Bản án số 22/2026/HS-ST ngày 25/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2026/HS-ST ngày 25/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 22/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lý Chiềm S, sinh ngày 09/10/1995 tại xã Th, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 22/2026/HS-ST Bản án số 22/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HS-ST Bản án số 22/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
Bản án số: 22/2026/HS-ST
Ngày 25-9-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Hiếu.
2. Ông Lù Xuân Tờ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lù Ngọc Sơn - Thư ký viên Tòa án nhân dân
Khu vực 6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên tòa: Ông Sin Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên
Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2026/TLST-HS ngày
07/9/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2026/QĐXXST-HS ngày
15/9/2026 đối với bị cáo:
Lý Chiềm S, sinh ngày 09/10/1995 tại xã Th, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư
trú: Thôn X, xã Th, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ
văn hoá: 07/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; căn cước công dân số: ************, do Cục trưởng Cục cảnh sát quản
lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 08 tháng 8 năm 2024; con
ông Lò Dùn S, sinh năm 1977 và bà Lý Mùi L, sinh năm 1979; vợ: Phàn Mùi
Ch, sinh năm 1989 (đã ly hôn năm 2025), con: 01 con sinh năm 2019; tiền án,
tiền sự: Không. Nhân thân: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn
Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2026, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Chiềm S: Ông Nguyễn Xuân Gi - Trợ giúp
viên pháp lý thuộc Chi nhánh Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên
Quang, vắng mặt.
- Bị hại: Bà Phàn Mùi Ch, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn X, xã Th, tỉnh
Tuyên Quang, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Dùn S, sinh năm: 1977,
địa chỉ: Thôn X, xã Th, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Người làm chứng: Bà Phàn Mùi S1, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 07/7/2026 Lý Chiềm S, sinh năm 1995, trú
tại thôn X, xã Th, tỉnh Tuyên Quang đang một mình ở nhà thì nghe thấy ở nhà
Lò Dùn S, sinh năm 1977, trú cùng thôn (cách nhà S khoảng 80 mét) có tiếng
của Phàn Mùi Ch, sinh năm 1989, trú tại thôn X, xã Th, tỉnh Tuyên Quang (là vợ
cũ của S đã ly hôn năm 2025, Ch và con ở chung với bố mẹ chồng) quát mắng
Lý Vàn L1, sinh năm 2019, trú cùng thôn (là con chung của S và Ch) do L1 đòi
chơi điện thoại nhưng Ch không cho và quát mắng L1, nên S nghe thấy bực tức
và đi bộ đến đứng trước cổng nhà S, S thấy Ch đang ngồi ở hành lang phía trước
nhà S bẻ ngô, còn L1 cũng đang chơi cạnh đó. S đi thẳng đến vị trí chiếc xe mô
tô của Ch đang dựng ở gian để xe cạnh sân trước nhà với ý định đạp đổ xe mô tô
của Ch, thấy vậy Ch đứng dậy đi đến vị trí S đứng để can ngăn, S liền dùng tay
phải giơ lên tát 02 phát liên tiếp vào má bên trái của Ch. Bị S tát, Ch đi theo
hành lang về phía nhà bếp, Ch vừa đi được khoảng 03 mét thì S cũng đi theo
sau, khi S đến gần bàn để đồ đạc của nhà ông S kê ở góc hành lang phía trước
cửa nhà chính giáp với nhà bếp, S nhìn thấy 01 ốp giật nổ của máy cày bằng kim
loại (kích thước đường kính là 16,5 cm, trọng lượng là 0,96 kg) để trên bàn, S
liền dùng tay phải cầm ốp giật nổ trên giơ lên ngang đầu ném 01 phát hướng về
phía Ch đang đứng (cách vị trí đứng của S là 2,7 mét) trúng vào vùng đầu của
Ch. Do bị đau nên Ch ngồi xổm xuống hành lang, hai tay giơ lên ôm đầu thì
thấy vết thương rách da, chảy máu nhiều, Ch bỏ chạy theo hành lang nhà bếp
hướng lên đồi chè sau nhà gọi gia đình đến giúp, còn S đi về nhà. Ch được gia
đình đưa đến Bệnh viện đa khoa Khu vực B, tỉnh Tuyên Quang điều trị. Đến
ngày 08/7/2026, Ch xuất viện đến Công an xã Th tố giác hành vi Cố ý gây
thương tích của S và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với S.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
1336/KLTTCT-KTHS ngày 20/7/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Tuyên Quang, kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phàn Mùi Ch tại
thời điểm giám định là 1% (một phần trăm); Cơ chế hình thành thương tích: Vết
thương đang liền sẹo vùng đỉnh trái do vật tày dạng có cạnh gây ra; Vật gây
thương tích: Ốp giật nổ của máy cày gửi giám định có thể gây ra được vết
thương vùng đỉnh trái trên thân thể Phàn Mùi Ch”.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lý Chiềm S đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình, thể hiện tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản
hỏi cung bị cáo, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với
lời khai của những người làm chứng, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện
trường, phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác
có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án: 01 (một) chiếc ốp giật nổ của máy cày, thân hình
trụ tròn làm bằng kim loại màu đen, xung quanh có các lỗ để bắt ốc vít cố định
với thân máy, mặt ngoài ốp hình tròn có in chữ “HONGANH”, kích thước mặt
3
ngoài đường kính 16,5 cm, tại vị trí bờ mép mặt trong để bắt ốc vít có bờ mép có
cạnh, đường kính mặt trong 20 cm, bên trong ốp có bộ mâm giật khởi động bằng
kim loại và bằng nhựa, trọng lượng chiếc ốp trên là 0,96 kg.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lý Chiềm S và bị hại Phàn Mùi Ch đã tự
nguyện thoả thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại và không yêu cầu xem
xét giải quyết trong vụ án này.
Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSKV6, ngày 07/9/2026 của Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 6 – Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lý Chiềm S về tội: Cố ý
gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Chiềm S đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình,
đúng với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ
án, đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang
truy tố và không kêu oan.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết
định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang, nội dung
của Cáo trạng.
Tại phiên tòa bị hại bà Phàn Mùi Ch có đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX)
về hình phạt xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự
đề nghị HĐXX công nhận sự thoả thuận giữa bị cáo với bị hại về số tiền bị cáo
phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại là 10.000.000đồng (Mười triệu
đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phàn Dùn S đề nghị HĐXX
về hình phạt xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật và xin được nhận lại vật
chứng mà tài sản của ông, do ông không có mặt thời điểm bị cáo gây án nên
không biết bị cáo sử dụng tài sản của ông S để thực hiện hành vi phạm tội đối
với bị hại bà Phàn Mùi Ch.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang thực hành
quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề
nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Chiềm S phạm tội: Cố ý gây thương tích
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Chiềm S từ 06
(Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật
hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho ông Phàn Dùn S: 01
(một) chiếc ốp giật nổ của máy cày, thân hình trụ tròn làm bằng kim loại màu
đen, xung quanh có các lỗ để bắt ốc vít cố định với thân máy, mặt ngoài ốp
hình tròn có in chữ “HONGANH”, kích thước mặt ngoài đường kính 16,5 cm,
tại vị trí bờ mép mặt trong để bắt ốc vít có bờ mép có cạnh, đường kính mặt
trong 20 cm, bên trong ốp có bộ mâm giật khởi động bằng kim loại và bằng
4
nhựa, trọng lượng chiếc ốp trên là 0,96 kg.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị
cáo và bị hại, buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền thiệt
hại do sức khoẻ bị xâm phạm là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).
Về án phí: Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân
sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lý Chiềm S không có ý kiến đối đáp lại với luận tội và quan điểm
giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Tuyên Quang.
Người bào chữa cho bị cáo Lý Chiềm S có đơn xin xét xử vắng mặt, tại
Bản luận cứ bào chữa đã gửi cho HĐXX: Bị cáo Lý Chiềm S là người dân tộc
thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu
biết pháp luật còn hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo luôn thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 134;
điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo từ 06 đến 09
tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX giải
quyết theo quy định của pháp luật. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án miễn toàn bộ án phí cho bị cáo S.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lý Chiềm S: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội là sai trái, vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Mong Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của
Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị
cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt người làm chứng bà Phàn Mùi S1 không có lý do
nhưng đã có đủ lời khai trong hồ sơ; vắng mặt người bào chữa cho bị cáo nhưng
đã có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo, tại phiên
tòa bị cáo nhất trí tiếp tục xét xử vụ án, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh
hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 291, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX
5
tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội của bị
cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của
bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các vật chứng,
chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận bị
cáo Lý Chiềm S đã có hành vi dùng tay phải cầm 01 ốp giật nổ của máy cày
bằng kim loại (kích thước đường kính là 16,5 cm, trọng lượng là 0,96 kg) là
hung khí nguy hiểm ném trúng vào vùng đầu của Phàn Mùi Ch. Hậu quả, Ch bị
thương tích ở vùng đầu với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (Một phần trăm). Cáo
trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang truy tố bị cáo Lý
Chiềm S về tội: Cố ý gây thương tích là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không
oan sai.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi
phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi cố
ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện,
trực tiếp xâm phạm, gây tổn thương cơ thể của người khác được pháp luật bảo
vệ. Do đó cần phải xử lý bị cáo với mức hình phạt tương xứng với hậu quả do
hành vi phạm tội bị cáo gây ra, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành
công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị
cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về nhân thân: Không có. Về tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét
xử, bị cáo Lý Chiềm S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị
cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại
điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt: Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử cần áp
dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời
gian là cần thiết, xử phạt bị cáo một mức án nhất định để bị cáo có cơ hội cải tạo
tốt, sớm trở về với gia đình và thành người công dân có ích cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị hại bà
Phàn Mùi Ch yêu cầu bị cáo Lý Chiềm S bồi thường thiệt hại do sức khoẻ của bị
hại bị xâm phạm với số tiền là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng), tại phiên tòa,
bị cáo chấp nhận bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền mà bị hại đã yêu cầu.
Xét thấy ý kiến của bị cáo tại phiên tòa về mức bồi thường thiệt hại cho bị hại là
hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với: 01 (Một) chiếc ốp giật nổ của máy cày,
thân hình trụ tròn làm bằng kim loại màu đen, xung quanh có các lỗ để bắt ốc vít
cố định với thân máy, mặt ngoài ốp hình tròn có in chữ “HONGANH”, kích
6
thước mặt ngoài đường kính 16,5 cm, tại vị trí bờ mép mặt trong để bắt ốc vít có
bờ mép có cạnh, đường kính mặt trong 20 cm, bên trong ốp có bộ mâm giật khởi
động bằng kim loại và bằng nhựa, trọng lượng chiếc ốp trên là 0,96 kg. Quá trình
điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã xác định số vật chứng trên có nguồn gốc thuộc sở hữu của ông Phàn Dùn
S, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ông S không có mặt, không biết
được việc bị cáo sử dụng tài sản của ông để gây án, ông S xin nhận lại tài sản. Xét
thấy vật chứng trên không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên Hội
đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự trả
lại cho chủ sở hữu là ông Phàn Dùn S là phù hợp.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị
cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và những vấn đề
khác của vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
[10] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo áp dụng hình phạt cải
tạo không giam giữ từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng, Hội đồng xét xử
nhận thấy qua các tài liệu xác minh có trong hồ sơ và lời khai tại phiên toà của
bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã xác định
được bị cáo Lý Chiềm S thường xuyên có hành vi uống rượu, gây gổ, đánh
nhau, hành hạ vợ con, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thôn, việc để cho bị
cáo chấp hành án hình sự tại cộng đồng không đảm bảo được tính răn đe, giáo
dục, phòng ngừa tội phạm chung nên không được chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo Lý Chiềm S là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên
Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân
sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38, Điều 47, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật
Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14,
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lý Chiềm S phạm tội: Cố ý gây thương tích.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Chiềm S 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn
7
tù được tính từ ngày bị cáo Lý Chiềm S đi thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Lý Chiềm S tự nguyện
bồi thường cho bị hại bà Phàn Mùi Ch, cụ thể: Bị cáo Lý Chiềm S có nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại do sức khoẻ của bị hại Phàn Mùi Ch bị xâm phạm, với số
tiền là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn
yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng
tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự tương ứng với số tiền gốc và thời gian chưa thi hành án.
4. Biện pháp tư pháp và về xử lý vật chứng: Trả lại cho người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phàn Dùn S 01 (Một) chiếc ốp giật nổ của máy cày,
thân hình trụ tròn làm bằng kim loại màu đen, xung quanh có các lỗ để bắt ốc vít
cố định với thân máy, mặt ngoài ốp hình tròn có in chữ “HONGANH”, kích
thước mặt ngoài đường kính 16,5 cm, tại vị trí bờ mép mặt trong để bắt ốc vít có
bờ mép có cạnh, đường kính mặt trong 20 cm, bên trong ốp có bộ mâm giật khởi
động bằng kim loại và bằng nhựa, trọng lượng chiếc ốp trên là 0,96 kg.
(Tang vật nêu trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Phân trại
tạm giam Bắc Quang thuộc Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Tuyên Quang).
5. Về án phí: Bị cáo Lý Chiềm S được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ
thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4,
6, 7 và 36 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang;
- Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 - Tuyên Quang;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 22/2026/HS-ST Bản án số 22/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2026/HS-ST Bản án số 22/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất