Bản án số 221/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 221/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 221/2026/HS-PT ngày 25/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 221/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bùi Thanh S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 221/2026/HS-PT Bản án số 221/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 221/2026/HS-PT Bản án số 221/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 221/2026/HS-PT
Ngày: 25-9-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Giang
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2026/TLPT-HS ngày 27 tháng
8 năm 2026. Do có kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh S đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số 145/2026/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 3 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Bùi Thanh S, sinh ngày 28/3/2001, tại tỉnh Tây Ninh;
căn cước công dân số: ************; nơi cư trú: Ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh; chỗ
ở hiện nay: Ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học
vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Bùi Văn K, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Cà N, sinh năm 1978; vợ
và con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày
29/4/2026 cho đến khi có lệnh mới, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có 01 bị cáo và 01 người bị hại không có kháng cáo,
không bị kháng cáo, kháng nghị, nên không triệu tập.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 19/01/2022, sau khi các bị cáo Bùi Thanh S
và Nguyễn Nhựt T uống rượu, bia tại nhà một người thanh niên tên Lưu B thuộc
ấp S, xã H, tỉnh Tây Ninh. Bị cáo S rủ bị cáo T đi xuống nhà của bị hại Nguyễn
2
Hoàng N1 tại ấp L, xã H, tỉnh Tây Ninh để hỏi lý do tại sao bị hại N1 nói bị cáo
S cùng với B1 (người làm thuê cho N1) lấy tiền làm ăn trước đó của bị hại N1 bỏ
đi trốn mà không trả. Bị cáo T đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter
(không rõ biển số) chở bị cáo S đến nhà bị hại N1.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả 02 bị cáo đi đến nhà của bị hại N1, nhìn thấy
nhà đóng cửa rào, nhưng cửa chính không đóng, bị cáo S gọi tên bị hại N1 nhiều
lần nhưng không thấy trả lời. Bị cáo S đi qua quán đối diện nhặt lấy 02-03 vỏ chai
bia S đỏ ném vào sân nhà của bị hại N1, sau đó lên xe mô tô cho bị cáo T điều
khiển chở về nhà.
Khi các bị cáo S và T đi đến đoạn đường Tỉnh lộ 825 thuộc ấp T, xã H, tỉnh
Tây Ninh, bị hại N1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Innova, biển số 62A-170.47 đuổi
kịp. Xe ô tô của bị hại N1 xảy ra va chạm với xe mô tô do bị cáo T điều khiển,
làm cho các bị cáo T và S ngã xuống đường. Ngay lúc này, bị cáo S liền nhặt 01
cục đá, loại đá hoa cương trước một cửa tiệm làm mộ bia gần đó, chọi thẳng vào
kính chắn gió phía trước của xe ô tô, làm kính bị vỡ. Cùng lúc, bị cáo T chạy đến
nắm tay nắm cửa bên phải xe ô tô của bị hại N1, giật mạnh để mở cửa làm hư
hỏng phần tay nắm cửa. Sau đó, bị hại N1 điều khiển xe ô tô chạy thoát khỏi hiện
trường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL.ĐGTS ngày 27/5/2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận: Tổng thiệt
hại của xe ô tô biển số 62A-170.47 giá trị 14.570.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 37/CT-VKSKV3 ngày 19 tháng 5 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh, đã truy tố các bị cáo Bùi Thanh S và
Nguyễn Nhựt T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật
Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 145/2026/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh, đã xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm d khoản 1 Điều 52; các điểm b, i và s
khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật Hình
sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thanh S 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về: Tội danh và hình phạt đối với bị
cáo còn lại; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 22/7/2026, bị cáo Bùi Thanh S kháng cáo
một phần của án sơ thẩm với nội dung: Giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án
treo.
3
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Bùi Thanh S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận hành vi
phạm tội như nội của án sơ thẩm ghi nhận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Bùi Thanh S kháng cáo đúng thời hạn và đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo
thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét
hỏi tại phiên toà phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi
Thanh S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178
Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo. Mức hình phạt và
loại hình phạt đã tuyên phạt bị cáo là phù hợp, nên đề nghị không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo trình bày có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong
được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo.
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Thanh S có
Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định,
nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại
các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ việc: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi
phạm tội như nội dung của án sơ thẩm ghi nhận. Xét lời khai nhận của bị cáo phù
hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Bùi Thanh S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng
tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, là xét xử đúng người,
đúng tội, không oan cho bị cáo.
[3] Về quyết định hình phạt của cấp sơ thẩm và kháng cáo của bị cáo:
[3.1] Qua xem xét tính chất, mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội của
bị cáo gây ra; cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ
thẩm đã xem xét cho bị cáo theo quy định tại các điểm b, i và s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự; ngoài ra, cấp sơ thẩm còn áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội
có tích chất côn đồ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và tuyên
phạt bị cáo với mức án 09 tháng tù.
[3.2] Xét thấy: Về diễn biến vụ án, ban đầu các bị cáo S và T có lỗi, đó là
ném vỏ chai bia vào nhà bị hại N1 và bỏ đi về, nên hành vi này đã chấm dứt. Việc
bị hại N1 dùng xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ đuổi theo các bị cáo và dùng
4
xe ô tô đâm va từ phía sau vào xe mô tô do bị cáo T đang điều khiển trên đường
chở bị cáo S ngồi phía sau. Làm cho xe mô tô và các bị cáo S và T ngã xuống
đường, dẫn đến các bị cáo S và T có hành vi phạm tội như trên. Như vậy, hành vi
phạm tội của các bị cáo có một phần lỗi rất lớn của bị hại, nhưng án sơ thẩm lại
nhận định cho rằng bị cáo S phạm tội có tính côn đồ là không chính xác, nên cấp
phúc thẩm xem xét lại theo hướng không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự đối với bị cáo S.
[3.3] Tại cấp phúc thẩm bị cáo S có cung cấp thêm tài liệu là Bản sao Sổ
hộ khẩu gia đình thể hiện bị cáo cùng cha ruột là ông K cùng với bà Bùi Thị N2
có mối quan hệ huyết thống là mẹ - con - cháu với nhau. Bà N2 là người được
Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, đây là tình tiết
giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và chưa được
cấp sơ thẩm xem xét cho bị cáo, nên ghi nhận xem xét cho bị cáo.
[3.4] Xét, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Điều 65 Bộ
luật Hình sự và được hướng dẫn tại văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC
ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng
án treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã
hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên có
căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo hướng giữ nguyên mức hình phạt
và cho hưởng án treo. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí do kháng cáo được
chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh S. Sửa một phần về hình phạt
đối với bị cáo Bùi Thanh S và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự đối với bị cáo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 145/2026/HS-ST ngày 21 tháng 7
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh.
2. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thanh S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
3. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; các điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Thanh S 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày 25/9/2026.
5
Giao bị cáo Bùi Thanh S cho Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Tây Ninh để giám
sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp
với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị
cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định
của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị
cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp
thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt
của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều
56 Bộ luật Hình sự. Trong trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi
cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án Hình sự năm 2025.
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Thanh S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 3 (02);
- VKSND Khu vực 3 (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (02);
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 221/2026/HS-PT Bản án số 221/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 221/2026/HS-PT Bản án số 221/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất