Bản án số 25/2020/HC-ST ngày 30/09/2020 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2020/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2020/HC-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 25/2020/HC-ST ngày 30/09/2020 của TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Chánh (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 25/2020/HC-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2020 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Ông Trần Văn B yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố hành vi từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của UBND xã V là trái pháp luật và buộc UBND xã V thực hiện việc giải quyết hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trần Văn B theo đúng quy định pháp luật. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 25/2020/HC-ST
Ngày: 30-9-2020
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
− Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Minh Chánh
2. Bà Nguyễn Thị Vạn
− Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh
− Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2020/TLST-HC
ngày 03 tháng 02 năm 2020 về “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2020/QĐXXST-HC
ngày 17 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2020/QĐST-HC
ngày 07 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Trần Văn B, sinh năm: 1962
Địa chỉ: Số D4/1 ấp M, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Bà Phạm Bùi Diễm S, sinh
năm: 1995
Địa chỉ: Số E8/3 đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;
là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện
(Văn bản ủy quyền ngày 06/01/2020)
(Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông
Nguyễn Sơn L – Luật sư của Công ty Luật hợp danh N thuộc Đoàn Luật sư Thành
phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
2
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Số F7/16 đường H, ấp X, xã V, huyện Bình Chánh, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Lại Hữu H1 – Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện
theo ủy quyền của người bị kiện
(Văn bản ủy quyền số 522/QĐ-UBND ngày 20/5/2020)
(Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Đặng
Tấn T1 – Chức vụ: Công chức địa chính, xây dựng, nông nghiệp và môi trường xã
Vĩnh Lộc A; Địa chỉ: A5/16 khu phố O, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh.
(Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/01/2020; đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
ngày 23/7/2020; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người
đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Phạm Bùi Diễm S trình bày:
Ông Trần Văn B hiện nay có sử dụng các phần đất: Phần đất có diện tích là
3.999,2m
2
thuộc một phần thửa số 11, 16, 17, 19, 20, 23, 24, 25; tờ bản đồ số 02
(Theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với thửa số 3, 13, 14, 24, 25; tờ bản đồ số 02
(Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Phần đất có diện tích là 3.293,5m
2
thuộc một phần thửa số 39, 40; tờ bản đồ số 01
(Theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với thửa số 29; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu
bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất có
diện tích là 6.849,6m
2
thuộc thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu 02/CT-UB)
tương ứng với thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc
tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về nguồn gốc đất: Do ông nội ông B là ông Trần Văn M1 khai phá sử dụng từ
rất lâu. Trong tờ kê khai đăng ký ban đầu thể hiện phần đất trên do ông nội ông B
là ông Trần Văn M1 kê khai đăng ký. Sau khi giải phóng đến năm 1978, có chủ
trương của chính quyền cách mạng là phải làm ăn tập đoàn, tập thể, gia đình ông B
đã chấp hành và đưa phần đất vào ruộng tập đoàn sản xuất nông nghiệp để làm ăn
tập đoàn, tập thể. Đến năm 1990 việc làm ăn tập đoàn sản xuất nông nghiệp làm ăn
không hiệu quả và tập đoàn tan rã, ruộng ai người nấy tự canh tác và toàn bộ phần
đất của gia đình ông B đưa vào tập toàn trước đây được trả về lại cho gia đình ông B
và gia đình trực tiếp sử dụng phần đất này cho đến ngày hôm nay. Bây giờ ông B là
người trực tiếp sử dụng canh tác phần đất này.
Phần đất hiện nay ông B sử dụng đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai, đó là đang sử dụng ổn định và có
một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai “có tên trong sổ đăng ký
ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993” và Điều 101 Luật Đất đai “sử dụng
ổn định trước ngày 01/7/2004 và không vị phạm pháp luật về đất đai, được UBND
3
cấp xã xác định đất không tranh chấp, phù hợp quy hoạch… thì được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ theo quy định tại Điều 71 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 8 Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính
thì khi ông B nộp đơn, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
các phần đất như trên thì Ủy ban nhân dân xã V không tiến hành xác nhận các nội
dung vào đơn, không giải quyết hồ sơ là không thực hiện công việc mà pháp luật
quy định phải có trách nhiệm thực hiện. Đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh
hưởng quyền lợi của ông B.
Trong văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân xã V lấy lý do không xác nhận
vào đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất cho ông B là:
Thứ nhất: “Theo quyết định số 393/QĐ-UB ngày 03/12/1992 của UBND
huyện B thì không giao trả lại cho các thành viên thuộc hộ gia tộc ông Trần Văn M
05ha ruộng đất nhà nước đã xóa tô và chia cấp cho 13 hộ nông dân được sử dụng
và xây dựng các công trình công cộng, tiếp tục công nhận quyền sử dụng ruộng
đất cho 13 hộ dân”.
Thứ hai:“Căn cứ theo kế hoạch số 617/HK-UB ngày 12/5/2003, công văn số
3200/UBND –TM ngày 23/5/2008 về việc phê duyệt phương án xử lý tổng thể
nhà đất của UBND huyện B theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng
chính phủ và theo tờ khai hiện trạng sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và
đề xuất phương án xử lý của UBND xã ngày 01/4/2011, đồng thời tại biểu 2A phụ
lục 07 danh mục nhà, đất tiếp tục rà soát pháp lý để đề xuất phương án xử lý (kê
khai bổ sung đợt 2) thì vị trí khu đất là đất do nhà nước quản lý”.
Nhận thấy, các lý do Ủy ban nhân dân xã V nêu ra ở trên để từ chối việc xác
nhận vào đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất mà ông B nộp là không đúng quy định của pháp
luật và không có sơ sở pháp lý.
Theo quy định của pháp luật về trình tự thủ tục khi giải quyết hồ sơ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân xã V phải xác nhận về nguồn
gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất… vào đơn trước, tiếp theo đó thì Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện B mới kiểm duyệt bản vẽ kiểm tra nội nghiệp và
giải quyết thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng Ủy ban nhân dân
xã V ban hành công văn từ chối không xác nhận nguồn gốc phần đất trong đơn
đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất mà ông B nộp. Việc này dẫn đến ông B không thể tiếp tục thực
hiện các bước tiếp theo trong việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
phần đất của ông B đang quản lý, sử dụng hiện nay. Do đó, ông B nộp đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
− Tuyên hành vi không xác nhận nội dung về nguồn gốc sử dụng đất vào
4
đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất của UBND xã V đối với phần đất có diện tích là 3.999,2m
2
thuộc một phần thửa số 11, 16, 17, 19, 20, 23, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu
02/CT-UB) tương ứng với thửa số 3, 13, 14, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu
bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; phần đất có
diện tích là 3.293,5m
2
thuộc một phần thửa số 39, 40; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu
02/CT-UB) tương ứng với thửa số 29; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu bản đồ địa
chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; phần đất có diện tích là
6.849,6m
2
thuộc thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng
với thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V,
huyện V, Thành phố Hồ Chí Minh là trái pháp luật và buộc UBND xã V chấm dứt
hành vi trái pháp luật này, phải xác nhận nguồn gốc sử dụng đất vào đơn đăng ký,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất đối với các phần đất trên cho cho ông B theo đúng quy định.
− Tuyên hành vi không xác nhận các nội dung (gồm nội dung kê khai so với
hiện trạng, thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký, thời điểm tạo lập tài sản
gắn liền với đất, tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất, sự phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng) vào đơn đăng ký, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của
UBND xã V đối với các phần đất nêu trên là trái pháp luật và buộc UBND xã V
chấm dứt hành vi trái pháp luật này, phải xác nhận các nội dung vào đơn đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
đối với các phần đất trên cho ông B theo đúng quy định.
− Tuyên hành vi yêu cầu ông B cung cấp bản vẽ các phần đất nêu trên được
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B kiểm tra nội nghiệp của UBND xã
V là trái pháp luật và buộc UBND xã V chấm dứt hành vi trái pháp luật này.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Phạm Bùi
Diễm S xác định do nhầm lẫn khi soạn văn bản nên xác định lại các yêu cầu khởi
kiện của người khởi kiện như sau:
Nhập từ yêu cầu số 1 và số 2 vào là một yêu cầu, cụ thể các yêu cầu như sau:
− Tuyên hành vi không xác nhận các nội dung gồm: nội dung kê khai so với
hiện trạng, nguồn gốc sử dụng đất, thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký,
thời điểm tạo lập tài sản gắn liền với đất, tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn
liền với đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vào đơn
đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất của UBND xã V đối với phần đất có diện tích là 3.999,2m
2
thuộc
một phần thửa số 11, 16, 17, 19, 20, 23, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu
02/CT-UB) tương ứng với thửa số 3, 13, 14, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu
bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; phần đất có
diện tích là 3.293,5m
2
thuộc một phần thửa số 39, 40; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu
02/CT-UB) tương ứng với thửa số 29; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu bản đồ địa chính)
tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; phần đất có diện tích là
6.849,6m
2
thuộc thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng
5
với thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V,
huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là trái pháp luật, buộc UBND xã V chấm dứt
hành vi trái pháp luật này, phải xác nhận các nội dung nêu trên vào đơn đăng ký,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với
đất đối với các phần đất nêu trên cho ông Bắc theo đúng quy định.
− Tuyên hành vi của Ủy ban nhân dân xã V yêu cầu ông B cung cấp bản vẽ
phần đất nêu trên phải được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B kiểm
tra nội nghiệp là trái pháp luật và buộc Ủy ban nhân dân xã V chấm dứt hành vi trái
pháp luật này.
Tại bản tự khai ngày 02/7/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án
người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Lại Hữu H1 trình bày:
Phần diện tích đất 14.142,3m
2
trong yêu cầu của ông Trần Văn B đã được
Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 393/QĐ-UBND ngày
03/12/1992 về việc giải quyết tranh chấp ruộng đất tại xã V giữa các ông bà Trần
Quốc T2, Trần Văn Q, Trần Văn L1, Phạm Thị T3 với 13 hộ nông dân. Theo đó,
UBND huyện B quyết định “không giao trả lại cho các ông bà Trần Quốc T2, Trần
Văn Q, Trần Văn L1, Phạm Thị T3 và các thành viên thuộc gia tộc ông Trần Văn
M 5ha ruộng đất nhà nước đã xóa tô và chia cấp cho 13 hộ nông dân đang sử dụng và
xây dựng các công trình công cộng”, “tiếp tục công nhận quyền sử dụng ruộng đất
cho 13 hộ nông dân có tên sau: Lê Văn M2 – 5.000m
2
, Phạm Văn N1 - 5.000m
2
,
Phạm Thị L2 – 5.000m
2
, Huỳnh Văn T4 – 6.000m
2
, Võ Văn T5 – 5.000m
2
, Trần
Văn H2 – 2.000m
2
, Lại Thị L3 – 1.100m
2
, Huỳnh Thị S1 – 1.700m
2
, Lê Thị Ngọc
E – 2.500m
2
, Trần Thị R – 1.500m
2
, Trần Văn C – 2.000m
2
, Trần Văn L1 –
1.000m
2
, Trần Văn V1 – 1.500m
2
.
Theo biên bản số 122/BB-THQĐ ngày 10/11/2003 của Đội thi hành quyết định
của UBND huyện B thì 13 hộ dân đồng ý thực hiện quyết định số 393/QĐ-UB ngày
03/12/1992 của Ủy ban nhân dân huyện B, các con ông Trần Văn M1 không đồng ý
thực hiện quyết định. Năm 2005, Đội quản lý trật tự đô thị huyện đã thực hiện
quyết định theo biên bản ngày 03/11/2005, tuy các con ông Trần Văn M1 không
đồng ý thực hiện quyết định số 393/QĐ-UBD ngày 03/12/1992 của Ủy ban nhân
dân huyện B nhưng tổ công tác vẫn tiến hành đến hiện trạng đo đạc cắm mốc giao
đất và thu hồi phần đất trên giao UBND xã V tạm quản lý (39.263m
2
).
Căn cứ khoản 5 Điều 26 của Luật Đất đai năm 2013, quy định về Bảo đảm
của Nhà nước đối với người sử dụng đất
“5. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định
của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai
của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Căn cứ khoản 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, quy định về cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
6
cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền
sử dụng đất.
“3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của
Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận
kết quả hòa giải thanh, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trường hợp
chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật”
Hiện nay, Quyết định số 393/QĐ-UBD ngày 03/12/1992 của Ủy ban nhân dân
huyện B chưa có văn bản nào điều chỉnh, thay thế hoặc hủy bỏ, đồng thời ông Trần
Văn B không nằm trong 13 trường hợp được chia cấp đất theo nội dung Quyết định
393/QĐ-UB.
Căn cứ những cơ sở nêu trên, Ủy ban nhân dân xã V chưa có cơ sở xem xét
xác nhận Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất để trình các cơ quan chức năng xem xét theo thẩm
quyền.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện ông Nguyễn Sơn
L trình bày:
Trong văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân xã V lấy lý do để không xác nhận
vào đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất cho ông Bắc là:
Thứ nhất: “Theo quyết định số 393/QĐ-UB ngày 03/12/1992 của UBND
huyện B thì không giao trả lại cho các thành viên thuộc hộ gia tộc ông Trần Văn
M1 05ha ruộng đất nhà nước đã xóa tô và chia cấp cho 13 hộ nông dân được sử
dụng và xây dựng các công trình công cộng, tiếp tục công nhận quyền sử dụng
ruộng đất cho 13 hộ dân”. Lý do như trên của UBND xã V là không đúng vì: phần
đất ông B sử dụng và xin cấp giấy chứng nhận không liên quan gì đến phần đất của
13 hộ dân theo như trong Quyết định số 393, toàn bộ phần đất này từ trước tới nay
chỉ có duy nhất gia đình ông B canh tác sử dụng, không có bất kỳ hộ dân nào có
canh tác sử dụng trên phần đất của ông B. Phần đất của 13 hộ dân thể hiện trong
Quyết định 393 theo như UBND xã V nói nằm ở đâu, vị trí nào ông B không hề biết,
không liên quan đến phần đất ông B đang sử dụng và xin cấp giấy chứng nhận.
Thứ hai: “Căn cứ theo kế hoạch số 617/HK-UB ngày 12/5/2003, công văn số
3200/UBND –TM ngày 23/5/2008 về việc phê duyệt phương án xử lý tổng thể
nhà đất của UBND huyện B theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng
chính phủ và theo tờ khai hiện trạng sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và
đề xuất phương án xử lý của UBND xã ngày 01/4/2011, đồng thời tại biểu 2A phụ
lục 07 danh mục nhà, đất tiếp tục rà soát pháp lý để đề xuất phương án xử lý (kê
khai bổ sung đợt 2) thì vị trí khu đất là đất do nhà nước quản lý”. Lý do như trên
của UBND xã V cũng là không đúng vì nếu Ủy ban cho rằng phần đất do nhà nước
quản lý tại sao gia đình ông B sử dụng qua nhiều năm nhưng nhà nước không thu
hồi, không yêu cầu gia đình ông B giao trả lại cho nhà nước, không lập biên bản vi

7
phạm, xử phạt gia đình ông B sử dụng đất bất hợp pháp này.
Phần đất hiện nay ông B sử dụng đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, quy định tại Điều 100 Luật
Đất đai là “có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính trước ngày 15/10/1993”
và Điều 101 Luật Đất đai đó là “sử dụng ổn định trước ngày 01/7/2004 và không
vi phạm pháp luật về đất đai, được UBND cấp xã xác định đất không tranh chấp,
phù hợp quy hoạch… thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Đất đai:
” 1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định để làm thủ tục đăng ký.
2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền
với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và
thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với
nội dung kê khai đăng ký, trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của
Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm
sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch…”
Căn cứ Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và
Môi trường: Quy định về hồ sơ địa chính nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất lần đầu:
“1. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu gồm có:
a) Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;
Theo mẫu đơn đăng ký số 04/ĐK thì có phần xác nhận của UBND xã V là:
1. Nội dung kê khai so với hiện trạng
2. Nguồn gốc sử dụng đất
3. Thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký
4. Thời điểm tạo lập tài sản gắn liền với đất
5. Tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất
6. Sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng
7. Nội dung khác
Căn cứ theo quy định pháp luật như trên thì khi ông Bắc nộp hồ sơ xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các phần đất như trên thì UBND xã V
không tiến hành xác nhận các nội dung vào đơn, không giải quyết hồ sơ là không
thực hiện công việc mà pháp luật quy định phải có trách nhiệm thực hiện. Đây là

8
hành vi trái pháp luật của Ủy ban nhân dân xã V làm ảnh hưởng quyền lợi của ông
B.
Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã V yêu cầu ông B cung cấp bản vẽ phần đất
ông Bắc xin xác nhận phải được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B
kiểm tra nội nghiệp là không phù hợp với các quy định của pháp luật quy định tại
khoản 1 Điều 8 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT và Thông tư số 33/2017/TT-
BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Từ những cơ sở pháp lý trên, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của người khởi kiện ông Trần Văn B, buộc Ủy ban nhân dân xã V phải
chấm dứt các hành vi hành chính sai trái trên và thực hiện việc giải quyết hồ sơ
đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
gắn liền với đất của ông Trần Văn B theo đúng quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện ông Đặng Tấn T1
trình bày:
Ông Trung thống nhất với lời khai của ông Lại Hữu H1 là người đại diện
theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã V đã giao nộp cho Tòa án trong quá trình
chuẩn bị xét xử.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
− Về tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án và Thư ký Tòa án đã
thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Hội đồng xét xử, Thư ký
tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng hành chính
trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định
của pháp luật.
− Về nội dung: Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 Điều 70 của Nghị định
số 43/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đất đai. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của ông Trần Văn B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về đối tượng khởi kiện, quyền khởi kiện: Ông Trần Văn B khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ủy ban nhân dân xã V chấm dứt các hành vi hành
9
chính liên quan đến việc không xác nhận, hoàn trả hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Căn cứ khoản 7 Điều 22 của Luật Đất đai năm 2013 quy định trách nhiệm
của nhà nước đối với đất đai về nội dung quản lý nhà nước về đất đai như sau:
“Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Như vậy, đây là loại việc
khiếu kiện hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai thuộc
trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ảnh hưởng đến quyền, lợi ích
hợp pháp liên quan trực tiếp đến ông B trong quá trình quản lý đất đai của chính
quyền địa phương theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30 và
khoản 1, Điều 115 của Luật tố tụng hành chính.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Hành vi hành chính bị khiếu kiện là
hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước cấp xã trên cùng phạm vi
địa giới hành chính với Tòa án nên căn cứ vào khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng
hành chính vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.3] Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa:
Ông Lại Hữu H1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V là người đại diện
theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A có văn bản yêu cầu
Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 158 của Luật tố tụng
hành chính Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hiệp.
[1.4] Về sự vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
bị kiện:
Ngày 18/9/2020, Tòa án nhận được công văn số 4191/UBND ngày 15/9/2020
của Ủy ban nhân dân xã V yêu cầu ông Đặng Tấn T1 làm người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp cho UBND xã V; căn cứ Điều 61 của Luật tố tụng hành chính Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu của người bị kiện. Ông Đặng Tấn T1 có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 157 của Luật tố tụng hành chính Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt ông T1.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện:
Ngày 16/8/2019, Uỷ ban nhân dân xã V ban hành công văn số 3257/UBND
gửi cho ông Trần Văn B phúc đáp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất. Ngày 16/01/2020, ông Trần Văn B
khởi kiện tại Tòa án. Như vậy, ông Trần Văn Bắc nộp đơn khởi kiện trong thời hạn 01
năm kể từ ngày biết được hành vi hành chính. Do đó, thời hiệu khởi kiện vẫn còn
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu của người khởi kiện:
[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện
bà Phạm Bùi Diễm S xác định do không hiểu hết bản chất vụ việc khi soạn thảo văn
bản nên người khởi kiện đã tách các yêu cầu khởi kiện của ông B ra làm 03 yêu

10
cầu, nay bà xác định nhập lại các yêu cầu khởi kiện về việc tuyên hành vi không
xác nhận các nội dung gồm: nội dung kê khai so với hiện trạng, nguồn gốc sử dụng
đất, thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký, thời điểm tạo lập tài sản gắn liền
với đất, tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất, sự phù hợp với quy
hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng vào đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất vào thành một yêu cầu
chung, vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện còn lại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là
việc xác định lại yêu cầu khởi kiện và nằm trong phạm vi khởi kiện ban đầu phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 173 của Luật tố tụng hành chính nên chấp nhận.
[2.2] Xét tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện hành vi
hành chính của Ủy ban nhân dân xã V khi hoàn trả hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với ông
Trần Văn B, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 7852019LVLA000103/TNHS
lập ngày 10/7/2019 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B xác định vào ngày 10/7/2019,
ông Trần Văn B có nộp cho Ủy ban nhân dân xã V bộ hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất gồm có:
− Đơn đăng ký cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích là 3.999,2m
2
thuộc một phần
thửa số 11, 16, 17, 19, 20, 23, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu 02/CT-UB)
tương ứng với thửa số 3, 13, 14, 24, 25; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu bản đồ địa chính)
tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất có diện tích là
3.293,5m
2
thuộc một phần thửa số 39, 40; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu 02/CT-UB)
tương ứng với thửa số 29; tờ bản đồ số 01 (Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc tại
xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần đất có diện tích là 6.849,6m
2
thuộc
thửa số 01; tờ bản đồ số 02 (Theo tài liệu 02/CT-UB) tương ứng với thửa số 01; tờ
bản đồ số 02 (Theo tài liệu bản đồ địa chính) tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố
Hồ Chí Minh;
− Bản sao bản vẽ hiện trạng vị trí số hợp đồng 079Đ/VLA-/CTY.ĐL
04/2018 do Công ty Cổ phần Dịch vụ Thương mại Xây dựng Thiết kế Đo đạc D
lập ngày 20/4/2018.
Căn cứ khoản 1 Điều 8 của Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày
19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ nộp đăng ký cấp
giấy chứng nhận như sau:
“1. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu gồm có:
a) Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;
b) Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và
Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính
11
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP) đối với trường hợp đăng ký về quyền sử dụng đất;
c) Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn
liền với đất.
Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì
phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở
hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công
trình đã xây dựng);
d) Báo cáo kết quả rà soát hiện trạng sử dụng đất đối với trường hợp tổ
chức trong nước, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất từ trước ngày 01 tháng 7 năm
2004 theo Mẫu số 08/ĐK;
đ) Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn,
giảm nghĩa vụ tài chính về đất đai, tài sản gắn liền với đất (nếu có);…”
Như vậy, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã khi tiếp nhận hồ sơ thì xác định
người đang xin đăng ký theo quy định của Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 hay
thuộc trường hợp người dân nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định tại
Điều 101 Luật đất đai năm 2013.
Tuy nhiên, đến ngày 16/8/2019, Ủy ban nhân dân xã V ban hành công văn số
3257/UBND gửi cho ông Trần Văn B phúc đáp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liên với đất với nội dung trả lời như
sau:
“Vị trí khu đất đo đạc xin cấp giấy chứng nhận tại bản vẽ số
081/ĐL/CTY.ĐL 04/2018, 088/ĐL/CTY.ĐL 04/2018, 079/ĐL/CTY.ĐL 04/2018
ngày 18/04/2018 của Công ty cổ phần DV-TM-XD-TK-ĐĐ D lập chưa được Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B kiểm tra nội nghiệp.
Do đó, UBND Xã chưa có cơ sở xem xét đề xuất hồ sơ cấp Giấy chứng nhận
của ông/bà. Ủy ban nhân dân xã V đề nghị ông/bà liên hệ Chi nhánh văn phòng
Đăng ký Đất đai kiểm tra nội nghiệp bản vẽ trước khi UBND xã xem xét giải quyết
hồ sơ theo quy định pháp luật kính chuyển đến ông Trần Văn B được biết, đề nghị
ông (bà) liên hệ bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ Ủy ban nhan dân xã V để nhận
lại hồ sơ”.
Ngày 25/12/2019, Ủy ban nhân dân xã V ban hành công văn số 5367/UBND
gửi cho ông Trần Văn B phúc đáp đơn đề nghị xác nhận nguồn gốc sử dụng đất với
nội dung:
“...Căn cứ theo kế hoạch số 617/HK-UB ngày 12/5/2003, công văn số
3200/UBND –TM ngày 23/5/2008 về phê duyệt phương án xử lý tổng thể nhà đất
của UBND huyện B theo quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ
và theo tờ khai hiện trạng sử dụng nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước và đề xuất
phương án xử lý của UBND xã ngày 01/4/2011, đồng thời tại biểu 2A phụ lục 07 danh
12
mục nhà, đất tiếp tục rà soát pháp lý để đề xuất phương án xử lý (kê khai bổ sung
đợt 2) thì vị trí khu đất là đất do nhà nước quản lý.
Do đó, Ủy ban nhân dân xã không thể xác nhận nguồn gốc theo đơn đề nghị
của ông (bà) được.
Nay Ủy ban nhân dân xã phúc đáp cho ông (bà) được biết, đề nghị liên hệ
Tổ tiếp nhận và trả kết quả để nhận lại hồ sơ”.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc ông Trần Văn B liên hệ Ủy ban nhân dân xã
V nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là để thực hiện quyền
của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 70 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014
của Chính phủ có quy định:
“2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản
gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra
hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với
nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của
Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm
sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.
Trường hợp đăng ký tài sản gắn liền với đất thì xác nhận hiện trạng tài sản
gắn liền với đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ
quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định này thì xác nhận tình trạng
tranh chấp quyền sở hữu tài sản; đối với nhà ở, công trình xây dựng thì xác nhận
thời điểm tạo lập tài sản, thuộc hay không thuộc trường hợp phải cấp phép xây dựng,
sự phù hợp với quy hoạch được duyệt; xác nhận sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng
nếu chưa có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng
hoặc hoạt động đo đạc bản đồ;
b) Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc
tại điểm a khoản này, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho Văn phòng đăng ký
đất đai thực hiện trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính
thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có)”.
Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và
thông báo trường hợp bản đồ của ông B cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện
trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất mà ông B
đã nộp là của Ủy ban nhân dân xã V.
[2.3] Hội đồng xét xử xét lý do Ủy ban nhân dân xã V hoàn trả hồ sơ đăng
ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Trần Văn B.

13
Theo quy định tại khoản 11 Điều 7 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT
ngày 29/9/2017 của Bộ tài nguyên và môi trường có quy định các trường hợp từ chối
hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
“Điều 11a. Từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Việc từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện khi có một
trong các căn cứ sau:
a) Không thuộc thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ;
b) Hồ sơ không có đủ thành phần để thực hiện thủ tục theo quy định;
c) Nội dung kê khai của hồ sơ không đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất và hợp lệ
theo quy định của pháp luật;
d) Thông tin trong hồ sơ không phù hợp với thông tin được lưu giữ tại cơ quan
đăng ký hoặc có giấy tờ giả mạo;
đ) Khi nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng
Thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản
là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất, chủ sở hữu
tài sản gắn liền với đất là đối tượng phải thi hành án theo quy định của pháp luật
thi hành án dân sự hoặc văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án; khi
nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về
việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;
e) Không đủ điều kiện thực hiện quyền theo quy định của pháp luật về đất đai
và pháp luật khác có liên quan.
2. Trường hợp có căn cứ từ chối hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều này
thì trong thời gian không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị
đăng ký, cấp Giấy chứng nhận, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải có văn bản
trong đó nêu rõ lý do từ chối và hướng dẫn người nộp hồ sơ thực hiện theo đúng
quy định của pháp luật, gửi văn bản kèm theo hồ sơ cho người nộp hoặc chuyển
văn bản và hồ sơ đến bộ phận một cửa, Ủy ban nhân dân cấp xã để trả lại cho
người nộp.”
Như vậy, căn cứ theo các quy định nêu trên việc Ủy ban nhân dân xã V yêu cầu
ông Trần Văn B phải nộp bổ sung bản vẽ có kiểm tra nội nghiệp mới có cơ sở giải
quyết hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù
hợp với các quy định của pháp luật, đây không phải là các tài liệu, giấy tờ quy định
bắt buộc ông B phải có khi thực hiện thủ tục xác nhận vào đơn đăng ký, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và lý do hoàn trả hồ sơ của Ủy ban nhân dân
xã V cũng không nằm trong các trường hợp được quyền từ chối hồ sơ đề nghị đăng
ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[2.4] Do đó, hành vi không xác nhận, hoàn trả lại hồ sơ đăng ký cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
của Ủy ban nhân dân xã V đối với ông Trần Văn B là trái pháp luật.
14
[3] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu
khởi kiện của ông Trần Văn B và lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người khởi kiện đối với Ủy ban nhân dân xã V là có cơ sở nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Trần Văn B
được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 348 của Luật tố tụng
hành chính khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì người bị kiện Ủy ban nhân dân xã V, huyện B
phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm, người
khởi kiện ông Trần Văn B được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 31; khoản 1 Điều 115;
khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; Điều 164; Điều 193;
Điều 194; Điều 206 và khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính;
Điều 99, Điều 100, Điều 101 và Điều 166 của Luật đất đai năm 2013;
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định quy định
chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;
Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính;
Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định chi tiết nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ
sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai;
Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Trần Văn B
đối với người bị kiện Ủy ban nhân dân xã V về khiếu kiện hành vi hành chính
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai thuộc trường hợp hoàn trả hồ sơ đăng
ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.1. Tuyên bố hành vi từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do thiếu bản vẽ
có kiểm tra nội nghiệp của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí
Minh đối với ông Trần Văn B là trái pháp luật.
15
1.2. Buộc Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện việc giải quyết hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Trần Văn B theo đúng quy
định pháp luật.
2. Về án phí:
2.1. Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh phải chịu án
phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
2.2. Hoàn trả lại cho ông Trần Văn B số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0078506 ngày
17/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Người khởi kiện có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án. Người bị kiện có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án
được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
− Đương sự;
− VKSND H. Bình Chánh;
− Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Tuấn Khương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm