Bản án số 25/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 của TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2017/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2017/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 25/2017/DS-ST ngày 20/09/2017 của TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Hồng Ngự (TAND tỉnh Đồng Tháp) |
| Số hiệu: | 25/2017/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Văn L trả cho Nguyễn B tiền mua cá còn nợ. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN HỒNG NGỰ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 25/2017/DS-ST
Ngày: 20-9-2017.
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Văn Bình.
2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đực – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2017/TLST-DS ngày 27 tháng 7 năm
2017, về tranh chấp hợp đồng mua bán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
60/2017/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn B, sinh năm 1984; Địa chỉ cư trú: ấp Phú B, xã
B, huyện H, tỉnh ĐT. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L (tên khác: T), sinh năm 1961; Địa chỉ cư trú:
ấp 1, xã T, huyện H, tỉnh ĐT. Có mặt.
3. Người làm chứng: Anh Nguyễn T, sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: ấp 1, xã
T, huyện H, tỉnh ĐT. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25/7/2017, trong quá trình tiến hành tố tụng và tại
phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn anh Nguyễn B, trình bày:
Vào ngày 18/3/2017 âm lịch anh có bán cá lóc giống cho ông Nguyễn Văn
T, tên trong giấy chứng minh nhân dân là ông Nguyễn Văn L, với số lượng 60.000
con, cá 06 ly, với giá 180đ/con, thành tiền 10.800.000đ. Việc mua bán không có
làm hợp đồng, thỏa thuận khi anh giao cá thì ông L trả tiền nhưng khi anh giao cá
2
thì ông L không trả tiền, hứa tuần sau trả, anh cũng đồng ý cho ông L nợ lại tuần
sau.
Đến ngày 28/3/2017 anh đến gặp ông L đòi tiền thì ông L không chịu trả tiền
và nại ra lý do cá không tốt nên nuôi không đạt. Nhưng lúc giao cá thì ông L khen
cá tốt. Anh không có thỏa thuận nếu cá nuôi không đạt tỷ lệ thì không trả tiền, anh
có hứa lên bắt cá lại. Sau đó anh suy nghĩ lại, không đồng ý bắt cá lại. Vì ông L đã
thả cá lâu nếu gạn cá lên sẽ không đầy đủ, không biết ông L cho cá ăn bao nhiêu
thức ăn nên anh có nói với ông L đến khi ra cá (bán cá thịt) thì tính tiếp. Nghĩa là,
khi bán cá xong ông L phải trả tiền nhưng ông L đã bán cá xong vẫn không chịu trả
tiền cho anh. Anh không đồng ý cho ông L trả 5.000.000đ. Nay anh yêu cầu ông
Nguyễn Văn L (Nguyễn Văn T) trả tiền mua cá lóc giống còn nợ là 10.800.000đ,
không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn ông
Nguyễn Văn L, trình bày:
Không nhớ ngày, khoảng tháng 12 năm 2016 ông có mua cá lóc giống của
anh Nguyễn B cụ thể. Lần thứ nhất ông mua 11 muôn, trong đó mua dùm cho anh
Nguyễn T 05 muôn (50.000 con). Sau khi anh B giao cá thì ông và anh T đã trả
tiền đầy đủ. Lần thứ hai: Không nhớ ngày tháng năm 2017, hơn 20 ngày sau, kể từ
ngày thả cá giống lần đầu thì ông điện cho anh B nói, không mua cá lóc giống của
anh B nữa. Vì cá không tốt thì anh B năn nỉ ông mua cá tiếp tục nên ông cũng đồng
ý mua thêm 08 muôn nữa, mỗi muôn 1.600.000đ, thành tiền 10.800.000đ, việc
mua bán không có làm hợp đồng, thỏa thuận trả tiền ngay sau khi giao cá. Nhưng
do ông mua cá lần đầu, cá xấu nên lần thứ hai anh B nói khi nào bán cá thì trả tiền,
việc anh B nói khi nào bán cá trả tiền chỉ nói miệng nhưng hiện cá ông đã bán hết
nhưng ông chưa trả tiền cho anh B.
Khi anh B giao cá cho ông thì ông có kiểm tra và thả xuống hầm. Lúc thả cá
xuống hầm, ông không biết cá tốt hay xấu, nuôi được 20 ngày thì ông mới biết cá
giống anh B bán cho ông không tốt. Nhưng hơn 01 tháng kể từ ngày thả cá thì ông
có điện thoại nói với anh B là cá giống xấu thì anh B lên hầm của ông xem. Ông có
nói với anh B tổng cộng ông mua cá của anh B trước sau 14 muôn, 06 muôn đầu
đã trả tiền đầy đủ, chi phí ông bỏ ra hơn 30.000.000đ, thì ông lấy 15.000.000đ, còn
cá trong hai hầm là 14 muôn (hầm 06 muôn, hầm 08 muôn) thì anh B đem về và
anh B trả lại cho ông 15.000.000đ. Nghĩa là, ông trả cá giống lại cho anh B và anh
B trả lại cho ông 15.000.000đ (phân nữa chi phí mà ông đã bỏ ra). Sau đó anh B
đồng ý và hẹn 02 ngày sau lên bắt cá lại. Sau 02 ngày anh B không lên bắt cá lại
nên ông điện cho anh B thì anh B nói khi nào bán cá, xem tỷ lệ như thế nào thì tính
tiếp. Tính tiếp có nghĩa là nếu ông bán cá đạt tỷ lệ thì ông trả tiền cho anh B, còn
không đạt tỷ lệ thì anh B phải bớt tiền cho ông.
Khi mua cá thì ông không có thỏa thuận với anh B nếu cá nuôi không đạt tỷ
lệ thì không trả tiền, anh B có đòi tiền mua cá còn nợ thì ông có nói với anh B là cá
xấu, xin anh B cho, vì hai hầm trước ông trả tiền đầy đủ, bao gồm hầm của anh T,
ông không có năn nỉ anh B khi nào bán cá thì trả tiền.
3
Việc thả cá lóc giống xấu dẫn đến nuôi không đạt tỷ lệ, bán cá lỗ ông không
có gì chứng minh. 08 muôn cá mà ông đã mua của anh B thì ông nuôi riêng, không
biết thức ăn dùng bao nhiêu bao. Vì lúc đó ông còn nuôi hầm 06 muôn. Tổng cộng
hai hầm 14 muôn thì ông cho ăn là 1811 bao thức ăn, ông nuôi cá được 165-170
ngày thì bán với giá 28.000đ/kg, được 30 tấn, với số tiền 840.000.000đ, các chi phí
khác như tiền điện, tiền thuốc ông không tính, chỉ biết hai hầm lỗ 140.000.000đ.
Nay ông thừa nhận còn nợ anh Nguyễn B tiền mua cá lóc giống
10.800.000đ, nếu anh B đồng ý thì ông trả cho anh B 5.000.000đ, phần còn lại ông
xin anh B cho. Nếu anh B không đồng ý nhận 5.000.000đ thì ông không đồng ý trả
10.800.000đ. Vì cá lóc giống anh B bán cho ông không tốt, nuôi không đạt tỷ lệ
dẫn đến bán cá lỗ. Việc nuôi cá không đạt tỷ lệ là do con giống không tốt, thức ăn,
cá bệnh chết nên hao hụt.
Người làm chứng anh Nguyễn T, trình bày:
Anh không có quan hệ bà con hay mẫu thuẫn gì với ông L, anh B. Không
nhớ ngày tháng, chỉ nhớ đầu năm 2017 anh có mua cá lóc giống của anh B số
lượng 50.000 con (05 muôn), không nhớ giá bao nhiêu. Việc mua bán chỉ nói
miệng, thỏa thuận khi giao cá thì giao tiền. Khi anh B giao cá thì anh đã trả tiền
đầy đủ. Cá giống anh mua của anh B là do ông L đặt dùm. Anh B giao cá cho ông
L hai lần, tổng cộng 14 muôn, không nhớ giá bao nhiêu. Việc mua bán giữa anh B,
ông L thỏa thuận như thế nào thì anh không biết.
Nếu lúc giao cá không đạt nghĩa là cá giống không tốt thì không nhận cá và
không trả tiền. Việc mua bán không thỏa thuận nếu cá giống nuôi không đạt tỷ lệ,
bán lỗ thì không trả tiền hoặc đòi tiền lại. Cá nuôi không đạt tỷ lệ có nhiều yếu tố
như thức ăn, nguồn nước, giá cả. Khi mua cá giống của anh B anh nuôi được 07
đến 10 ngày thì anh thấy cá không đạt (chậm lớn), anh điện kêu anh B đến xem,
anh B nói không sao nên anh tiếp tục nuôi. Sau đó anh nuôi cá chậm lớn, dẫn đến
tỷ lệ cá nuôi không đạt. Khi anh B giao cá giống thì anh phân biệt được cá tốt, xấu,
còn muốn biết chính xác là khoảng 7 đến 10 ngày sau. Mua cá giống của anh B
nuôi không được tốt nên về sau anh không mua nữa. Nếu mua cá giống nuôi không
tốt thì sẽ bỏ, mua cá giống khác thả tiếp, còn tiếp tục nuôi nếu bán cá có giá thì huề
vốn, bán không có giá thì bị lỗ. Anh có nghe ông L còn nợ tiền mua cá giống của
anh B 10.800.000đ. Nếu nuôi cá không đạt tỷ lệ, xin không trả tiền cá giống nếu
người bán không cho hoặc không bớt thì cũng phải trả tiền. Nhưng sau này không
mua bán với nhau nữa.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ
lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ
án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự
thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng chấp
hành tốt nội quy phiên tòa.
4
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn L trả cho anh Nguyễn B số tiền còn nợ
10.800.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn B, yêu cầu ông Nguyễn
Văn L trả tiền mua cá giống còn nợ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa người làm chứng anh Nguyễn T đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ mà vắng mặt, không có lý do. Nhưng anh T có lời khai với Tòa án. Do đó Hội
đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 229 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Anh Nguyễn B và ông Nguyễn Văn L đều thừa nhận có thỏa thuận miệng về
việc mua bán cá lóc giống với nhau là thật được quy định tại Điều 430 của Bộ luật
Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn B giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện đòi ông Nguyễn Văn L trả tiền mua cá lóc giống còn nợ là 10.800.000đ
và không yêu cầu tính lãi. Xét yêu cầu của anh B là có căn cứ để chấp nhận.
Vì ông L thừa nhận còn nợ anh B 10.800.000đ. Ông L không đồng ý trả tiền
cho anh B với lý do cá giống anh B bán cho ông không tốt, cá nuôi chậm lớn,
không đạt tỷ lệ dẫn đến bán cá lỗ là không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Tại khoản 1 Điều 441 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau “Bên bán
chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu
rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác hoặc luật có quy định khác”. Như vậy, khi anh B giao cá giống cho ông L nếu
cá không đảm bảo chất lượng thì ông L có quyền không nhận hoặc không mua.
Mặt khác, anh B, ông L không có thỏa thuận nếu cá giống xấu, nuôi không đạt tỷ
lệ, bán cá lỗ thì ông L không phải trả tiền.
Đồng thời, ông L và người làm chứng anh Nguyễn T đều trình bày việc cá
nuôi không đạt tỷ lệ dẫn đến bán cá lỗ ngoài yếu tố con giống không tốt còn nhiều
yếu tố khác như thức ăn, cá bệnh, nguồn nước, cá bán giá thấp. Như vậy, cá nuôi
không đạt tỷ lệ không phải hoàn toàn do cá giống không tốt. Ngoài ra, ông L cho
rằng anh B hứa khi nào bán cá thì trả tiền nhưng thực tế ông L đã bán cá rồi, vẫn
không chịu trả tiền cho anh B là không hợp lý.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
chấp nhận.
Từ những nhận định trên, đã có căn cứ xác định ông Nguyễn Văn L chưa
thanh toán số tiền mua cá lóc giống 10.800.000đ cho anh Nguyễn B là thật. Tại
5
khoản 1 Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ trả tiền như
sau: “1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền
được quy định trong hợp đồng”. Vì vậy, buộc ông Nguyễn Văn L phải có trách
nhiệm trả cho anh Nguyễn Công B số tiền mua cá lóc giống còn nợ là 10.800.000đ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 144, khoản 1 Điều 147 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải
chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định: Nguyên đơn anh Nguyễn Công B
không phải chịu tiền án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn
ông Nguyễn Văn L chịu 540.000đ trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên
đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 2 Điều 229, Điều 144, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 430, khoản 1 Điều 440, khoản 1 Điều 441 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn B.
Buộc ông Nguyễn Văn L có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn B số tiền mua
cá lóc giống còn nợ là 10.800.000đ (Mười triệu tám trăm nghìn đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1 Nguyên đơn anh Nguyễn B được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp
300.000đ theo biên lai thu số 05647 ngày 27/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Hồng Ngự.
2.2 Bị đơn ông Nguyễn Văn L chịu 540.000đ (Năm trăm bốn mươi
nghìn đồng).
3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành
án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả
tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.
4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
6
tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không
có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày
nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện HN;
- Lưu hồ sơ, lưu trữ.
Nguyễn Thị Thùy Dung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm