Bản án số 24/2022/HNGĐ-ST ngày 20/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về xin ly hôn, nuôi con
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 24/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 24/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 24/2022/HNGĐ-ST ngày 20/09/2022 của TAND TX. Duy Tiên, tỉnh Hà Nam về xin ly hôn, nuôi con |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Duy Tiên (TAND tỉnh Hà Nam) |
| Số hiệu: | 24/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/09/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/9/2022
“V/v xin ly hôn, nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Hoằng và ông Nguyễn Văn Thể.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân
thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà: ông
Phạm Minh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022
về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
19/2022/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số:
07/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Xuân Th, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố Đông
H, phường Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam.
2. Bị đơn: anh Lê Văn Th, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ dân phố Đông H, phường
Duy H, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam.
(Phiên tòa có mặt nguyên đơn là chị Trần Thị Xuân Th; vắng mặt bị đơn là anh
Lê Văn Th lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị
Trần Thị Xuân Th trình bày: Chị và anh Lê Văn Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự
nguyện và được UBND phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đăng ký kết
hôn ngày 01/6/2020.
Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận tại gia đình nhà chồng một
thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong cuộc sống sinh hoạt vợ
chồng có bất đồng quan điểm cách ứng xử và làm ăn kinh tế với nhau nên nảy sinh
mâu thuẫn dẫn đến việc cãi nhau. Từ đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn sống ly
thân một số lần, lần gần nhất từ tháng 5/2022 đến nay. Mặc dù cả hai đã được người
2
thân khuyên bảo, Tòa án hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện.
Đến nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết
cho chị được ly hôn với anh Th.
Tại bản tự khai ngày 13/7/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê
Văn Th trình bày: Anh xác nhận lời khai của chị Th về điều kiện thủ tục kết hôn giữa
anh và chị Th như chị Th đã trình bày. Về mâu thuẫn của vợ chồng, anh cho rằng là
do vấn đề kinh tế, cụ thể là trong thời gian bố đẻ anh bị ốm nặng, anh đề xuất với chị
Th vay tiền chữa trị cho bố nhưng không được chị Th đồng ý, anh tự đi vay thì chị Th
biết và hai vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, khi ngày 06/5/2022 anh bị tai nạn
giao thông thì đến ngày hôm sau chị Th bế con đi thuê trọ chỗ khác và không đóng
viện phí và quan tâm gì đến anh mặc dù thời gian đó vợ chồng chưa có mâu thuẫn.
Anh xác nhận vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 07/5/2022 đến nay. Nay chị Th xin ly
hôn, anh không muốn con chung phải khổ nên anh không đồng ý. Trong trường hợp
chị Th kiên quyết ly hôn anh cũng đồng ý nhưng với điều liện anh được nuôi con
chung.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cả chị Th, anh Th cùng xác
nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Trần Anh Th, sinh ngày 12/12/2020. Khi
ly hôn, quan điểm của chị Th muốn được nuôi con và không yêu cầu anh Th phải cấp
dưỡng. Quan điểm của anh Th cũng xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị
Th phải cấp dưỡng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Th, anh Th cùng cho rằng hiện tại anh chị
đều có công việc và thu nhập đủ điều kiện để nuôi con. Theo đó, chị Th trình bày
hiện nay đang làm công nhân tại công ty SEOUL tại khu công nghiệp 1, phường
Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam với thu nhập bình quân của chị khoảng 10
triệu đồng/tháng, chị đã xuất trình bảng lương cho Tòa án. Phía anh Th trình bày hiện
anh đang làm công nhân tại công ty SEOUL tại khu công nghiệp 1, phường Đồng
Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam với thu nhập bình quân khoảng 10 triệu
đồng/tháng, ngoài ra anh còn có thu nhập thêm từ việc tham gia công tác đoàn, dân
quân tự vệ tại địa phương khoảng 1 triệu đồng/tháng nên đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa: Chị Th giữ nguyên quan điểm của mình.
Theo kết quả xác minh, chính quyền địa phương cho biết: Chị Th và anh Th
kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và được UBND phường Duy Hải tổ chức đăng
ký kết hôn ngày 01/6/2020; về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh chị có
bất đồng về ứng xử và làm kinh tế. Nay chị Th xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết
theo pháp luật; vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Trần Anh Th, sinh ngày
12/12/2020, khi vợ chồng ly thân thời gian đầu cháu ở với chị Th, sau đó lại thấy
cháu ở với anh Th, khi chị Th về thăm con và muốn đón cháu về ở với chị nhưng
3
không được gia đình anh Th đồng ý, chị Th có lên báo cáo với Tổ trưởng dân phố sự
việc trên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28; 35; 39; 147, 227,
228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ; Nghị quyết
326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Xuân Th và
anh Lê Văn Th. Về con chung: giao con chung cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh Th
không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công sức, công nợ: không đặt
ra xem xét; về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và
nghị án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, mặc dù bị đơn là anh Lê Văn Th đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các
Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành giải quyết
vắng mặt anh Thình theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Xuân Th và anh Lê Văn Th kết hôn với
nhau trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân phường Duy Hải, thị xã Duy Tiên,
tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày 01/6/2020.
[3] Về tình cảm vợ chồng: Sau thời gian chung sống quan hệ tình cảm vợ
chồng giữa chị Th và anh Th đã phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận.
Về nguyên nhân mâu thuẫn do chị Th, anh Th mỗi người đưa ra lý do khác nhau.
Song cả hai cùng thừa nhận thời gian vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2022 đến
nay không quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù vợ chồng đã
được gia đình hai bên khuyên bảo và được Tòa án hòa giải nhưng đến nay vẫn không
được cải thiện. Nay chị Th kiên quyết xin ly hôn anh Th không đồng ý. Xét thấy mâu
thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Th đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt đươc. Vì vậy, HĐXX cần căn cứ các Điều 51, 56
Luật HN&GĐ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh Th là phù hợp
thực tế và pháp luật.
[4] Về con chung: Cả chị Th, anh Th xác nhận vợ chồng có một con chung là
Lê Trần Anh Th, sinh ngày 12/12/2020. Hiện tại cháu Th đang ở với anh Th. Xét
nguyện vọng và điều kiện xin nuôi con chung của các đương sự nhận thấy: Hiện nay
cả chị Th, anh Th đang là công nhân tại khu công nghiệp Đồng Văn nên có đủ điều
4
kiện thu nhập nuôi con ngang nhau. Tuy nhiên, sau khi xem xét mọi mặt thấy rằng
hiện tại cháu Th còn nhỏ (chưa đủ 36 tháng tuổi) nên rất cần sự chăm sóc của người
mẹ. Do vậy HĐXX cần căn cứ Điều 81 Luật HN&GĐ giao cháu Lê Trần Anh Th là
con chung của vợ chồng cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh
thực tế hiện nay. Do đó, yêu cầu xin nuôi con của anh Th không được HĐXX chấp
nhận, bởi trong quá trình giải quyết vụ án anh Th không đưa ra được căn cứ chứng
minh chị Th là người không đủ điều kiện nuôi con chung. Về cấp dưỡng nuôi con
chung: Do chị Th không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, công nợ, công sức: Do các đương sự không yêu cầu nên
HĐXX không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Trần Thị Xuân Th
phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
1. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Xuân Th và anh Lê Văn Th.
2. Về con chung: Giao chị Trần Thị Xuân Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Trần
Anh Th, sinh ngày 12/12/2020 kể từ tháng 09 năm 2022 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi,
trưởng thành, tự lập được. Anh Lê Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh
Lê Văn Th được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của
pháp luật. Chị Th và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Th trong
việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Trần Thị Xuân Th
phải chịu 300.000 đồng. Chị Th được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã
nộp theo biên lai số: AA/2021/0000802 ngày 04/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự
thị xã Duy Tiên.
Báo cho chị Trần Thị Xuân Th, có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án; anh Lê Văn Th vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
5
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hà Nam.
- VKSND Duy Tiên.
- Chi cục THADS Duy Tiên.
- UBND Duy Hải;
- Các đương sự.
- Lưu Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
MẠNH XUÂN HẢI

6
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi...... giờ.......phút, ngày 28 tháng 4 năm 2021
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thuận.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn; ông Vũ Quốc Phòng
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 21/2020/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 3
năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” giữa:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phương, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Thôn Lạt
Hà, xã Trác Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.Chỗ ở: Tổ dân phố Sa Lao, phường
Đồng Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Đào Văn Tuyến, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Lạt Hà, xã Trác
Văn, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ:
- Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
1.Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Phương và anh Đào Văn Tuyến
2. Về con chung: Giao chị Lê Thị Phương trực tiếp nuôi dưỡngcháu Đào Quỳnh
Anh, sinh ngày 11/6/2009 và Đào Đức Hải, sinh ngày 08/8/2011cho đến khi các cháu
7
đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh Đào Văn Tuyến không phải cấp dưỡng nuôi
con chung.
Chị Lê Thị Phương, anh Đào Văn Tuyến được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo
dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị Phương và các thành viên trong gia
đình không được cản trở anh Tuyến trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung.
3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Phương phải chịu 300.000đ.Số tiền tạm
ứng án phí 300.000đ chị Phương đã nộp theo biên lai số 0003390 ngày 02/3/2021 tại
Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.
Án xử công khai sơ thẩm;Chị Lê Thị Phương được quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đào Văn Tuyến vắng mặt được quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm