Bản án số 224/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 224/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 224/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 224/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 224/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 224/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Giữ nguyên bản án sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: 1. Bà Lưu Thị Thu Hường;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà
Trương Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 541/2025/TLPT-DS ngày
01/12/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm số: 152/2026/QĐPT-DS, ngày 25/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa
phúc thẩm số: 221/2026/QĐ-PT, ngày 24/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1946; địa chỉ: Thôn D, xã E,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà H: Ông Phạm Xuân B; địa chỉ: Số E T,
phường B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Bùi Đình P, sinh năm: 1957; địa chỉ: Tổ dân phố E, phường N, thị
xã G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng).
2.2. Bà Trần Thị Phi L, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn A, xã E, thành phố B,
tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, Đắk Lắk).
Người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị
Phi L: Ông Trần Hữu T; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường T, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Bùi Đình P và bà
Trần Thị Phi L: Luật sư Nguyễn Huy H1 - Công ty L4; địa chỉ: Số B đường Y,
phường E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 224/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 4 - 2026
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Viết H2; địa chỉ: Thôn A, phường E, tỉnh Đắk Lắk và ông Trần
G; địa chỉ: Số H, đường M, phường B, Đắk Lắk (là con của bà Bùi Thị L1), vắng
mặt.
3.2. Ông Lê Hữu T1; địa chỉ: Thôn D, xã E, tỉnh Đắk Lắk;
3.3. Ông Lê Hữu H3; địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
3.4. Bà Lê Thị Ngọc A; địa chỉ: Số C T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Hữu T1, ông Lê Hữu H3 và bà Lê
Thị Ngọc A: Ông Phạm Xuân B; địa chỉ: Số E T, phường B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
3.5. Văn phòng C; địa chỉ: Số C N, phường B, Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của Văn phòng C: Bà Đặng Thanh Q; địa chỉ:
C N, phường B, Đắk Lắk, vắng mặt.
4. Người làm chứng: Ông Lê Trọng P1; địa chỉ: Thôn A, phường E, tỉnh Đắk
Lắk, vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên
đơn bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày
có nội dung như sau:
Ngày 14/6/1997, vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn Đ (ông Đ đã
chết ngày 14/02/2022) có nhận chuyển nhượng của ông Bùi Đình P diện tích đất
là 350m
2
, có tứ cận: Phía Đông dài 17,5m; phía Tây dài 17,5m; phía Bắc dài 20m
và phía Nam: dài 20m, thuộc một phần của thửa đất số 203, tờ bản đồ 34, địa chỉ
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H 015777 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 23/11/1995,
đứng tên ông Bùi Đình P; giá chuyển nhượng là 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân xã E,
thành phố B xác nhận ngày 18/6/1997. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, thì bên chuyển nhượng là ông Bùi Đình P và bà Bùi Thị L1 (bà L1 là
em gái của ông P), ông P và bà L1 xác định thửa đất này là của ông P và bà L1
chung nhau mua, nhưng khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L1 để
cho ông P đứng tên, nên khi ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà H
thì cả ông P và bà L1 cùng ký hợp đồng chuyển nhượng; còn bên nhận chuyển
nhượng là bà H và chồng là ông Lê Văn Đ.
Sau khi hợp đồng chuyển nhượng được xác nhận, gia đình bà H đã thanh toán
cho gia đình ông P toàn bộ số tiền chuyển nhượng, đồng thời gia đình bà H đã làm
hàng rào kiên cố quanh phần đất nhận chuyển nhượng, xây một căn nhà trên đất
và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Tuy nhiên do thiếu hiểu biết về pháp luật đất
đai nên gia đình bà H chưa làm thủ tục tách thửa để sang tên. Đến năm 2018, bà
H có đề nghị gia đình ông P tách thửa để sang tên phần đất đã chuyển nhượng,
nhưng gia đình ông P đã cố tình không thực hiện, gây khó khăn nên đến nay vẫn
3
chưa thực hiện được. Hiện nay, toàn bộ thửa đất trên đã được ông Bùi Đình P sang
tên cho bà Trần Thị Phi L (con gái của bà Bùi Thị L1) theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR
220150 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 23/9/2019.
Bà H đã nhiều lần yêu cầu ông P và bà L hỗ trợ tạo điều kiện cho gia đình bà
thực hiện thủ tục tách thửa, sang tên phần đất mà bà đã nhận chuyển nhượng,
nhưng ông P và bà L cố tình không hợp tác, không chịu thực hiện. Việc ông Bùi
Đình P đã chuyển nhượng một phần thửa đất cho vợ chồng bà H, đã nhận đủ tiền
chuyển nhượng và hợp đồng chuyển nhượng đã được Ủy ban nhân dân xã E xác
nhận nhưng lại không làm thủ tục tách thửa để sang tên cho gia đình bà H, mà lại
tiếp tục sang nhượng toàn bộ thửa đất cho bà Trần Thị Phi L và sau đó bà L cũng
không chịu thực hiện thủ tục tách thửa là hành vi cố tình không thực hiện các nội
dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bà H. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1997
giữa bên chuyển nhượng ông Bùi Đình P với bên nhận chuyển nhượng ông Lê
Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B xác
nhận ngày 18/6/1997 có hiệu lực.
- Buộc bà Trần Thị Phi L phải thực hiện thủ tục tách thửa đối với diện tích
đất 350m
2
(trong đó có 120m
2
đất ở) thuộc thửa đất số 23 (cũ 203), tờ bản đồ 81
(cũ 34) tại xã E, thành phố B (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk) để sang tên bà
Nguyễn Thị H.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng
là ông Bùi Đình P với bên nhận chuyển nhượng là bà Trần Thị Phi L, được Văn
phòng C, quyển số 01 ngày 16/01/2012 và hủy giá trị pháp lý Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CR 220150,
số vào sổ CS - 15207 (đối với thửa đất số 23 (cũ 203), tờ bản đồ số 81 (cũ 34),
diện tích 934,7m
2
tại địa chỉ: xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 23/9/2019 đứng tên bà Trần Thị Phi L.
*/ Quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hữu T1, ông Lê Hữu H3 và bà Lê Thị
Ngọc A (là con của bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn Đ) là ông Phạm Xuân B đã
trình bày ý kiến thống nhất với yêu cầu khởi kiện và trình bày của bà Nguyễn Thị
H, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
*/ Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị Phi L và
người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Hữu T trình bày có nội dung
như sau:
Bà Trần Thị Phi L là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 203 (mới 23), tờ bản
đồ số 34 (mới 81), có diện tích 1,215m
2
tại thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk. Thửa đất có nguồn gốc do bà L nhận chuyển nhượng từ ông Bùi Đình P vào
ngày 16/01/2012; ông P được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: H 015777, ngày 23/11/1995. Sau đó, bà L làm thủ tục sang
tên một phần thửa đất cho ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị H4 nhận quản lý sử
4
dụng từ đó đến nay. Sau khi có thông báo thụ lý của Tòa án nhân dân thành phố
Buôn Ma Thuột, thì bà L mới biết có sự tồn tại của Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất xác lập ngày 18/6/1997, mang tên người bán là (chồng) Bùi
Đình P, (vợ) Bùi Thị L1 và ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H. Tuy nhiên, hợp đồng
bà H cung cấp có dấu hiệu giả mạo, chữ ký chữ viết bên người bán không phải
của ông P và có dấu hiệu tẩy xóa tại mục diện tích đất; thông tin về người chuyển
nhượng không đúng như năm sinh của ông Bùi Đình P (thực tế ông P sinh năm
1957) và ông P là anh trai của bà L1 chứ không phải là chồng của bà L1.
Về nguồn gốc thửa đất trên, bà L được biết là do ông Bùi Đình P nhận chuyển
nhượng và được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số: H 015777, ngày 23/11/1995; ông P mua mảnh đất này cho cha mẹ
của ông ở, sau đó vì xa xôi nên cha mẹ ông P về sinh sống với ông P tại tỉnh Đắk
Nông. Do bố mẹ bà L là ông Trần Viết H5 và bà Bùi Thị L1 có hoàn cảnh khó
khăn, nên ông P cho ở nhờ và quản lý hộ ông P thửa đất nêu trên, chứ không phải
là đất thuộc quyền sử dụng chung của ông P và bà L1.
Do đó việc bà Nguyễn Thị H khởi kiện là không có căn cứ, đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và tuyên bố Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày ngày 18/06/1997 là vô hiệu và xử lý
hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đồng thời, đề nghị Tòa án triệu tập những người
có liên quan đến việc xác nhận việc ký kết hợp đồng nêu trên để làm rõ trách
nhiệm thiệt hại của những người này, vì việc mua bán không có mặt chủ sử dụng
đất nhưng vẫn thực hiện xác nhận việc mua bán, chuyển nhượng; đề nghị Tòa án
yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản gốc của Hợp đồng chuyển nhượng ngày
18/06/1997 và cung cấp chứng từ về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán ghi trong
hợp đồng, tiến hành giám định chữ ký, chữ viết của người bán ông Bùi Đình P
trong hợp đồng chuyển nhượng.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông
Bùi Đình P là ông Trần Hữu T trình bày có nội dung như sau:
Ông Bùi Đình P là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 203 (mới 23), tờ bản đồ
số 34 (mới 81), diện tích 1,215m
2
tại thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nguồn gốc thửa đất do ông P nhận chuyển nhượng, được Ủy ban nhân dân thành
phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H 015777, ngày 23/11/1995,
đứng tên Bùi Đình P. Kể từ khi được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho
đến nay, ông P không ký bất kỳ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nào
với gia đình bà Nguyễn Thị H. Sau khi có thông báo thụ lý của Tòa án thì ông P
mới biết có sự tồn tại của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác
lập ngày 18/6/1997 mang tên người bán là (chồng) Bùi Đình P, (vợ) Bùi Thị L1
và ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H. Ông P xác định hợp đồng chuyển nhượng
mà bà H cung cấp là hợp đồng giả mạo, vì: Chữ ký chữ viết bên người bán không
phải chữ ký của của ông P; quan hệ của ông Bùi Đình P và bà Bùi Thị L1 là anh
em ruột không phải vợ chồng; trong hợp đồng có dấu hiệu tẩy xóa phần diện tích
và thông tin năm sinh của ông P bị sai so với thực tế.
Khi nhận chuyển nhượng thửa đất này, ông P cho cha mẹ ở, sau đó vì xa xôi
nên cha mẹ đã về sinh sống với gia đình ông tại tỉnh Đắk Nông. Do thấy gia đình
5
bà L1 cùng các cháu hoàn cảnh khó khăn, nên ông P cho gia đình bà L1 ở nhờ và
quản lý hộ ông thửa đất trên; thời gian sau, vợ chồng bà L1 gặp tai nạn, bà L1 chết
còn em rể ông Trần Viết H5 bị chấn thương sọ não, lúc nhớ lúc không, ai nói sao
nghe vậy. Đến năm 2012, ông P đã sang nhượng lại toàn bộ diện tích đất trên cho
cháu là bà Trần Thị Phi L và bà L đã quản lý sử dụng đất liên tục từ đó đến nay,
nên hiện trạng thửa đất có thay đổi như thế nào thì ông P không biết được.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, ông P không chấp nhận và
đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 18/06/1997 vô hiệu, xử
lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đồng thời đề nghị Tòa án triệu tập những người
liên quan đến việc xác nhận ký kết hợp đồng để làm rõ trách nhiệm và thiệt hại
của việc ký xác nhận việc chuyển nhượng, vì ông không có mặt và không ký hợp
đồng nhưng vẫn thực hiện xác nhận việc mua bán. Tại phiên tòa sơ thẩm, người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Tòa án xem xét áp dụng thời hiệu khởi
kiện đối với hợp đồng ngày 14/6/1997 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E
ngày 18/6/1997.
*/ Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị
Phi L, ông Bùi Đình P là ông Nguyễn Huy H1 trình bày như sau:
Đề nghị Tòa án xem xét đưa Ủy ban nhân dân xã E (nay là phường E) và Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, vì Ủy ban nhân dân xã E đã xác nhận hợp đồng
chuyển nhượng đất; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ là cơ quan cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Phi L và nguyên đơn có yêu cầu
hủy giấy chúng nhận quyền sử dụng đất này. Đối với hợp đồng chuyển nhượng
ngày 14/6/1997, thì ông P không biết và không ký vào hợp đồng; đất tại thôn A,
xã E là tài sản của hộ ông P, nhưng khi ký hợp đồng chỉ có một mình chữ ký của
ông P. Do vợ chồng em gái là bà Bùi Thị L1 khó khăn nên ông P cho ở nhờ và
trông coi đất hộ ông; trong hợp đồng thỏa thuận giá chuyển nhượng 1.000.000
đồng nhưng ông P cũng không hề nhận được tiền từ việc chuyển nhượng này.
Từ những căn cứ trên đề nghị Tòa án xem xét đây là hợp đồng giả tạo nên
không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp xác
định có hợp đồng chuyển nhượng này 14/6/1997 thì đề nghị áp dụng thời hiệu và
đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp có căn
cứ chấp nhận yêu cầu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Bùi Đình P
và bà Trần Thị Phi L năm 2012 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì đề
nghị xem xét không có căn cứ hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng cũng như
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Trọng P1 trình bày nội dung như sau:
Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997; Đơn xin
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997 của gia đình ông Bùi Đình P,
bà Bùi Thị L1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn Đ sinh năm
1944 cùng vợ là Nguyễn Thị H, kèm theo bìa đỏ quyền sử dụng đất số H015777
số thửa 203, tờ bản đồ 34, diện tích 252m
2
toạ lạc tại thôn A, xã E. Lúc đó ông P
là thôn trưởng thôn 1 có xác nhận hai hợp đồng trên. Căn cứ pháp lý là có bìa đỏ
kèm theo và Giấy chứng minh nhân dân của hai bên, trên giấy tờ còn ghi chi tiết
6
4 mặt lô đất giáp ranh các phía, nên ông P xác nhận là đúng thực tế theo đúng
pháp luật và không có gì sai. Ông P chịu trách nhiệm về chữ ký xác nhận của mình
với cơ quan nhà nước. Đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp
luật.
Tại Bn án dân sự sơ thẩm s 50/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a,c khoản 1 Điều 39,
khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 266, Điều
271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng: Điều 697, Điều 698, Điều 699, Điều 700, Điều 701, Điều 702 Bộ
luật Dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 101, Điều 166,
Điều 167, Điều 188 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật
đất đai; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
T3 vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
16/01/2012 giữa ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L được công chứng tại văn
phòng C đối với phần diện tích 934,7m
2
tại xã E, thành phố B, số công chứng 315,
quyển số 01/CC-SCC/HĐGD.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997 giữa
ông Bùi Đình P, bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, có xác nhận
của UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là UBND phường E, tỉnh Đắk
Lắk) với tổng diện tích chuyển nhượng là 345,9m
2
, (trong đó có 60m
2
đất ở và
285,9m
2
đất nông nghiệp), đất thuộc thửa đất số 2,3 tờ bản đồ số 81 nay là thửa
số 30, tờ bản đồ số 81, tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường E, tỉnh
Đắk Lắk) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 220150
ngày 23/9/2019 cho bà Trần Thị Phi L.
Đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất số 625; phía Tây giáp thửa đất số 641;
phía Nam giáp đường thôn; phía Bắc giáp một phần thửa đất số 140 (Theo sơ đồ
trích đo hiện trạng thửa đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 ngày 03/5/2024
đính kèm).
Bà Trần Thị Phi L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của
pháp luật. Bà Nguyễn Thị H được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền
làm thủ tục tách thửa để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và tuyên
quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự theo quy định của
pháp luật.
7
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/9/2025 bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần
Thị Phi L có đơn kháng cáo, với nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng, vì không có việc ông Bùi Đình P
chuyển nhượng đất cho nguyên đơn và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 18/6/1997, là không hợp pháp và có dấu hiệu giả mạo; đồng thời Tòa án
cấp sơ thẩm không triệu tập, đưa những người ký xác nhận hợp đồng vào tham
gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng. Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc
sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; phía bị
đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày
ý kiến, với nội dung: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán
cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Bản án sơ thẩm chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, giữa ông Bùi Đình P, bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn
Thị H, có xác nhận của UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích
chuyển nhượng là 345,9m
2
, là có căn cứ và phù hợp với các chứng cứ tài liệu trong
hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, diện tích đất các bên tranh chấp trong hợp đồng là 345,9m
2
nhưng bản án sơ thẩm lại tuyên vô hiệu phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L đối với cả
phần diện tích 934,7m
2
, là không phù hợp và ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L;
đồng thời giữa bà L và ông P không có tranh chấp gì về nội dung hợp đồng chuyển
nhượng, nên xác định phần vô hiệu của hợp đồng này là phần diện tích đất 345,9m
2
mà ông P đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà H, nên cần sửa bản án sơ thẩm về
nội dung này. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp
nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L; sửa
một phần bản án sơ thẩm theo hướng như đã phân tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng: Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong
vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử
vắng mặt các đương sự trên là phù hợp.
2. Về nội dung: Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Bùi Đình P và bà
Trần Thị Phí L2, Hội đồng xét xử xét thấy:
8
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thửa đất số 203 (mới 23), tờ
bản đồ số 34 (mới 81), diện tích 1.215m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay
là phường E, tỉnh Đắk Lắk) được Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 015777, ngày 23/11/1995 đứng tên hộ
ông Bùi Đình P. Ngày 14/6/1997, ông Bùi Đình P và bà Bùi Thị L1 ký Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị H (hợp
đồng có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
18/6/1997) theo đó, ông P, bà L1 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ, bà H một
phần đất thuộc thửa đất số 203, nhưng chưa làm thủ tục tách thửa sang tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 16/01/2012, ông Bùi Đình P ký hợp
đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất diện tích 1.215m
2
cho bà
Trần Thị Phi L, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C và đã được Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố B (nay là Chi nhánh văn phòng Đ2
khu vực Buôn M) chỉnh lý sang tên bà Trần Thị Phi L ngày 21/2/2012. Ngày
03/3/2012, bà Trần Thị Phi L ký hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử
dụng thửa đất trên cho bà Lê Thị H4 và ông Nguyễn Văn T2 diện tích là 270m
2
(thửa đất số 203A, được tách từ thửa 203 theo trích lục bản đồ do Ủy ban nhân
dân xã E lập ngày 29/02/2012, tờ bản đồ số 34), hợp đồng được công chứng và đã
được chỉnh lý tách thửa 203A sang tên bà Lê Thị H4 và ông Nguyễn Văn T2 ngày
27/3/2012. Quá trình sử dụng đất, bà Trần Thị Phi L báo mất Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H 015777, sau đó được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CR 220150, ngày 23/9/2019, thửa đất số 23 (cũ 203), tờ bản đồ
số 81 (cũ 34), diện tích 934,7m
2
mang tên bà Trần Thị Phi L (đã trừ diện tích
chuyển nhượng cho bà Lê Thị H4, ông Nguyễn Văn T2).
[2.2] Đối với kháng cáo của bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu đối với
yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xét thấy: Yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997 (Ủy ban nhân dân xã E xác nhận ngày
18/6/1997), giữa ông Bùi Đình P, bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn
Thị H; nguyên đơn xác định đã nhận đất, xây nhà, sử dụng ổn định từ khi nhận
chuyển nhượng cho đến nay và đề nghị công nhận quyền sử dụng đối với diện đất
350m
2
, còn phía bị đơn cho rằng không có việc chuyển nhượng đất và diện tích
đất tranh chấp là của bị đơn. Như vậy, đối tượng tranh chấp trong hợp đồng là
quyền sử dụng đất và là tranh chấp về ai là người có quyền sử dụng đất, nên theo
quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại điểm 9 Mục
IV Giải đáp số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, thì
không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp này. Do đó, Tòa án cấp sơ
thẩm không chấp nhận ý kiến của bị đơn về yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện
là đúng quy định, nên kháng cáo của bị đơn về nội dung này là không có cơ sở
chấp nhận.
[2.3] Đối với kháng cáo và ý kiến của bị đơn cho rằng không có việc ông Bùi
Đình P và bà Bùi Thị L1 chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/6/1997 có dấu hiệu giả mạo chữ ký, chữ viết
của ông Bùi Đình P và không hợp pháp. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có
9
trong hồ sơ và lời trình bày của các bên đương sự, xét thấy:
[2.3.1] Mặc dù tại Kết luận giám định số 1358/KL-KTHS ngày 05/9/2024
của Phòng K, Công an tỉnh Đ và kết luận: “Không tiến hành giám định chữ ký
mang tên Bùi Đình P trên tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với chữ ký
mang tên Bùi Đình P trên tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2 do có dạng khác
nhau và tại Kết luận giám định số 109/KL-KTHS ngày 05/6/2025 của Phân viện
khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - V Bộ C1, kết luận; “Không đủ cơ
sở kết luận chữ ký dạng chữ viết họ tên Bùi Đình P trên 02 tài liệu cần giám định
ký hiệu A1, A2 so với chữ viết đứng tên Bùi Đình P trên tài liệu mẫu so sánh ký
hiệu M4 có phải do cùng một người viết ký ra hay không”.
[2.3.2] Tuy nhiên, tại Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
14/6/1997 (bút lục 297), đứng tên Bùi Đình P, có nội dung: Gia đình ông Đ xin
chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất với diện tích 252m
2
tại thửa số 203, tờ bản
đồ số 34, tọa lạc tại thôn A, xã E cho ông Lê Văn Đ và đơn có xác nhận của đại
diện Ban tự quản thôn A, Cán bộ địa chính xã và Ủy ban nhân dân xã E; tại Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997, được Ủy ban nhân dân
xã E xác nhận ngày 18/6/1997 (bút lục 298, 299), thể hiện nội dung: Ông Bùi Đình
P, bà Trần Thị L3 là chủ sử dụng thửa đất số 203, diện tcíh 1215m
2
, tại thôn A, xã
E và ông Đ, bà L3 chuyển nhượng cho ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, diện tích
đất là 252m
2
, mục đích làm nhà ở, giá chuyển nhượng là 1.000.000 đồng. Hợp
đồng chuyển nhượng có xác nhận của B1 tự quản thôn A, có ý kiến của cán bộ địa
chính xã và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E vào ngày 18/6/1997. Sau đó vợ
chồng ông Đ, bà L3 đã nhận đất, làm nhà ở và sử dụng đất ổn định từ đó đến nay
và không có tranh chấp với ai; tại Biên bản làm việc ngày 27/5/2003 (bút lục số
217) do Ủy ban nhân dân xã E lập, xác nhận nội dung làm việc giữa ông Lê Văn
Đ và ông Trần Viết H5, đại diện cho ông Bùi Đình P (ông H5 là chồng bà Bùi Thị
L1 và là em rể ông Bùi Đình P), theo đó các bên đã tiến hành đo đạc, kiểm tra diện
tích đất gia đình ông Lê Văn Đ đang sử dụng là 350m
2
ông Đ đã sử dụng ổn định
từ ngày nhận chuyển nhượng và quá trình sử dụng đất, ông Lê Văn Đ đã có Bản
kê khai diện tích đất ngày 27/5/2003 (bút lục số 218), theo đó xác định diện tích
đất sử dụng là 350m
2
.
[2.3.3] Đồng thời, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương đã xác nhận
nội dung: “Phần diện tích đất tranh chấp từ năm 1997 đến nay bà Nguyễn Thị H
là người quản lý sử dụng, khoảng từ năm 2002 có xây một căn nhà cấp 4 trên thửa
đất. Từ trước đến nay không có tranh chấp gì ngoài việc bà H chưa làm được giấy
tờ đất”. Trên hệ thống quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân xã E, thì phần diện
tích tranh chấp được ông Lê Văn Đ đứng tên trên hệ thống và phần diện tích đất
này nằm trong tổng diện tích 934,7m
2
trong đó có 325m
2
đất ở nên có đủ điều kiện
tách thửa theo quy định. Mặt khác, gia đình bà Bùi Thị L1, ông Trần Viết H5 và
bà Trần Thị Phi L ở cạnh (phía sau) gia đình bà Nguyễn Thị H và gia đình bà H
đã quản lý, sử dụng diện tích đất ổn định từ năm 1997 cho đến nay, nhưng gia
đình bà L, bà L1 vẫn không có ý kiến gì đối với việc sử dụng đất của gia đình bà
H.
[2.3.4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập,
sao lục các tài liệu liên quan của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
10
ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L được lưu tại Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể các tài liệu như sau: Tại Giấy xin xác
nhận ngày 09/01/2012 của ông Bùi Đình P, có nội dung “Năm 1995 tôi có mua
01 lô đất thổ cư tại thôn A, xã E và được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H015777, thửa đất 302, tờ bản đồ 34, diện tích 1215m
2
.
Quyền sử dụng đất này là do tôi mua bằng tiền của vợ chồng em gái và em rể tôi
là Trần Viết H5 và Bùi Thị L1 (đã chết) cho tôi, không liên quan ai khác”, có xác
nhận của Ủy ban nhân dân xã E; tại Giấy cam kết đề ngày 10/01/2012 do ông Trần
Viết H5 lập, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E, có thể hiện nội dung “Năm
1995 tôi có mua lô đất tại thôn A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk và được thành
phố B cấp giấy chứng nhận số H015777....Quyền sử dụng đất này do tôi mua bằng
tiền của mình và để em rể tôi Bùi Đình P đứng tên. Nay tôi và em rể tôi là Bùi
Đình P cùng thống nhất là sang nhượng lô đất trên lại để cho con gái tôi là Trần
Thị Phi L đứng tên”. Sau đó bà Trần Thị Phi L đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quản lý, sử dụng đất và ông P không có ý kiến hay tranh chấp
gì đối với việc bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, các
tài liệu trên đã thể hiện thửa đất số 203 (mới 23), tờ bản đồ số 34 (mới 81), diện
tích 1215m
2
tại xã E, thành phố B đứng tên ông Bùi Đình P, có nguồn gốc nhận
chuyển nhượng bằng tiền của vợ chồng ông Trần Viết H5, bà Bùi Thị L1. Điều
này là phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn cho rằng khi ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, thì ông P và bà L1 xác định thửa đất trên là của ông P
và bà L1 chung nhau mua nhưng khi làm giấy chứng nhận thì bà L1 để cho ông P
đứng tên và trên thực tế, gia đình bà Bùi Thị L1 đã ở tại thửa đất từ năm 1995 cho
đến nay. Do đó, việc ông P, bà L1 cùng đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H, là phù hợp với thực tế sử dụng
đất và không vi phạm về chủ thể tham gia ký kết hợp đồng.
[2.3.5] Đối với ý kiến của phía bị đơn cho rằng tại mục diện tích đất trong
hợp đồng chuyển nhượng có dấu hiệu tẩy xóa từ 252m
2
thành 350m
2
, xét thấy:
Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình bà H đã làm hàng rào kiên cố quanh phần
đất nhận chuyển nhượng và xây dựng một căn nhà trên đất sử dụng ổn định đến
nay; quá trình sử dụng đất từ năm 1997 đến nay các bên đều thừa nhận sử dụng
đúng phần đất của mình và không tranh chấp với ai; tại Biên bản làm việc ngày
27/5/2003 do Ủy ban nhân dân xã E lập, xác nhận nội dung làm việc giữa ông Lê
Văn Đ và ông Trần Viết H5, theo đó các bên đã tiến hành đo đạc, kiểm tra diện
tích đất gia đình ông Lê Văn Đ đang sử dụng là 350m
2
và quá trình sử dụng đất,
ông Lê Văn Đ đã có Bản kê khai diện tích đất ngày 27/5/2003 xác định diện tích
đất sử dụng là 350m
2
, nên có đủ cơ sở xác định diện tích đất các bên thỏa thuận
chuyển nhượng là 350m
2
. Trên thực tế gia đình bà Nguyễn Thị H đang quản lý,
sử dụng diện tích đất là 345,9m
2
theo kết quả đo đạc của Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Đ1, thuộc một phần thửa đất số 203 (mới 23), tờ bản đồ số 34 (mới 81).
Việc quản lý, sử dụng đất của gia đình bà H là ổn định, không có tranh chấp với
ai, tuy nhiên các bên chưa thực hiện việc tách thửa sang tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[2.3.6] Từ những phân tích và nhận định trên, có cơ sở khẳng định ông Bùi
Đình P và bà Bùi Thị L1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông
11
Lê Văn Đ quyền sử dụng đất có diện tích là 350m
2
(diện tích trên thực tế là
345,9m
2
) theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 14/6/1997,
được Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B xác nhận ngày 18/6/1997. Do đó, bản
án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên công nhận Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Đình P, bà Bùi Thị L1 với
ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, với tổng diện tích chuyển nhượng là 345,9m
2
(trong đó có 60m
2
đất ở và 285,9m
2
đất nông nghiệp), đất thuộc thửa đất số 23 tờ
bản đồ số 81 (nay là thửa số 30, tờ bản đồ số 81), tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk), là có căn cứ và phù hợp với quy định của
pháp luật. Như vậy kháng cáo của bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L
cho rằng không có việc chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H, là
không có cơ sở chấp nhận, nên Hội đồng xét xử cần giữ nguyên bản án sơ thẩm
về nội dung công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi
Đình P, bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn Đ, bà Nguyễn Thị H và nguyên đơn bà
Nguyễn Thị H được quyền liên hệ với cơ quan nhà nhước có thẩm quyền để làm
thủ tục tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
[2.4] Đối với kháng cáo và ý kiến của phía bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ
thẩm đã không triệu tập và đưa những người xác nhận trong hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/6/1997 là Cán bộ địa chính xã E và đại diện
Ủy ban nhân dân xã E tham gia tố tụng, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Xét thấy: Việc thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
sự tự nguyện của các bên, nội dung của hợp đồng không vi phạm đạo đức và điều
cấm của pháp luật; trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, cán bộ địa chính và Ủy ban
nhân dân xã E đã xác nhận hợp đồng là thực hiện nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật và không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì đến tranh chấp của các bên
đương sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân xã E tham gia
tố tụng là đúng quy định, nên kháng cáo của bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm
có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là không có căn cứ chấp nhận. Đối với
ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng nguyên
đơn có yêu cầu xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần phải đưa
cơ quan cấp giấy là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (nay là Sở Nông nghiệp
và Môi trường tỉnh Đ) vào tham gia tố tụng, thấy rằng: Việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Phi L trên cơ sở kê khai, yêu cầu của người sử
dụng đất và việc cấp giấy là đúng trình tự thủ tục theo quy định, nên yêu cầu này
của phía bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[2.5] Đối với kháng cáo của bị đơn cho rằng các bên đang tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng liên quan đến diện tích đất là 345,9m
2
, nhưng bản án sơ thẩm
tuyên vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi
Đình P và bà Trần Thị Phi L đối với toàn bộ phần diện tích đất 934,7m
2
là không
đúng, thấy rằng:
[2.5.1] Ông Bùi Đình P được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số H 015777 đối với thửa đất số 203, tờ bản đồ số 34,
diện tích 1.215m
2
. Năm 1997, ông P và bà L1 đã chuyển nhượng diện tích đất là
345,9m
2
(một phần thửa đất số 203) cho ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị H,
12
nhưng đến ngày 16/01/2012, ông P lại ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền
sử dụng thửa đất có diện tích 1.215m
2
cho bà Trần Thị Phi L, là không đúng quy
định của pháp luật và bị vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự. Tuy nhiên, giữa ông P và bà L không có tranh chấp gì đối với phần đất đã
chuyển nhượng và trong vụ án này, giữa nguyên đơn và bị đơn chỉ tranh chấp đối
với phần diện tích đất 345,9m
2
đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H, nhưng
bản án sơ thẩm đã tuyên vô hiệu phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L đối với phần diện
tích đất 934,7m
2
(gồm phần đất đã chuyển nhượng cho bà H và cả phần đất còn
lại bà L đang quản lý, sử dụng), là không phù hợp và ảnh hưởng đến quyền sử
dụng đất của bà L. Như đã nhận định ở trên, do công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Đình P, bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn
Đ, bà Nguyễn Thị H, đối với phần diện tích đất là 345,9m
2
nên chỉ cần tuyên vô
hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/01/2012, giữa
ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L đối với phần diện tích đất 345,9m
2
(phần đất
đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Lê Văn Đ), là phù hợp và
đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
[2.5.2] Ngoài ra, quá trình sử dụng đất, vào ngày 03/3/2012, bà Trần Thị Phi
L ký hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng thửa đất trên cho bà Lê
Thị H4 và ông Nguyễn Văn T2, thửa đất số 203A (tách từ thửa 203), tờ bản đồ số
34, diện tích 270m
2
, đã được chỉnh lý tách thửa 203A sang tên bà Lê Thị H4 và
ông Nguyễn Văn T2 vào ngày 27/3/2012. Đối với phần diện tích đất này các bên
không có tranh chấp và thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đúng quy định, nên không đề cập giải quyết đối với diện tích đất mà bà Lê Thị H4
và ông Nguyễn Văn T2 đang quản lý, sử dụng.
[2.5.3] Như vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Bùi Đình
P và bà Trần Thị Phi L và sửa một phần bản án sơ thẩm về nội dung tuyên vô hiệu
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Đình P với bà Trần Thị
Phi L như sau: T3 vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L, được công chứng tại
Văn phòng C đối với phần diện tích 345,9m
2
tại xã E, thành phố B.
[2.6] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài
sản gắn liền với đất số CR 220150, số vào sổ CS - 15207, thửa đất số 23 (cũ 203),
tờ bản đồ số 81 (cũ 34), diện tích 934,7m
2
tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, do
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 23/9/2019 đứng tên bà Trần Thị
Phi L. Xét thấy: Bà L đã kê khai và được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất này vào ngày 23/9/2019 đối với diện tích đất là 934,7m
2
, trong đó có diện tích
đất 345,9m
2
được công nhận là thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị H và do
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình
P và bà Trần Thị Phi L, là vô hiệu đối với phần diện tích đất 345,9m
2
. Do đó, bà
L có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với diện tích thực tế sử dụng.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên bị đơn ông
Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, gồm chi phí
sao lục hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất, chi phí đo đạc kỹ thuật thửa
13
đất, chi phí xem xét thẩm định, chi phí định giá tài sản và chi phí trưng cầu giám
định chữ ký, với tổng số tiền là 27.235.000 đồng. Cụ thể: Ông Bùi Đình P phải
chịu 13.617.500 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng đã chi phí tố tụng đã nộp là
8.722.000 đồng và ông P còn phải nộp số tiền là 4.895.500 đồng; bà Trần Thị Phi
L phải chịu chi phí tố tụng số tiền là 13.617.500 đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không phải chịu chi phí tố tụng và được nhận
lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là 18.513.000 đồng, sau khi thu được từ
bà Trần Thị Phi L và ông Bùi Văn P2.
[4] Về án phí:
[4.1] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận
nên bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L, mỗi người phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và
được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng.
[4.2] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần và sửa một
phần bản án sơ thẩm, nên bị đơn bà Trần Thị Phi L và ông Bùi Đình P không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà Trần Thị Phi L được nhận lại 300.000 đồng tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Bùi Đình P và bà
Trần Thị Phi L; sửa một phần quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số
50/2025/DS-ST ngày 25/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
Áp dụng: Các Điều 122, 128, 135, 697, 699, 700, 701 và 702 của Bộ luật
Dân sự năm 2005; Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 101, 166,
167 và 188 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26
và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi
Đình P và bà Bùi Thị L1 với ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị H, lập ngày
14/6/1997 được Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là Ủy ban
nhân dân phường E, tỉnh Đắk Lắk) xác nhận ngày 18/6/1997, về việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có diện tích là 345,9m
2
(trong đó có 60m
2
đất ở và
285,9m
2
đất nông nghiệp), đất thuộc thửa đất số 23 (nay là thửa 30), tờ bản đồ số
81, tại xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk), được Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 220150 ngày 23/9/2019, đứng
14
tên bà Trần Thị Phi L. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa đất số 625; phía Tây
giáp thửa đất số 641; phía Nam giáp đường thôn; phía Bắc giáp một phần thửa đất
số 140 (Vị trí tứ cận cụ thể theo sơ đồ Trích đo hiện trạng thửa đất do Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Đ1 lập ngày 03/5/2024 đính kèm theo bản án).
Bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng
và được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục tách
thửa và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
2. T3 vô hiệu một phần Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập
ngày 16/01/2012, giữa ông Bùi Đình P với bà Trần Thị Phi L, được công chứng
tại Văn phòng C, số công chứng 315, quyển số 01/CC-SCC/HĐGD, đối với phần
diện tích 345,9m
2
(phần diện tích đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H) tại xã
E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường E, tỉnh Đắk Lắk).
Bà Trần Thị Phi L được quyền liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
để làm thủ tục điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 220150, ngày 23/9/2019 theo đúng
diện tích và hiện trạng sử dụng đất trên thực tế.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Bùi Đình P phải chịu chi phí tố tụng là 13.617.500
đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng đã chi phí tố tụng mà ông P đã nộp là
8.722.000 đồng và ông P còn phải nộp số tiền là 4.895.500 đồng.
Bà Trần Thị Phi L phải chịu chi phí tố tụng số tiền là 13.617.500 đồng.
Bà Nguyễn Thị H không phải chịu chi phí tố tụng và được nhận lại số tiền
tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là 18.513.000 đồng, sau khi thu được từ bà Trần
Thị Phi L và ông Bùi Văn P2.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Bùi Đình P và bà Trần Thị Phi L,
mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và
được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp (do ông Phan Phước B2
nộp thay), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0004210
ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (nay
là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đắk Lắk).
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Trần Thị Phi L không phải chịu án
phí dân sự phúc thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đồng (do ông Trần Hữu T nộp thay) theo Biên lai thu số 0000826 ngày 16/9/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn ông Bùi Đình P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của

15
Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao (Vụ 2);
- VKSND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1 – Đắk Lắk);
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Công Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 24/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 23/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm