Bản án số 24/2017/HC-ST ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh An Giang về khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 24/2017/HC-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 24/2017/HC-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 24/2017/HC-ST ngày 21/09/2017 của TAND tỉnh An Giang về khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh An Giang |
| Số hiệu: | 24/2017/HC-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Các đồng thừa kế của ông Ngô Ngoc P khởi kiện QĐHC của UBND thành phố Long Xuyên về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông với ông Trần Ngọc T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 24/2017/HC-ST
Ngày: 21/9/2017
V/v “Khiếu kiện quyết định giải quyết
tranh chấp đất đai”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Huy Châu
2. Ông Đỗ Nguyễn Văn Duy Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hằng - Thư ký Toà án
nhân dân tỉnh
An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Hồng Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An
Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 13/2017/TLST-HC ngày 15 tháng
02 năm 2017 về việc “Khiếu kiện quyết định giải quyết tranh chấp đất đai”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2017QĐXX-ST ngày
10 tháng 8 năm 2017.
- Người khởi kiện:
1. Ông Ngô Phi H, sinh năm 1964.
2. Bà Ngô Thái Thiện A, sinh năm 1973;
3. Bà Ngô Kim G, sinh năm 1978;
Cùng cư trú: Số 195/4, tổ 2, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
4. Bà Ngô Phương L, sinh năm 1970.
Cư trú: Số 195/4A, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
Người bảo vệ quyền và lợi ích hơp pháp cho ông Ngô Phi H có ông Trần
Ngọc P – Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh W
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X, tỉnh W
2
Ủy quyền ông Nguyễn Bảo S – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
X (Văn bản ủy quyền ngày 17/8/2017).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1956.
Cư trú: Số 193/1, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
2. Ông Nguyễn Công B.
Cư trú: Số 195/4, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
3. Ông Mai Thanh T, sinh năm 1990;
Cư trú: Số 152/2, đường Thoại Ngọc Hầu, phường L, thành phố X, tỉnh W
4. Ông Trần Hữu Y, sinh năm 1993 ;
5. Ông Trần Hữu H, sinh năm 1995.
Cư trú: Số 195/4A, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
6. Bà Lý Thanh T, sinh năm 1995;
7. Ông Lý Trọng N, sinh năm 1997;
8. Chị Ngô Kim H, sinh năm 2001.
Cư trú: Số 195/4, khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
Ông Ngô Phi H, Trần Ngọc P và Trần Ngọc T có mặt tại phiên tòa.
Đại diện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X vắng mặt. Các ông, bà
Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G, Ngô Phương L, Mai Thanh T, Trần Hữu Y,
Trần Hữu H, Lý Thanh T, Lý Trọng N, Ngô Kim H (Có đơn yêu cầu xét xử
vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự và các tài liệu có trong hồ
sơ vụ án thể hiện:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Ngô Văn D (ông nội của ông H) thuê
của ông Tăng Cẩm Tính.
Năm 1976, ông D kê khai diện tích đất 650m
2
. Trong đó dùng để ở 450m
2
và cho các con 200m
2
đất tọa lạc tại khóm Q, phường L, thành phố X, tỉnh W
Năm 1987, ông D qua đời, ông P (Cha của ông H) tiếp tục sử dụng đất.
Ngày 13/8/1991, ông Lao Văn S (có đất giáp ranh với ông P) chuyển
nhượng cho ông Trần Ngọc T đất ngang 3,8m, dài 09m, diện tích 34,2m
2
, có xác
nhận của Ủy ban nhân dân phường L ngày 25/3/1991 (Bút lục 167). Ông T cất
nhà trên phần đất này.
Trong Mẫu kê khai đăng ký nhà đất ngày 25/11/1991, ông T kê khai đất,
nhà có cùng chiều ngang 3,7 m, dài 9m, diện tích 33,3m
2
(Bút lục 189-190).
3
Tại Biên bản giám định do Đòan Giám định của Ủy ban nhân dân thị xã X
lập ngày 20/8/1993, kết quả ghi nhận nhà ông Trần Ngọc T dài 11,3m ngang
3,8m, cấu trúc nền gạch tàu, khung gỗ, mái lá, vách lá. Diện tích đất sử dụng
ngang 3,8m, dài 11,3m (Bút lục 187).
Tại Biên bản giám định do Đòan Giám định của Ủy ban nhân dân thị xã X
lập ngày 22/9/1993, kết quả ghi nhận đất ông Ngô Ngọc P sử dụng ngang 13m,
dài 30m, diện tích 390m
2
, diện tích nhà 58,5m
2
(Bút lục 203).
Biên lai thu thuế nhà đất năm 1994, 1996, diện tích đất ông P sử dụng
450m
2
Năm 1995, ông T kê khai nộp thuế diện tích đất sử dụng 42.8m
2
(Bút lục
188), Bản kê khai này không thể hiện chiều ngang, chiều dài. Theo ông T trình
bày vào năm 1992, ông T có mua thêm phần đất này của ông S chiều ngang
3,8m, dài 2,3m không làm giấy tờ. Nối dài phần đất mua năm 1991 thành chiều
dài 11.3m, ngang 3.8m.
Ngày 04/8/1996, ông T có Đơn xin cấp quyền sử dụng đất diện tích 42,8m
2
, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường M.
Năm 1998, khi ông T cất nhà lấn qua đất thì ông Ngô Ngọc P tranh chấp
đất với ông Lao Văn S, cho rằng ông S để ông T cất nhà lấn qua đất của ông P
chiều ngang 0,9m, dài 09m, diện tích 8,10m
2
. Tại Biên bản về tranh chấp đất đai
do khóm Q lập ngày 14/8/1998, thể hiện giữa ông S và ông T thỏa thuận ông S
tiếp với ông P đóng thuế hàng năm kể từ năm 1997, còn phần đất 8,10m qua ông
P, nếu sau này có quy hoạch bồi hoàn thì ông P hưởng vì phần đất của ông P.
Biên bản này không có ông T tham gia. Theo ông H trình bày thì tại thời điểm
năm 1998, Nhà nước nghiêm cấm việc chuyển nhượng đất dưới mọi hình thức,
nên việc ông S cho ông T cất nhà trên đất của ông P thì ông S phải chịu trách
nhiệm. Tại phiên tòa ông T trình bày có biết việc tranh chấp này, nhưng không
được mời đến để giải quyết.
Năm 1999-2000, thực hiện giải tỏa đường Kim Đồng, Ủy ban nhân dân
thành phố X đã đền bù cho ông P diện tích đất 117,49m
2
, phần diện tích đất còn
lại ngoài phạm vi giải tỏa là 394,68m
2
theo Quyết định giải quyết khiếu nại số
158/QĐ.UB ngày 27/9/2000 của Ủy ban nhân dân thành phố X.
Năm 2004, giữa ông P và ông T không thỏa thuận được ranh đất để hợp
thức hóa quyền sử dụng đất, nên phát sinh tranh chấp. Thời gian đó, anh em ông
P tranh chấp với nhau nên việc tranh chấp giữa ông P với ông S, ông T chưa
được giải quyết.
Năm 2007, ông P tiếp tục tranh chấp ranh đất với ông T chiều ngang 0,9m
dài 09m.
Bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp giữa ông Ngô Phi H, ông Lao Văn S,
ông Lao Văn Định và ông Trần Ngọc T do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng
đất thành phố X đo vẽ ngày 13/5/2009 thì đất ông T sử dụng có diện tích
37,10m
2
, chiều ngang 4.63m, dài 10,61m.
4
Ngày 23/6/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X ban hành Quyết
định số 1129/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ngô
Ngọc P với ông Trần Ngọc T (Quyết định số 1129/QĐ-UBND). Nội dung Quyết
định:
“ - Bác yêu cầu tranh chấp đất của ông Ngô Ngọc P (do ông Ngô Phi H đại
diện).
- Giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông Trần Ngọc T theo Bản đồ hiện
trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố X
lập ngày 13/5/2009.”
Ngày 11/7/2014, ông Ngô Ngọc P khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành
phố X.
Ông Ngô Ngọc P chết ngày 13/5/2016 (Bút lục 66).
Ngày 30/11/2016, Tòa án nhân dân thành phố X chuyển Đơn khởi kiện của
ông Ngô Ngọc P đến Tòa án nhân dân tỉnh W
Ngày 03/01/2017, các đồng thừa kế của ông Ngô Ngọc P nộp Đơn khởi
kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang yêu cầu hủy Quyết định số 1129/QĐ-
UBND.
Ông Trần Ngọc T không đồng ý việc ông H khởi kiện vì theo ông Quyết
định số 1129/QĐ-UBND là đúng.
Ủy ban nhân dân thành phố X được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng
không gửi ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ án, cũng không gửi tài liệu chứng cứ
liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai cho Tòa án.
Các đương sự khác không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Tòa án đã hai lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai
chứng cứ và đối thoại nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X vắng mặt
không lý do, nên Tòa án lập Biên bản không tiến hành đối thoại được, công khai
chứng cứ cho ông H và ông T biết.
Ngày 28/8/2017, Ủy ban nhân dân phường L có Công văn số 119/UBND
phúc đáp Công văn số 96/TA.THC của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, nội
dung Công văn: Ông T sử dụng đất ổn định từ năm 1991 đến nay. Văn bản này
được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Ông H và người bảo vệ quyền lợi cho ông vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy
Quyết định số 1129/QĐ-UBND với lý do:
Luật sư P: Ông P khởi kiện Quyết định 1128/QĐ-UBND và 1129/QĐ-
UBND vào năm 2014, Quyết định 1128/QĐ-UBND đã được giải quyết, còn
Quyết định 1129/QĐ-UBND thì không được Tòa án nhân dân thành phố X thụ
lý giải quyết, kéo dài cho đến nay. Do đó, thời hiệu khởi kiện đối với Quyết định
1129/QĐ-UBND vẫn còn. Đất đang tranh chấp không có các giấy tờ quy định
tại điều 50 Luật Đất đai 2003, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban.
5
Việc mua bán giữa ông S với ông T: Mua bán lần 1 có làm giấy sang
nhượng, tuy nhiên lần sau đó lại không có giấy tờ. Do đó, theo ông T trình bày
vào năm 1992, ông T có mua thêm phần đất này của ông S chiều ngang 3,8m,
dài 2,3m là không có căn cứ.
Từ Quyết định 158/QĐ-UBND, Biên bản thỏa thuận giữa ông S với ông P
và các sơ đồ đo đạc khi chia tài sản thừa kế và sơ đồ đất tranh chấp năm 2009.
Gia đình ông H khởi kiện Quyết định 1129/QĐ-UBND. Đề nghị Hội đồng xét
xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và hủy Quyết định 1129/QĐ-UBND
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Thư ký phiên tòa đúng quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án thực hiện đúng. Riêng Chủ tịch Ủy ban nhân dân
thành phố X chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ như: Không tham gia
phiên họp đối thoại theo triệu tập của Tòa án; không có mặt khi Tòa án xét xử
đến lần thứ hai là đã vi phạm các Điều 55, 57 của Luật Tố tụng hành chính.
+ Về việc giải quyết vụ án: Về chứng cứ thể hiện ông T nhận chuyển
nhượng đất của ông S ngang 3,8m dà 9m, diện tích 34,2m
2
có xác nhận của Ủy
ban nhân dân phường M. Năm 1993, ông nhận chuyển nhượng thêm từ ông S
ngang 3.8m dài 2,3m, nâng tổng diện tích 42,8m
2
, ông T sửa chữa nhà nhiều lần
nên diện tích nhà không còn như cũ. Từ năm 1998, ông P đã tranh chấp đất với
ông T cho đến nay, nên việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X nhận định
trong Quyết định số 1129/QĐ-UBND ông P không tranh chấp là không phù hợp
với các thực tế khách quan và các chứng cứ các bên cung cấp.
Về thẩm quyền giải quyết, ông T đã có Giấy tờ chuyển nhượng trước ngày
15/10/1993 và ông T được Ủy ban nhân dân phường L xác nhận đã ở ổn định từ
trước ngày 15/10/1993 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại
điểm d, khoản 1 Điều 50, khoản 1 Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003, thì
trường hợp này do Tòa án nhân dân giải quyết. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố X ban hành Quyết định số 1129/QĐ-UBND trong trường hợp này là không
đúng thẩm quyền.
Đề nghị hủy Quyết định số 1129/QĐ-UBND.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Các ông, bà Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện
A, Ngô Kim G, Ngô Phương L khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1129/QĐ-
UBND ngày 23/6/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X nên thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại
khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
6
[3]. Thời hiệu khởi kiện: Quyết định số 1129/QĐ-UBND ban hành
ngày 23/6/2014 đến gày 11/7/2014, ông Ngô Ngọc P khởi kiện đến Tòa án nhân
dân thành phố X (Sau này do ông P chết nên các con của ông đứng đơn khởi
kiện) trong thời hạn được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố
tụng hành chính nên được chấp nhận xem xét giải quyết.
[4]. Về quyền khởi kiện: Căn cứ Điều 115 của Luật Tố tụng hành chính
năm 2015, Các ông, bà Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G, Ngô
Phương L có quyền khởi kiện.
[5]. Đối tượng khởi kiện là Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày
23/6/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X, nên người bị kiện là Chủ
tịch Ủy ban nhân dân thành phố X.
[6]. Quyết định số 1129/QĐ-UBND giải quyết tranh chấp đất đai giữa
ông Ngô Phi H và ông Trần Ngọc T. Ông P khởi kiện, sau đó ông chết, các con
ông P là Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và Ngô Phương L tiếp tục
khởi kiện, nên Tòa án xác định Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và
Ngô Phương L là người khởi kiện; những người khác không khởi kiện, nên Tòa
án đưa họ tham gia vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[7]. Việc ủy quyền: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X ủy quyền
cho ông Nguyễn Bảo S – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X. Việc Ủy
quyền này phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 60 của Luật Tố tụng hành
chính, nên được Tòa án chấp nhận.
[8]. Về thủ tục tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X ủy
quyền cho ông Nguyễn Bảo S đại diện, nhưng ông S vắng mặt cả hai lần Tòa án
mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại
(việc vắng mặt không lý do), nên Tòa án lập Biên bản không tiến hành đối thoại
được (Bút lục 162) và lập Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ cho các đương sự có mặt.
[9]. Các ông bà: Ngô Phương L, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G, Mai
Thanh T, Trần Hữu Y, Trần Hữu H, Lý Thanh T, Lý Trọng N và Ngô Kim H có
đơn yêu cầu vắng mặt khi đối thoại và xét xử, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự này theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật Tố tụng
hành chính.
[10]. Tòa án mở phiên tòa ngày 08/9/2017, nhưng vắng mặt người đại
diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X, nên hoãn phiên
tòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 162 của Luật Tố tụng hành chính.
[11]. Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Bảo S vắng mặt, nên Tòa án
tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Luật Tố tụng
hành chính.
[12]. Về nội dung:

7
[13]. Các ông, bà Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và Ngô
Phương L khởi kiện: Yêu cầu hủy Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày
23/6/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X.
[14]. Tòa án đã hai lần gửi Công văn: Số 30/CV-THC ngày 17/3/2017,
số 46/CV-THC ngày 12/4/2017 yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X
gửi toàn bộ hồ sơ giải quyết tranh chấp đất giữa ông P và ông T, nhưng Chủ tịch
Ủy ban nhân dân thành phố X không gửi tài liệu, chứng cứ, nên Hội đồng xét xử
xem xét các chứng cứ có tại hồ sơ do ông Ngô Phi H và ông Trần Ngọc T cung
cấp để giải quyết.
[15]. Quyết định số 1129/QĐ-UBND được ban hành ngày 23/6/2014
trước ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực (ngày 01/7/2014), nên được áp dụng
Luật Đất đai 2003 và các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm
23/6/2014 để giải quyết.
[16]. Xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 1129/QĐ-UBND.
[17]. Về hình thức của Quyết định số 1129/QĐ-UBND được thể hiện
bằng văn bản là phù hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 136 Luật Đất đai
năm 2003.
[18]. Thẩm quyền ban hành quyết định:
[19]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật Đất đai 2003: “Tranh
chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của
Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải
quyết”. Tại điểm d khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai 2003 quy định: “ Giấy tờ
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày
15/10/1993, nay được Ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn xác nhận là đã sử
dụng trước ngày 15/10/1993” đối chiếu trong trường hợp này thì ông Ngô Ngọc
P tranh chấp đất với ông Trần Ngọc T. Ông T trình bày đất do ông nhận chuyển
nhượng của ông Lao Văn S và ông T cung cấp Tờ chuyển nhượng đất ngày
19/3/1991 giữa ông và ông Lao Văn S có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường
M (Bút lục số 167). (Đất tranh chấp trước đây thuộc phường M, nay thuộc
phường L). Ủy ban nhân dân phường L xác nhận tại Công văn số 119/UBND
ngày 28/8/2017 là ông Trần Ngọc T sử dụng đất từ năm 1991 đến nay. Như vậy,
ông T đã có giấy tờ được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai
2003, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cho nên, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố X ban hành quyết định giải quyết tranh chấp là không đúng
thẩm quyền.
[20]. Mặt khác, theo kết quả xác minh được nêu trong Quyết định số
1129/QĐ-UBND: “ Năm 1998, ông P tranh chấp đất với ông S, cho rằng ông S
để ông T cất nhà lấn qua đất ông P chiều ngang 0.9m, chiều dài 9m, diện tích
8.1m
2
. Biên bản hòa giải tại Văn phòng khóm Q ngày 14/5/1998: Sau khi hòa
giải cặn kẽ hai bên đi đến thống nhất, ông S tiếp với ông P đóng thuế hàng năm
kể từ năm 1997, còn phần đất 8.1m
2
qua ông
P, nếu sau này có quy hoạch bồi

8
hoàn thì ông P hưởng”. Nhưng phần kết luận của Quyết định lại cho rằng:
“Trong quá trình sử dụng, hộ ông Ngô Ngọc P, ông Trần Ngọc T đều có kê khai
nhà đất. Năm 1991, ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông S và
ông T cất nhà ở ổn định; thời điểm này, ông P không có tranh chấp với ông T.
Xét quá trình và hiện trạng sử dụng ổn định của ông T nên giữ nguyên hiện
trạng sử dụng đất là phù hợp với Luật đất đai” để từ đó quyết định bác yêu cầu
của ông P là chưa phù hợp vì Kết luận của Quyết định đã mâu thuẫn với kết quả
xác minh nêu trên là ông P đã tranh chấp diện tích đất này từ năm 1998 và ông S
đồng ý để ông P được nhận tiền khi Nhà nước bồi hoàn đối với đất tranh chấp vì
ông S thừa nhận 8.1m
2
đất tranh chấp là của ông P.
[21]. Tại phiên tòa, ông T trình bày ông nhận chuyển nhượng đất của ông
S năm 1991 có chiều ngang 3,8m, dài 9m; năm 1992, ông nhận chuyển nhượng
thêm phần đất phía trước sân ngang 3,8m, dài 2,3m để thành chiều dài 11,3 m,
phần mua thêm ông sử dụng làm sân; chiều ngang diện tích đất vẫn 3.8m ông cất
nhà sử dụng ổn định từ năm 1991 đến nay không thay đổi. Đối chiếu Bản đồ
hiện trạng ngày 13/5/2009 do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố
X lập thì nhà ông T được xác định tại các điểm 36, 39, 61, 45, 32, 16, 48, 47, 46
diện tích 37,10m
2
, trong đó chiều ngang nhà ông T được xác định tại các điểm
36, 39, 61,45, 32 là 3,73m
+
0.9m = 4.63m, thừa 0.87m so với lúc ông T nhận
chuyển nhượng với ông S. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X chưa làm rõ
tình tiết này, nhưng lại giải quyết bác yêu cầu khiếu nại của ông P, để ổn định
cho ông T là chưa thỏa đáng.
[22]. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông, bà Ngô Phi H,
Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và Ngô Phương L và đề nghị của Luật sư bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của ông H; đề nghị của Kiểm sát viên hủy Quyết
định số 1129/QĐ-UBND ngày 23/6/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố X.
[23]. Nếu các đương sự có tranh chấp đất thì có quyền khởi kiện đến Tòa
án nhân dân có thẩm quyền giải quyết.
[24]. Về án phí hành chính sơ thẩm:
[25]. Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và Ngô Phương L
không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án (Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14).
[26]. Do hủy Quyết định nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X
phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14.
[27]. Vì các lẽ trên.

9
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, khoản 3, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 2
Điều 193, khoản 1 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 136
của Luật Đất đai năm 2003.
+ Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí
tòa án.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông, bà: Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện
A, Ngô Kim G và Ngô Phương L.
- Hủy Quyết định số 1129/QĐ-UBND ngày 23/6/2014 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố X về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Ngô Ngọc
P với ông Trần Ngọc T.
- Về án phí hành chính sơ thẩm:
+ Các ông, bà: Ngô Phi H, Ngô Thái Thiện A, Ngô Kim G và Ngô Phương
L không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, được nhận lại 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 009515 ngày
09/02/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh W
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố X phải chịu 300.000đ (Ba trăm
nghìn) án phí hành chính sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh An Giang;
- Đương sự;
- VP, KTNV-THA, THC;
- Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang (khi Bản án
có hiệu lực pháp luật);
- Cục THADS tỉnh An Giang (khi Bản án có
hiệu lực pháp luật);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Nguyễn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm