bản cho Công ty TNHH T3 về việc xác định quyền và nghĩa
vụ của các bên đối với tài sản mà Công ty đang thuê, làmvề trách nhiệm, tiếp
tục thực hiện hợp đồng của các bên theo quy định của pháp luật. Do lo ngại tài
sản sẽ bị thu giữ bất cứ lúc nào sẽ làm thiệt hại đến chi phí đầu của Công ty
nên Công ty phải hoạt động sản xuất cầm chừng từ ngày 06-6-2022 đến nay.
Tuy nhiên, Công ty TNHH T3 đã không phản hồi cho Công ty B2 thông tin nào.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 về việc buộc bị đơn
phải thanh toán toàn bộ tiền thuê nhà xưởng, ông có ý kiến như sau:
Công ty TNHH T3 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vcủa bên cho thuê
trong hợp đồng, không bảo đảm điều kiện khai thác tài sản thuê. Hành vi cắt
điện trái pháp luật vào ngày 31-7-2023 làm cho toàn bộ hoạt động sản xuất của
Công ty bị gián đoạn chịu thiệt hại nặng nề. Sau đó, tài sản thuê gần như
không thể sử dụng được trạng thái bình thường. Bị đơn tự nguyện thanh toán
tiền thuê tương ứng với 30% giá trị thuê và đề nghị Tòa án khấu trừ trực tiếp vào
khoản bồi thường thiệt hại mà Công ty đang yêu cầu các bên bị phản tố phải liên
đới bồi thường. Bị đơn không chấp nhận thanh toán 70% tiền thuê còn lại.
Đối với yêu cầu phản tố của Công ty P
Ngày 30-5-2023, Công ty TNHH T3 công văn số 08/2023/TB-APG
thông báo đến Công ty về việc ngừng cung cấp điện cho tài sản thuê. Vào lúc 10
giờ ngày 06-6-2023, nhà xưởng của Công ty đã bị ngắt điện toàn bộ. Ngày 26-7-
2023, Điện lực huyện Đ công văn số 53/TB-ĐLĐH thông báo đến Công ty P
về việc tạm ngưng cung cấp điện theo yêu cầu của chủ thể hợp đồng mua bán
điện và ngay sau đó nguồn điện chính cung cấp cho hoạt động sản xuất bị cắt từ
đó đến nay. Các Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Công ty T4, Công ty X đã vi
phạm quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Luật Điện lực 2004 Văn bản hợp
nhất Luật Điện lực 06/VBHN-VPQH 2022, Luật các tổ chức Tín dụng 2010. Cụ
thể:
Công ty TNHH T3: Vi phạm hợp đồng cho thuê, không thực hiện nghĩa vụ
của bên cho thuê, không đảm bảo quyền lợi của bên thuê, không phản hồi
làm về quyền sở hữu, nghĩa vụ của các bên đối với tài sản thuê, tham gia cắt
điện bất hợp pháp.
Công ty Đ1: Vi phạm quyền shữu tài sản cho thuê, thế chấp tài sản
làm mất quyền sở hữu tài sản đối với hợp đồng đang cho thuê, gây thiệt hại trực
tiếp rất lớn cho Công ty đang thuê, thực hiện yêu cầu cắt điện khi hợp đồng
đang còn hiệu lực khi bên thuê Công ty P vẫn đang hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Công ty T4: Vi phạm việc mua nợ xấu và tài sản thế chấp không đúng pháp
luật, không tuân thủ các quy định về quyền lợi của bên thứ ba Công ty P.
11
Công ty X: Mua lại tài sản của Công ty T4 đã vi phạm quy định của pháp
luật, không đảm bảo quyền lợi của Công ty P. Việc tài sản đang dấu hiệu bị
bán chuyển liên tục trong khi quyền lợi của Công ty P không được bảo vệ, đang
có dấu hiệu chuyển nhượng để tẩu tán trốn tránh trách nhiệm pháp lý.
Ngân hàng TMCP A: Vi phạm quy trình thẩm định xtài sản đảm
bảo, không thông báo cho Công ty P về việc thế chấp, nhận tài sản thế chấp và
xử tài sản đảm bảo, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên thuê, gây thiệt hại
nghiêm trọng cho bên thuê.
Tất cả những vi phạm trên của Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Ngân hàng
A, Công ty T4, Công ty X là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại về tài sản
toàn bộ nguyên liệu, trang thiết bị. Số tiền thiệt hại tạm tính đến 26-7-2023 là:
27.563.399.720 đồng. Trong đó: Nguyên liệu bị hỏng (hóa đơn bảng
mua hàng của nông dân): 16.425.999.720 đồng; chi phí thuê Công ty TNHH F
bị hỏng: 437.400.000 đồng; chi phí khắc phục máy móc hỏng do mất
điện: 200.000.000 đồng; bồi thường hợp đồng cho đối tác Công ty TNHH T5:
10.500.000.000 đồng.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công trình xây
dựng gắn liền giữa Công ty Đ1 Công ty X giả tạo, được lập ra nhằm che
giấu chủ thể chiếm hữu thực tế, trốn tránh nghĩa vụ bồi thường đối với Công
ty. Công ty X không tiếp quản, khai thác hay chiếm hữu tài sản. Công ty Đ1 vẫn
gửi văn bản ngày 12-7-2023 yêu cầu Điện lực Đ ngắt điện. Việc chuyển nhượng
không được thông báo cho bên thuê.
Từ các do trên, Công ty P yêu cầu phản tố phản tố bsung như
sau:
1. Buộc Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Công ty T4, Ngân hàng A
Công ty X phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 27.563.399.720 đồng. Tại
đơn điều chỉnh yêu cầu phản tố ngày 15-12-2025, Công ty thay đổi về số tiền
yêu cầu bồi thường là 24.060.445.515 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa, Công ty rút lại toàn bộ yêu cầu đối với Ngân hàng A.
2. Yêu cầu hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công
trình xây dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, đối tượng thửa đất 881, tờ
bản đồ số 24, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An công trình xây dựng gắn liền
giữa Công ty Đ1 và Công ty X
Đề nghị Tòa án xác định quyền thuê, chiếm hữu và khai thác tài sản thuê
của bị đơn là hợp pháp theo quy định tại Điều 488 Bộ luật Dân sự 2015.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty cổ phần N2,
ông Bùi Thế L trình bày:
Ông L đề nghị HĐXX triệu tập đủ người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
tham gia phiên tòa sự mặt của hcần thiết cho quá trình xét xử vụ án.
Ông thống nhất với lời trình bày của ông B hai vị luật sư. Đề nghị HĐXX
xem xét hợp đồng thuê của các bị đơn chấm dứt thời gian nào xác định yêu
12
cầu thanh toán tiền thuê của nguyên đơn đối với bà H không có căn cứ, không
được chấp nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa ngày 26-9-2025, người
đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP A, bà Trần Thị T1 trình bày:
Ngân hàng A Công ty Đ1 xác lập Hợp đồng cho vay hạn mức s
0768/20/TD/XXII ngày 31-3-2020, hạn mức vay là 10.000.000.000 đồng
Hợp đồng cho vay hạn mức số 0102/20/TD/XXII ngày 08-4-2020, hạn mức vay
là 20.000.000.000 đồng.
Để bảo đảm cho khoản vay, Công ty Đ1 đã thế chấp tài sản thửa đất số
881, tờ bản đồ số 24, diện tích 9978m
2
và tài sản gắn liền với đất: Nhà máy Đ4;
địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CD 843496, vào sổ cấp
GCN số: CT27656 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 12-4-2016
theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số
0768/20/TC/XXII ngày 31-3-2020, được công chứng ngày 31-3-2020 tại Văn
phòng C1 đăng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 03-4-2020 tại Văn phòng đăng đất đai tỉnh L theo đúng quy định của
pháp luật. Hiện nay, Công ty Đ1 không còn khoản nợ nào tại Ngân hàng A.
Ngân hàng A chỉ nhận thế chấp quyền sử dụng đất công trình xây dựng
trên đất, không nhận thế chấp tài sản máy móc, thiết bị, dây truyền sản xuất.
Căn cứ vào Biên bản thu giữ tài sản bảo đảm ngày 31-5-2022; dưới sự chứng
kiến của chính quyền địa phương, Ngân hàng đã tiến hành thu giữ theo quy định
tiếp quản tài sản bảo đảm quyền sử dụng đất công trình xây dựng trên
đất nêu trên của Công ty Đ1. Việc thu giữ tài sản bảo đảm của Ngân hàng là
đúng quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 56 Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29-6-2006 của Chính phủ về Giao dịch bảo đảm, Điều 7
của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
0768/20/TC/XXII ngày 31-3-2020.
Ngày 27-12-2022, Ngân hàng đã bán khoản ncủa Công ty Đ1 cho Công
ty T4 theo Hợp đồng mua bán nsố 37/HĐ.NHAB.22 ngày 27-12-2022. Ngày
07-3-2023, Ngân hàng đã hoàn tất việc bán bàn giao khoản nnày. Kể t
ngày 07-3-2023, Công ty T4 chính thức trở thành người thế quyền, nghĩa vụ
liên quan đến khoản nợ của Công ty Đ1 trở thành chủ nợ của Công ty Đ1.
Đồng thời, ngày 13-3-2023, Ngân hàng đã thông báo cho Công ty Đ1, Công ty
cổ phần P về việc mua bán khoản nợ xấu theo đúng quy định tại điểm a Khoản
2 Điều 17 Thông tư 09/2015/TT-NHNN ngày 17-7-2015.
Mặt khác, kể từ thời điểm cấp hạn mức cho Công ty Đ1, thu giữ tài sản bảo
đảm bán khoản nợ sang cho Công ty T4, Ngân hàng không thu giữ các tài
sản máy móc, trang thiết bị thuộc tài sản của Công ty cổ phần P. Đồng thời,
trong suốt quá trình xử khoản nợ xấu của Công ty Đ1, Công ty cphần P
không phản hồi gửi đến Ngân hàng về việc xử của Ngân hàng ảnh hưởng
đến hoạt động sản xuất kinh doanh và gây thiệt hại cho Công ty.
13
Ngân hàng không còn bất cứ quyền hay nghĩa vụ liên quan đến khoản
nợ/tài sản bảo đảm của Công ty Đ1. Do đó, việc ngừng cung cấp điện theo công
văn số 08/2023/TB-APG ngày 30-5-2023 của Công ty TNHH T3 gửi đến Công
ty cổ phần P việc cắt nguồn điện đột ngột gây ra các thiệt hại sau đó của phía
Công ty cổ phần P, Ngân hàng không trách nhiệm. Nay, Công ty cổ phần P
cũng đã rút yêu cầu khởi kiện liên đới với Ngân hàng nên Ngân hàng không
ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty Đ1 có văn bản trình bày ý kiến:
Trước đây, Công ty chủ sở hữu của thửa đất 881, tờ bản đồ số 24, tại
Đ, huyện Đ, Long An Công trình xây dựng khác: Tên công Nhà máy Đ4, 2,
3, nhà văn phòng theo giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất sổ CD 843496 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho Công
ty Đ1 L.A ngày 12-4-2016.
Công ty TNHH T3 Công ty Đ1 xác lập Hợp đồng thuê nhà xưởng số
02/HĐTNX ngày 16-8-2016; Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/HĐTNX ngày 15-
8-2016 và Phụ lục Hợp đồng thuê nhà xưởng số 03/PLHĐ/HĐTNX ngày 31-10-
2019. Tại thời điểm Công ty Đ1 xác lập các hợp đồng thuê nhà xưởng với Công
ty TNHH T3 thì thửa đất 881, tờ bản đồ số 24 Công trình xây dựng khác gắn
liền trên đất được Công ty Đ1 thế chấp tại Ngân hàng.
Tuy nhiên, Công ty Đ1 vẫn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình
trong suốt quá trình Công ty TNHH T3 thực hiện hợp đồng thuê, vẫn đảm bảo
quyền thuê của Công ty TNHH T3. Tại khoản 1 Mục 1.2 và 1.5 của Hợp đồng
thuê có thể hiện Công ty TNHH T3 được quyền cho thuê lại tài sản thuê và việc
Công ty TNHH T3 cho bên thứ ba thuê lại nhà xưởng được Công ty Đ1 đồng ý.
Công ty Đ1 phát sinh nợ xấu với Ngân hàng A, Ngân hàng thông báo
thu giữ tài sản bảo đảm của Công ty có tiến hành lập Biên bản thu giữ tài sản
bảo đảm là thửa đất 881 nhà xưởng, văn phòng gắn liền. Sau đó, Công ty Đ1
được Ngân hàng A thông báo đã bán và bàn giao khoản nợ của Công ty Đ1 cho
Công ty T4 theo Hợp đồng mua bán nợ số 37/HĐ.NHAB.22 ngày 27-12-2022.
Toàn bộ quá trình này, ng ty Đ1 đều thông báo cho Công ty TNHH T3 biết.
Theo đó, Công ty T4 trở thành người thế quyền, nghĩa vliên quan đến khoản
nợ của Công ty Đ1.
Được sự đồng ý của Công ty T4, ngày 07-3-2023, Công ty Đ1 Công ty
X xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công trình xây dựng
gắn liền với đất, đối tượng thửa đất 881, tờ bản đồ số 24, diện tích đất
9.978m
2
và Công trình xây dựng khác: Tên công trình Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà
văn phòng. Tiền nhận chuyển nhượng Công ty đã thanh toán xong cho Công ty
T4. Do thời gian đã lâu nên Công ty không còn lưu giữ các giấy tờ thanh toán
này. Ngày 19-4-2023, Công ty X được Văn phòng đăng đất đai tỉnh L cập
nhật biến động sang tên trên giấy CNQSD đất tại thửa đất 881 tài sản gắn
liền.
14
Việc Công ty chuyển nhượng thửa đất 881 và nhà xưởng gắn liền cho Công
ty X là đúng quy định pháp luật. Trong suốt quá trình phát sinh nợ xấu với Ngân
hàng và xử khoản nợ, Ngân hàng không thu giữ các tài sản là máy móc, trang
thiết bị thuộc shữu của Công ty cổ phần P, Công ty cổ phần P vẫn hoạt động
bình thường. Đồng thời, trong suốt quá trình xử lý khoản nợ xấu của Công ty Đ1
L.A phía Công ty cổ phần P đều biết và không có bất cứ hành động hay có công
văn gửi đến Ngân hàng về việc xử của Ngân hàng ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh và gây thiệt hại cho Công ty.
Sau khi, Công ty chuyển giao quyền tài sản thửa đất 881 nhà xưởng gắn
liền cho Công ty X thì Công ty X tiếp tục xác lập hợp đồng thuê với Công ty
TNHH T3. Như vậy, quyền thuê của Công ty TNHH T3 không bị gián đoạn bất
khoảng thời gian nào. Công ty TNHH T3 vẫn người thuê hợp pháp đối với
tài sản này. Do không còn chủ của thửa đất 881 nhà xưởng gắn liền nên
ngày 28-7-2023, Công ty đã đề nghị thay đổi thông tin trên hợp đồng mua
bán điện sang ng ty BBC. Sau đó, sự việc diễn biến thế nào thì Công ty
không biết.
Công ty cổ phần P yêu cầu hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất công trình xây dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, đối tượng
thửa đất 881 công trình y dựng gắn liền giữa Công ty Đ1 Công ty X
buộc Công ty Đ1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho Công ty P s tiền
27.563.399.720 đồng không căn cứ. Do đó, đề nghị HĐXX bác toàn bộ
yêu cầu của Công ty cổ phần P xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải
quyết vụ án tại các cấp xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty X có văn bản trình bày ý kiến:
Công ty hiện chủ sở hữu của thửa đất 881 và Công trình xây dựng khác:
Tên công trình - Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà văn phòng theo giấy CNQSD đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CD 843496 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh L cấp cho Công ty Đ1 L.A ngày 12-4-2016, được Văn phòng
đăng đất đai tỉnh L cập nhật biến động sang tên cho Công ty X ngày 19-4-
2023.
Tài sản được Công ty X nhận chuyển nhượng từ Công ty Đ1 theo Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công trình xây dựng gắn liền với đất
ngày 07-3-2023. Việc chuyển nhượng được thực hiện đúng quy định pháp luật,
Công ty đã thanh toán tiền đầy đcho Công ty Đ1 Công ty Đ1 cũng đã giao
quyền sử dụng đất, nhà xưởng cho Công ty X quản lý, sử dụng.
Tại thời điểm Công ty X nhận chuyển nhượng thửa đất 881 nhà xưởng
thì Công ty Đ1 đang cho Công ty TNHH T3 thuê quyền sử dụng đất nhà
xưởng vừa nêu. Sau đó, Công ty X vẫn tiếp tục cho Công ty TNHH T3 thuê thửa
đất 881, nhà xưởng. Các bên xác lập hợp đồng thuê như Công ty TNHH T3
trình bày. Đồng thời, Công ty X vẫn đảm bảo cho Công ty TNHH T3 quyền
15
được cho thuê lại nhà xưởng theo quy định. Công ty X không tranh chấp hợp
đồng thuê với Công ty TNHH T3 trong vụ án này.
Ngày 01-8-2023, Công ty X đã hợp đồng mua điện với Điện lực huyện
Đ. Công ty X tiếp tục sử dụng điện của Điện lực Đ cung cấp cho xưởng 3 và đến
tháng 4/2023 do sự cố trạm điện bị hỏng nên Công ty X ngưng sử dụng điện của
Điện lực huyện Đ đến nay. Việc Công ty TNHH T3 Công ty cổ phần P tranh
chấp tiền thuê không liên quan đến Công ty X.
Công ty P yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
công trình xây dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, đối tượng thửa đất 881
công trình xây dựng gắn liền buộc Công ty X, phải liên đới bồi thường
thiệt hại cho Công ty cổ phần P số tiền 27.563.399.720 không căn cứ. Do
đó, đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu y của Công ty cổ phần P xin vắng
mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty TNHH T4 Gòn có văn bản trình bày ý kiến:
Ngày 27-12-2022, Công ty T4 mua lại khoản nợ xấu của Công ty Đ1 từ
Ngân hàng A theo Hợp đồng mua bán nợ số 37/HĐ NHAB.22 ngày 27-12-2022.
Sau khi mua lại khoản xấu của Công ty Đ1, Công ty T4 vẫn tạo điều kiện cho
các Công ty đang thuê tiếp tục sử dụng nhà xưởng và sản xuất. Công ty T4
không biết Công ty nào đang thuê. Đồng thời, Công ty đã tạo điều kiện cho
Công ty Đ1 chuyển nhượng thửa đất 881 và Công trình xây dựng khác: Tên
công trình Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà văn phòng theo giấy CNQSD đất, quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CD 843496 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh L cấp cho Công ty X. Sau khi chuyển nhượng xong, Công ty Đ1 đã
thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Công ty T4 nên Công ty Đ1 không còn bất
nghĩa vụ nào với Công ty T4.
Công ty T4 chỉ mua lại khoản nợ của Công ty Đ1 không liên quan đến nhà
ởng, cũng không thu giữ nhà xưởng nên việc Công ty P yêu cầu Công ty T4
phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 27.563.399.720 là không căn cứ. Do
đó, đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu của Công ty P xin vắng mặt trong
suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Công ty Đ3 có văn bản trình bày ý kiến:
Đối với các tranh chấp trong ván kinh doanh thương mại nói trên giữa
Công ty TNHH T3 với Công ty cổ phần P, Công ty phần Nhật T, ông Đồng Văn
B, bà Thị H, Công ty Đ3 không liên quan đến việc tranh chấp giữa các bên
và xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) có ý kiến trình bày:
Ngày 21-8-2023, B1 Công ty X xác lập Hợp đồng tín dụng số
01/2023/20673276/HĐTD với tổng số tiền vay 24.000.000.000 đồng, mục
16
đích vay: thanh toán chi phí mua/nhận chuyển nhượng nhà xưởng tại Khu công
nghiệp H, thời hạn cấp tín dụng: 96 tháng.
Ngày 22-10-2024, B1 Công ty X xác lập Hợp đồng tín dụng hạn mức số
01/2024/20673276/HĐTD với tổng số tiền vay 16.000.000.000 đồng, mục
đích vay: bsung vốn lưu động, bảo lãnh, phát hành LC, thời hạn cấp hạn mức:
12 tháng. Tổng nợ của Công ty X tại B1 đến hết ngày 03-9-2025
37.370.842.675 đồng,
Để đảm bảo cho khoản vay, Công ty X thế chấp cho Ngân hàng tài sản
quyền sdụng đất thửa đất 881 theo giấy CNQSDĐ, quyền shữu nhà
và tài sản khác gán liền số CD 843496, số vào sổ cấp GCN: CT27656 do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh L cấp ngày 12-4-2015, cập nhật biến động ngày 19-
4-2023 và ngày 09/8/2023 và tài sản gắn liền là Nhà xưởng 1, diện tích 1.848m
2
,
nhà xưởng 2, diện tích 2.040m
2
; nhà xưởng 3, diện tích 1.997,5m
2
, nhà văn
phòng 192m
2
, xác nhận chuyển nhượng cho Công ty X ngày 19-4-2023 theo hợp
đồng thế chấp số 01/2023/20673276/HĐBĐ đã được công chứng ngày 22-8-
2023 tại Văn phòng C1 và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định.
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của bên vay, Công ty X luôn thực hiện
đúng thời hạn trả nợ. Ngân hàng không tranh chấp về khoản vay của Công ty X
và không có ý kiến đối với tranh chấp hợp đồng thuê giữa nguyên đơn và bị đơn.
Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2026/KDTM-ST ngày
08-01-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần
T3 (kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH T3) về việc “tranh
chấp hợp đồng cho thuê lại nhà xưởng” đối với Công ty cổ phần P, Công ty cổ
phần N2, ông Đồng Văn B, bà Lê Thị H.
Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố sau của Công ty cổ phần P
đối với Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty
TNHH T3), về yêu cầu:
- Buộc Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Công ty T4Công ty X phải liên
đới bồi thường thiệt hại số tiền là 24.060.445.515 đồng.
- hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công trình xây
dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, đối tượng thửa đất 881, tờ bản đồ số
24, tại Đ, huyện Đ, tỉnh Long An công trình xây dựng gắn liền giữa Công
ty Đ1 và Công ty X.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần P về việc buộc
Ngân hàng A liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản.
2. Hủy Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-
2020, đối tượng thuê diện tích nhà xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất
9.978m
2
, tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An
(thửa đất số 881, tờ bản đồ 24) nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà
17
xưởng 1 diện tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp
1000KVA- Dùng chung, bên B chỉ sử dụng được tối đa 150KVA giữa Công
ty TNHH T3 và Công ty cổ phần N2.
3. Chấm dứt các hợp đồng sau:
3.1. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019;
đối tượng thuê là diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
,
tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất
số 881, tờ bản đồ 24) nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng
diện tích 2.040m
2
và hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA-
Dùng chung; Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/PLHĐ – APG ngày 31-
3-2020 giữa Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B;
3.2. Hợp đồng thuê nxưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-
2020 (Hợp đồng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-2020), đối tượng
thuê diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
, tọa lạc J
đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất số 881,
tờ bản đồ 24) và nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng 1 diện
tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA- dùng
chung giữa Công ty TNHH T3 và Công ty P;
3.3. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020,
đối tượng thuê diện tích nhà xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
,
tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất
số 881, tờ bản đồ 24) nxưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng 1
diện tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp
1000KVA- Dùng chung, bên B chỉ sử dụng được tối đa 150KVA; Phụ lục
hợp đồng thuê nhà xưởng số 01/1820/HĐTNX – APG ngày 28-4-2021, nội dung
thỏa thuận của Phụ lục hợp đồng: Điều chỉnh diện tích thuê giữa ng ty TNHH
T3 và bà Lê Thị H.
4. Buộc các bị đơn nghĩa vụ thanh toán tiền thuê lãi chậm thanh toán
cho Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH
T3) như sau:
4.1. Ông Đồng Văn B nghĩa vụ thanh toán: 4.688.971.788 đồng (bốn tỷ,
sáu trăm tám mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi mốt ngàn, bảy trăm tám mươi
tám đồng);
4.2. Công ty cổ phần P nghĩa vụ thanh toán: 2.544.712.329 đồng (hai tỷ,
năm trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm mười hai ngàn, ba trăm hai ơi chín
đồng);
4.3. Thị H nghĩa vthanh toán: 7.841.294.372 đồng (bảy tỷ, tám
trăm bốn ơi mốt triệu, hai trăm chín mươi bốn ngàn, ba trăm bảy mươi hai
đồng);
Khi án hiệu lực pháp luật, kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên
18
nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm
trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với
thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác.
5. Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Công ty
TNHH T3) được sở hữu số tiền cọc 370.000.000 đồng theo Hợp đồng số 01-
19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 giữa Công ty TNHH T3 ông Đồng Văn
B số tiền cọc 410.000.000 đồng theo Hợp đồng th nhà xưởng số
1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 và Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số
01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021 giữa Công ty TNHH T3 Thị
H.
6. Buộc Công ty cổ phần P, ông Đồng Văn B, Công ty cổ phần N2,
Thị H phải di dời toàn bộ tài sản, vật dụng, thiết bị thuộc quyền sở hữu của các
bị đơn để trả lại nhà xưởng, văn phòng nằm trên diện tích đất 9.978m
2
, tọa lạc J
đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất số 881,
tờ bản đồ 24) cho Công ty TNHH T3.
7. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số
02/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06-11-2023 Quyết định sửa chữa bổ sung số
01/2023/QĐ-SCBS ngày 08-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh
Long An (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 y Ninh) về áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản Ngân hàng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 14-01-2026, bị đơn Công ty cổ phần P, Công ty cổ phần N2, ông
Đồng Văn B, Thị H đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm. Yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư phiên tòa kể tkhi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật
của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần
P; Công ty cổ phần N2; ông Đồng Văn B; Thị H; giữ nguyên Bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
19
1.1. Xét kháng cáo của Công ty cổ phần P, Công ty cổ phần N2, ông Đồng
Văn B, Lê Thị H là phù hợp theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
1.2. Về quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu
cầu phản tố của bị đơn; cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tố tụng là “tranh
chấp hợp đồng cho thuê lại nhà xưởng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất” đúng
với quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của Công ty cổ phần P; Công ty cổ phần
N2; ông Đồng Văn B; bà Lê Thị H, nhận thấy:
2.1. Xét hợp đồng thuê lại nhà xưởng:
Nguyên đơn cho bị đơn thuê lại nhà xưởng gắn liền với thửa đất số 881, tờ
bản đồ s24, tại Đ, huyện Đ, Long An công trình xây dựng khác: Tên
công trình Nhà máy Đ4, 2, 3, nhà văn phòng theo giấy CNQSD đất, quyền sở
hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CD 843496 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh L cấp cho Công ty Đ1 L.A ngày 12-4-2016, cập nhật biến động sang
tên cho Công ty X ngày 19-4-2023. Đối chiếu với quy định tại Điều 188 của
Luật Đất đai 2013, thửa đất 881 và nhà xưởng gắn liền đủ điều kiện cho thuê
cho thuê lại.
Xét về hình thức của các hợp đồng cho thuê lại này được lập thành văn bản
đúng với quy định tại Điều 472 Bộ luật Dân sự.
Xét về chủ thể tham gia xác lập Hợp đồng thuê nhà xưởng số 02/HĐTNX
ngày 16-8-2016; Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-23/HĐTNX –BBC ngày 01-5-
2023 giữa Công ty X Công ty TNHH T3; Văn bản trình bày ý kiến của Công
ty Đ1 và Công ty X thì Công ty TNHH T3 được quyền cho thuê lại thửa đất 881
và nhà xưởng gắn liền với đất.
Xét về nội dung của hợp đồng cho thuê lại: Theo các hợp đồng nêu trên đã
được quy định cụ thể vgiá thuê, phương thức thanh toán, thời hạn thuê, quyền
và nghĩa vụ của bên cho thuê lại, bên thuê lại theo quy định của pháp luật.
Do đó, căn cứ xác định hợp đồng cho thuê lại giữa Công ty TNHH T3
bị đơn được thực hiện đúng với trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật;
đủ điều kiện làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia xác lập. Các
bên đã thực hiện theo đúng thỏa thuận của hợp đồng tthời điểm xác lập cho
đến hết tháng 5/2022. Từ tháng 6/2022 đến nay, các bị đơn gồm ông B, bà H,
Công ty cổ phần P Công ty N2 đã vi phạm hợp đồng, không thanh toán tiền
thuê cho Công ty TNHH T3 cho rằng quyền sử dụng đất nhà xưởng gắn
liền bị Ngân hàng A thu giữ do Công ty Đ1 phát sinh nợ xấu với Ngân hàng.
Ngân hàng A1 nợ xấu cho Công ty T4, sau đó schuyển giao quyền sở hữu
toàn bộ tài sản từ Công ty Đ1 sang Công ty X; do đó, không xác định được ai là
chủ sở hữu nên bđơn không biết thanh toán tiền thuê cho ai mặc nhiên các
20
bị đơn được hưởng lợi, miễn thanh toán tiền thuê nhà; Hội đồng xét xử xét thấy
lời trình bày của các bị đơn là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án, sở xác định
các bị đơn đã xác nhận việc có phát sinh nhiều sự kiện pháp lý về chủ shữu tài
sản thuê nêu trên, nhưng các bị đơn vẫn người quản lý, sử dụng toàn bộ nhà
xưởng, vẫn hoạt động sản xuất không bất nhân, tổ chức nào cản trở
hoặc yêu cầu di dời, tháo dỡ tài sản, trang thiết bị máy móc. Đồng thời, tại thời
điểm thuê lại tài sản từ Công ty TNHH T3, các bị đơn biết tài sản này được
Công ty TNHH T3 thuê từ Công ty Đ1 việc Công ty Đ1 thế chấp tài sản cho
Ngân hàng A khi đang cho thuê không vi phạm quy định tại Điều 188 Luật
Đất đai; Điều 317, Điều 318 Bộ luật Dân sự; Điều 34 Nghị định 21/2021/NĐ-
CP của Chính phủ. Công ty Đ1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đảm bảo quyền
thuê của bên thuê và bên thuê lại và thông báo cho Ngân hàng A biết.
Theo Ngân hàng A xác nhận kể từ thời điểm cấp hạn mức cho Công ty Đ1,
thu giữ tài sản bảo đảmbán khoản nợ sang cho Công ty T4. Do đó, quyền lợi
của bên thuê Công ty TNHH T3 các bị đơn đều được đảm bảo. Bị đơn
được xác lập quyền sở hữu đối với thửa đất 881 tài sản gắn liền dựa trên hợp
đồng cho thuê lại n xưởng giữa Công ty TNHH T3 với các bị đơn; nên bị đơn
cho rằng không biết ai là chủ cho thuê để thanh toán tiền thuê là nhằm trốn tránh
nghĩa vụ thanh toán tiền thuê cho nguyên đơn. Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ khoản
1 Điều 481 của Bộ luật Dân sự, buộc các bị đơn gồm ông B, H, Công ty cổ
phần P phải nghĩa vụ thanh toán tiền thuê cho Công ty TNHH T3 theo như
thỏa thuận tại hợp đồng được xác lập; đồng thời tuyên chấm dứt các hợp đồng
thuê, buộc giao trả tài sản thuê do vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng thuê là
phù hợp, có căn cứ; nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị đơn.
2.2. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty cphần P, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
Bị đơn yêu cầu hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất
công trình xây dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, cho rằng Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình xây dựng gắn liền với đất ngày
07-3-2023 giữa Công ty Đ1 Công ty X. Nhận thấy, tại thời điểm các bên
kết hợp đồng chuyển nhượng này thì thửa đất 881 tài sản gắn liền đủ điều
kiện chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai; các chủ thể thực
hiện hợp đồng không tranh chấp không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị
đơn; do đó bị đơn yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng này không được chấp
nhận.
Xét bị đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 24.060.445.515 đồng, nhận
thấy:
Công ty cổ phần P yêu cầu Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Công ty T4, và
Công ty X phải liên đới bồi thường thiệt hại với số tiền 24.060.445.515 đồng,
năm 2023 bên cho thuê không cung cấp điện gây ra thiệt hại này; nhưng Công ty
cổ phần P không cung cấp được chứng cứ chứng minh các thiệt hại thực tế xảy
21
ra do lỗi trực tiếp của Công ty TNHH T3 gây ra cho Công ty. Ngoài ra, Công ty
cổ phần P xác định Công ty TNHH T3 Thông báo sẽ ngắt điện số
08/2023/TB-APG ngày 30-5-2023, với nội dung thông báo sẽ ngắt điện vào
ngày 31-5-2023 nhưng vào ngày này Công ty TNHH T3 chưa thực hiện ngắt
điện. Đến ngày 12-7-2023, Công ty Đ1 gửi thông báo đến Điện lực huyện Đ yêu
cầu ngắt điện. Ngày 31-7-2023, Điện lực huyện Đ chính thức ngắt điện. Nhận
thấy, các bị đơn vi phạm nghĩa vụ về thời hạn thanh toán tiền thuê nhà xưởng
kéo dài thời gian trên 10 tháng, nguyên đơn đã gửi nhiều thông báo yêu cầu
thanh toán nợ thông báo chấm dứt hợp đồng, nhưng bị đơn vẫn không thực
hiện.
Trước khi ban hành Thông báo ngừng cung cấp điện số 53/TB-ĐLĐHo
ngày 26-7-2023, Điện lực huyện Đ đã tiến hành làm việc giữa các bên gồm
Công ty Đ1, Công ty TNHH T3 và Công ty cổ phần P, thông báo thể hiện
thời gian sẽ ngưng cung cấp điện tại địa chỉ của nhà xưởng. Công ty cổ phần P
cũng thống nhất thời gian ngắt điện; nên tính từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa
vụ thanh toán đến ngày Điện lực huyện Đ thông báo là trên 12 tháng nợ tiền
thuê nhà xưởng trước khi ngắt điện thì bị đơn đã được thông báo về việc đơn
phương chấm dứt hợp đồng; nhưng bị đơn không bàn giao nhà xưởng cho
nguyên đơn bị đơn tiếp tục sử dụng nguồn điện năng lượng mặt trời và vẫn
tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản thuê để hoạt động, sản xuất liên tục cho đến
nay; do đó, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần
P về bồi thường thiệt hại tài sản căn cứ, nên không chấp nhận yêu cầu
kháng cáo của các bị đơn.
Xét các bị đơn yêu cầu trả lại tiền cọc, nhận thấy theo hợp đồng thuê tài sản
đã thoả thuận các bị đơn đã vi phạm hợp đồng này nên cấp thẩm tuyên
không hoàn trả tiền cọc cho các bị đơn là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, Công ty cổ phần P gửi “Đơn yêu cầu định giá tài sản”
để làm căn cứ giải quyết yêu cầu phản tố của Công ty về yêu cầu bồi thường
thiệt hại nêu trên; nhận thấy, Công ty cổ phần P yêu cầu định giá tài sản thiệt hại
mặt hàng nông sản xoài sấy đã bị tiêu hủy yêu cầu vbồi thường thiệt hại
này không có cơ sở chấp nhận như nhận định trên; nên không cần thiết phải định
giá tài sản theo“Đơn yêu cầu định giá tài sản” của Công ty cổ phần P.
[3] Từ những phân tích trên, nhận thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại
phiên toà phù hợp nên cần chấp nhận; do đó không căn cứ chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của Công ty cổ phần P; Công ty cổ phần N2; ông Đồng Văn B; bà
Lê Thị H; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do không chấp
nhận kháng cáo nên Công ty cổ phần P; Công ty cổ phần N2; ông Đồng Văn B;
Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án
phí đã nộp.
22
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần P, Công ty cổ phần N2,
ông Đồng Văn B, bà Lê Thị H.
Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2026/KDTM-
ST ngày 08 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ khoản Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều
483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 3, điểm g khoản 1 Điều 18, Điều
17, Điều 20 của Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 472, Điều 473, Điều 474,
Điều 475, Điều 476, Điều 477, Điều 482; khoản 6 Điều 321 của Bộ luật Dân sự;
điểm b khoản 3 Điều 167; điểm d khoản 2 Điều 174 , điểm b khoản 1 Điều 175,
Điều 188 của Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần
T3 (kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH T3) vviệc “Tranh
chấp hợp đồng cho thuê lại nhà xưởng” đối với Công ty cổ phần P, Công ty cổ
phần N2, ông Đồng Văn B, bà Lê Thị H.
Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố sau của Công ty cổ phần P
đối với Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty
TNHH T3):
- Buộc Công ty TNHH T3, Công ty Đ1, Công ty T4Công ty X phải liên
đới bồi thường thiệt hại số tiền là 24.060.445.515 đồng.
- hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công trình xây
dựng gắn liền với đất ngày 07-3-2023, đối tượng thửa đất 881, tờ bản đồ số
24, tại Đ, huyện Đ, tỉnh Long An công trình xây dựng gắn liền giữa Công
ty Đ1 và Công ty X.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của Công ty cổ phần P về việc buộc
Ngân hàng A liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản.
2. Hủy Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-
2020, đối tượng thuê diện tích nhà xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất
9.978m
2
, tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An
(thửa đất số 881, tờ bản đồ 24) nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà
xưởng 1 diện tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp
1000KVA- dùng chung, bên B chỉ sử dụng được tối đa là 150KVA giữa Công ty
TNHH T3 và Công ty cổ phần N2.
23
3. Chấm dứt các hợp đồng sau:
3.1. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019;
đối tượng thuê diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
,
tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất
số 881, tờ bản đồ 24) nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng
diện tích 2.040m
2
và hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA-
dùng chung; Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/PLHĐ – APG ngày 31-
3-2020 giữa Công ty TNHH T3 và ông Đồng Văn B;
3.2. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-
2020 (Hợp đồng số 01-20/HĐTNX/APG-PQG ngày 02-01-2020), đối tượng
thuê diện tích nhà xưởng 2.040m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
, tọa lạc J
đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất số 881,
tờ bản đồ 24) và nhà xưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng 1 diện
tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp 1000KVA- dùng
chung giữa Công ty TNHH T3 và Công ty P;
3.3. Hợp đồng thuê nhà xưởng số 1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020,
đối tượng thuê diện tích nhà xưởng 1.000m
2
nằm trên diện tích đất 9.978m
2
,
tọa lạc J đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, xã Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất
số 881, tờ bản đồ 24) nxưởng cho thuê bao gồm 01 xưởng: Nhà xưởng 1
diện tích 1.000m
2
hệ thống PCCC cho nhà xưởng; trạm biến áp
1000KVA- dùng chung, bên B chỉ sử dụng được tối đa là 150KVA; Phụ lục hợp
đồng thuê nhà xưởng số 01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021, nội dung
thỏa thuận của Phụ lục hợp đồng: Điều chỉnh diện tích thuê giữa ng ty TNHH
T3 và bà Lê Thị H.
4. Buộc các bị đơn nghĩa vụ thanh toán tiền thuê lãi chậm thanh toán
cho Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH
T3) như sau:
4.1. Ông Đồng Văn B nghĩa vụ thanh toán: 4.688.971.788 (Bốn tỷ, sáu
trăm tám mươi tám triệu, chín trăm bảy mươi mốt ngàn, bảy trăm tám mươi
tám) đồng;
4.2. Công ty cổ phần P có nghĩa vụ thanh toán: 2.544.712.329 (Hai tỷ, năm
trăm bốn mươi bốn triệu, bảy trăm mười hai ngàn, ba trăm hai mươi chín) đồng;
4.3. Thị H nghĩa vthanh toán: 7.841.294.372 (Bảy tỷ, tám trăm
bốn mươi mốt triệu, hai trăm chín mươi bốn ngàn, ba trăm bảy mươi hai) đồng.
Khi án hiệu lực pháp luật, kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên
nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm
trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với
thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật có quy định khác.
24
5. Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của Công ty
TNHH T3) được sở hữu số tiền cọc 370.000.000 đồng theo Hợp đồng số 01-
19/HĐTNX APG ngày 14-9-2019 giữa Công ty TNHH T3 với ông Đồng Văn
B số tiền cọc 410.000.000 đồng theo Hợp đồng thuê nhà xưởng số
1820/HĐTNX APG ngày 01-8-2020 và Phụ lục hợp đồng thuê nhà xưởng số
01/1820/HĐTNX APG ngày 28-4-2021 giữa Công ty TNHH T3 Thị
H.
6. Buộc Công ty cổ phần P, ông Đồng Văn B, Công ty cổ phần N2,
Thị H phải di dời toàn bộ tài sản, vật dụng, thiết bị thuộc quyền sở hữu của các
bị đơn để trả lại nhà xưởng, văn phòng nằm trên diện tích đất 9.978m
2
, tọa lạc J
đường số E KCN H (GĐ 3+4), ấp B, Đ, huyện Đ, Long An (thửa đất số 881,
tờ bản đồ 24) cho Công ty TNHH T3.
7. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số
02/2023/QĐ-BPKCTT ngày 06-11-2023 Quyết định sửa chữa bổ sung số
01/2023/QĐ-SCBS ngày 08-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh
Long An (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3 Tây Ninh) về áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản Ngân hàng.
8. Về chi phí tố tụng: Công ty cổ phần P, ông Đồng Văn B, Công ty cổ
phần N2, Thị H nghĩa vụ hoàn lại Công ty Cổ phần T3 (kế thừa quyền
nghĩa vụ tố tụng của Công ty TNHH T3) số tiền 10.000.000 (Mười triệu)
đồng.
9. Về án phí dân sự sơ thẩm:
9.1. Các bị đơn phải chịu án phí lần lượt như sau:
Công ty cổ phần P phải chịu án phí 220.954.693 đồng; được trừ vào tiền
tạm ứng án phí đã nộp 67.781.000 đồng theo Biên lai thu số 0006005 ngày 12-
01-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa (Nay Phòng Thi
hành án dân sự Khu vực 3 Tây Ninh) 3.000.000 đồng theo Biên lai thu số
0002776 ngày 08-8-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Công ty cổ
phần P phải nộp tiếp số tiền án phí 150.173.693 (Một trăm năm mươi triệu,
một trăm bảy mươi ba ngàn, sáu trăm chín mươi ba) đồng.
Ông Đồng Văn B phải chịu án phí 118.688.972 (Một trăm mười tám
triệu, sáu trăm tám mươi tám ngàn, chín trăm bảy mươi hai) đồng.
Lê Thị H phải chịu án phí là 121.841.294 (Một trăm hai mươi mốt triệu,
tám trăm bốn mươi mốt ngàn, hai trăm chín mươi bốn) đồng.
Công ty cổ phần N2 phải chịu án phí là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
Công ty cổ phần P, Công ty cổ phần N2, ông Đồng Văn B, Thị H
phải liên đới chịu án phí 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
9.2. Hoàn trả cho Công ty Cổ phần T3 (Kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng
của Công ty TNHH T3) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 34.035.000 đồng theo
Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0006341 và 31.886.000 đồng theo Biên
25
lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0006342 cùng ngày 24-10-2023; số tiền
17.600.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007399; số tiền
33.509.381 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007398; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007400; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007405; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án plệ phí tòa án 0007404; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007403; số tiền
3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007402 số
tiền 3.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án 0007401 cùng
ngày 23-6-2025 đều của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Tây Ninh).
10. Về án phí dân sự phúc thẩm:
10.1. Công ty cổ phần P phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng; được trừ vào
tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001413 ngày
19-01-2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
10.2. Công ty cổ phần N2 phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng; được trừ
vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001412
ngày 19-01-2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
10.3. Ông Đồng Văn B phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng; được trừ vào
tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001411 ngày
19-01-2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
10.4. Thị H phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng; được trừ vào tiền
tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0001414 ngày 19-01-
2026 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Tây Ninh.
11. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
12. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định
tại Ðiều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 6, 7 36 của Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Ðiều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- TAND Khu vực 3;
- Phòng THADS Khu vực 3;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Quốc Tuấn
26
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 25/2026/KDTM-PT Bản án số 25/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 25/2026/KDTM-PT Bản án số 25/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất