Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 08/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 22/2025/DS-ST ngày 08/08/2025 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 22/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/08/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 22/2025/DS-ST
Ngày 08/8/2025
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu
cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Xuân Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm và bà Hoàng Thị Duyên
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - TTòa án nhân dân
tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa:
Bà Ma Thị Thm - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08/7/2025 08/8/2025, tại Trụ sở Tán nhân dân tnh
Tuyên Quang, xét xử công khai vụ án thụ số: 24/2024/TLST- DS ngày 11 tháng
11 năm 2024 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản yêu cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x số 06/2025/QĐXXST-DS ngày
09/05/2025; Thông báo hoãn phiên tòa số 17/2025/TB-TA ngày 06/6/2025
Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 08/7/2025; giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ A, phường A,
thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (nay tA, phường A, tỉnh Tuyên Quang)
mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trung K
và ông ng Văn P; địa chỉ: M, phố H, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên
Quang (nay là tổ dân phố P, phường M, tỉnh Tuyên Quang) ông K mặt, ông
P vắng mặt;
2. Bị đơn: Thị H, sinh năm 1963; địa ch: Tổ G, phường A, thành phố
T, tỉnh Tuyên Quang (nay tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang) vắng mặt
người đại diện ủy quyền;
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Anh Bùi Tiến Đ, sinh năm 1989;
địa chỉ: Tổ G, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (nay là tổ G, phường A,
tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND thành phố T (Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng UBND
phường A, tỉnh Tuyên Quang);
- UBND phường A, tỉnh Tuyên Quang;
Địa chỉ: phường A, tỉnh Tuyên Quang;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Đình Đ1; chức vụ: Chủ tịch.
Người đại diện theo y quyền của ông Đỗ Đình Đ1: Ông Đặng Quốc H1;
Chức vụ: Chuyên viên phòng Kinh tế hạ tầng và Đô thị phường A, tỉnh Tuyên
Quang mặt tại phiên tòa 08/7/2025, đơn xin vắng mặt tại phiên tòa
08/8/2025;
- Bà Bùi Thị L, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên
Quang (nay Thôn Đ, phường M, tỉnh Tuyên Quang) mặt tại phiên tòa
08/7/2025, vắng mặt tại phiên tòa 08/8/2025;
- Bà Bùi ThTrung K1, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố
T, tỉnh Tuyên Quang (nay là tổ A, phường M, tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
- Bà Bùi Thị T, sinh năm 1962; Tổ 04, phưng A, thành phố T, tỉnh Tuyên
Quang (nay là tổ D, phường A, tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
- Bùi Thị H2, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn A, N, huyện Y, tỉnh Tuyên
Quang (nay là thôn A, xã N, tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của L, bà H2, bà K1, bà T: Ông Bùi Văn
V, sinh năm 1959; địa ch: T A, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (nay
là tổ A, phường A, tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
- Anh Bùi Tiến Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ G, phường A, thành phố T,
tỉnh Tuyên Quang (nay là tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
- Chị Bùi Hồng L1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T,
tỉnh Tuyên Quang (nay tổ A, phường A, tỉnh Tuyên Quang) vắng mặt người
đại diện y quyền;
Người đại diện theo ủy quyền của chị L1: Anh Bùi Tiến Đ, sinh năm 1989;
địa chỉ: Tổ G, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (nay là tổ G, phường A,
tỉnh Tuyên Quang) – có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn ông Bùi
Văn V trình bày:
Bố ông cụ Bùi Văn T1, sinh năm 1923 (chết năm 2011) mẹ cụ
Nguyễn Thị B, sinh năm 1925 (chết năm 2019). Năm 1970 bố mẹ ông khai phá
được 01 diện tích đất 4.515,3m
2
ở thôn V, xã A (nay là tổ G, phường A) thành phố
T, sinh sống làm nhà trên mảnh đất đó. Khi còn nhỏ anh chị em cùng sống
với bố mẹ tại thửa đất bố mẹ khai phá được đến khi lớn lên xây dựng gia đình
riêng chỉ còn em út là ông Bùi Văn S lấy vợ và sinh sống cùng bố mẹ.
Đến ngày 07/03/2006, vchồng ông Bùi Văn S và bà Thị H tách ra sống riêng
(có sổ hkhẩu phô kèm theo), khi ra riêng bố mẹ ông cắt cho vợ chồng
ông S, H một phần đất diện tích 2.180m
2
từ thửa đất bố mẹ ông khai phá
được tính từ đỉnh đồi xuống hết đất phía bên phải nhìn từ đỉnh đồi xuống (phía
Tây giáp nhà ông H1, phía Đông giáp nhà ông T1, phía Nam giáp nhà bà H5, phía
Bắc giáp nhà T2) đã được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ngày 20/10/1995 mang tên ông Bùi Văn S (có đơn đăng quyền sử dụng đất
do ông Bùi Văn S kê khai 12/6/1992 ghi nguồn gốc đất là bố cho nhưng không
chcủa ông Bùi Văn T1, thời điểm khai bố mẹ ông ông Bùi Văn T1
bà Nguyễn Thị B vẫn còn sống). Bố mẹ ông vẫn sinh sống trong nhà 05 gian trên
thửa đất còn lại có diện tích 2.335,3m
2
và bố mẹ có ý định để chia cho 05 anh em
còn lại (chia bằng miệng không văn bản) nhưng anh chị em cùng thống nhất
để lại sau này làm nơi thờ cúng cha mẹ và dòng họ.
Ngày 05/12/2011, bố ông chết không để lại di chúc, vợ chồng ông Bùi Văn
S Thị H đã tlàm thủ tục khai chuyển toàn bộ diện tích đất của bố
mẹ ông đang quản lý, sử dụng về tên ông S, bà H được cấp Giấy chứng nhận
quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát
hành 864245; số vào sổ cấp giấy CNQSD đất CH 001116/AT do UBND thành
phố T cấp ngày 12/3/2012 mang tên hông Bùi Văn S và bà Lê Thị H trong khi
chưa có sự thống nhất của mẹ và các anh chị em các ông.
Tháng 8 năm 2014 mẹ ông Nguyễn Thị B họp gia đình viết 01 di chúc
cho mọi người (các con trai, con gái, con dâu) ký tên vào di chúc (có di chúc bn
photo kèm theo). Đến ngày 30/01/2016 gia đình họp thì vợ chồng ông S, bà H đề
nghị chuyển trả cho bà B căn nhà gỗ 5 gian, một gian phía trái gia đình ông S gi
lại (có biên bản kèm theo). Đến ngày 10/02/2016 gia đình lại họp với lý do B
không đồng ý vì bà cho rằng đất là của bà, bà không nhận chuyển nhượng của ai
(có biên bản kèm theo).Vì vậy ngày 10/02/2016 gia đình đã họp lại, ông S, H
trình bày rằng để thuận tiện trong việc đóng thuế nên đã khai cấp giấy chng
nhận luôn cả phần đất của bmẹ ông vào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của gia đình đồng ý trả lại đất, nhà cửa, phần diện tích tăng thêm cho m
ông để làm nhà thờ họ (có biên bản phô kèm theo, bản gốc do mẹ tôi giữ nay
mất đã bị thất lạc). Lúc đó mới biết vợ chồng ông S, H đã gộp hết cả đất
của bố mẹ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông S.
Năm 2019 khi mẹ ông chết vợ chồng ông S không thực hiện thỏa thuận
trước đó trả lại phần đất cho mẹ anh chị em các ông để làm nơi thờ tự. Đến
năm 2023 mẹ con H đã tự ý thủ tục phân chia di sản thừa kế tặng cho con
trai là anh Bùi Tiến Đ toàn bộ din tích đất là di sản của bố mẹ ông để lại.
Ông xác định diện tích đất bố mẹ ông để lại chưa được chia di sản thừa kế, việc
ông S cấp giấy chứng nhận, sau đó anh Đ tự làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận
mang tên anh Đ là không đúng pháp luật. Nên ông khởi kiện đề nghị Tòa án nhân
dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết: Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 864245 do UBND thành
phT cấp ngày 12/3/2012 mang tên hộ ông Bùi Văn S Thị H phân
chia di sản thừa kế cho 05 người thuộc hàng thừa kế thnhất của cụ T1 cụ B
gồm: Bùi Thị L, Bùi Văn V, i Thị Trung K1, Bùi Thị T, Bùi Thị H2 được hưởng
2..335,3m
2
đất do ông đứng tên sử dụng của 5 anh chị em nêu trên; phần đất còn
lại chia cho ông Bùi Văn S được hưởng. Đề nghị chia di sản thừa kế bằng hiện vt
(quyền sử dụng đất).
Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn bà Thị H trình bày:
Năm 1988 đăng kết hôn với ông Bùi Văn S, tại UBND xã A (nay
phường A), thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn sống cùng bố chồng
là cụ Bùi Văn T1 và mẹ chồng là cụ Nguyễn Thị B. B mẹ chng bà có 06 người
là bà Bùi Thị L, i Văn V, Bùi Thị K1, Bùi Thị T, Bùi Văn S, Bùi Thị H2 hai cụ
không con riêng, không nhận con nuôi. Khi lấy ông S thì còn T, H2
chưa lấy chồng nên vẫn cùng hai cụ. Tháng 11 năm 1988 bà T ra riêng. Năm
1993 bà H2 lấy chồng cũng ra ở riêng tại nhà chồng. Ông Bùi Văn V đã được bố
mẹ cho đất ra ở riêng, nhưng ông đã bán.
Toàn bộ diện tích đất hiện nay đang sử dụng có nguồn gốc là do cụ T1, cụ
B khai phá. Sau khi kết hôn vchng muốn mua đất (của L) đra riêng
nhưng cụ T1, cụ B không đồng ý vì các con ra riêng hết rồi nên hai cụ mun có
con cùng. Nguồn gốc của hai cụ khai phá nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Năm 1995 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên
Bùi Văn S (thời điểm cấp giấy gia đình H gồm 06 người: cụ T1, cụ B, ông S,
bà H, anh Bùi Tiến Đ và chị Bùi Hồng L1) thuộc thửa s 44, tờ bản đồ số 3; diện
tích 2180m
2
; địa ch: Đ, V, A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. C T1 và ông S
cùng đi khai, đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012 được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác gn
liền với đất tên hộ ông Bùi Văn S Lê Thị H thuộc thửa số 18, tờ bản đồ số
62; diện tích 4515,3m
2
; địa chỉ: Thôn V, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
(nay là tổ G, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang), diện tích tăng lên so với
sổ cấp năm 1995 do hợp thửa đất trồng cây lâu năm.
Năm 2011 cụ T1 chết, cụ B chết năm 2019, khi chết hai cụ không để lại di
chúc. Năm 2022 ông i Văn S chết không để lại di chúc. Toàn bdiện tích hai
cụ khai phá hiện nay do anh Bùi Tiến Đ con của và ông S quản lý, sử dụng và đã
được chỉnh lý trong sổ từ ngày 20 tháng 10 năm 2022.
Hiện nay trên đất nhà xây cấp 4 lợp tôn, một cái chuồng gà. cam đoan không
xây thêm công trình kiến trúc trên đất và không trồng cây trên diện tích đt
đang có tranh chấp.
Theo bản tự khai, biên bản hòa giải anh Bùi Tiến Đ người đại diện theo ủy
quyền của Thị H chBùi Hồng L1 đồng thời người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trình bày:
Anh chịcon của ông Bùi Văn S và bà Lê Thị H. Anh Đ đồng ý nhận y
quyền của mẹ anh bà H và em gái Bùi Hồng L1 đến khi giải quyết xong vụ án.
Về nguồn gốc đất: Toàn bộ diện tích đất hơn 4515,3m
2
do cụ Bùi Văn
T1 Nguyễn Thị B (ông nội) anh khai phá. Ông nội anh 06 ngưi
con gồm: Bùi Thị L, Bùi Văn V, Bùi Thị Trung K1, Bùi Thị T, Bùi Thị H2 và bố
Bùi Văn S. Từ khi sinh ra anh ở cùng bố mẹ và ông bà nội.
Anh không nhất trí với ý kiến của ông V. Bìa đnăm 1995 đứng tên bố anh
Bùi Văn S cấp lần đầu, ông V đã được chia đất đã bán. Bmẹ anh np
thuế từ ngày được cấp giấy đến bây giờ. Đến năm 2012 gia đình kê khai, làm
thtục gộp đất đồi với đất đã được cấp GCN quyền sử dụng đất năm 1995 vào
chung một sổ đã được cấp GCN quyền sử dụng đất số 864245, số vào sổ
CH 001116 AT do UBND thành phố T cấp ngày 12/3/2012 cho hgia đình ông
Bùi Văn S và bà Lê Thị H diện tích 4515.3m
2
. Năm 2016 ông V có yêu cầu họp
gia đình đòi chia đất nhưng bố mẹ anh không đồng ý và không bất kỳ biên bn
nào. Anh không biết tại sao ông V có biên bản họp gia đình có chữ ký của bố mẹ
anh (anh nghi đây là chữ ký giả mạo ca bố mẹ anh) vì không có bản viết tay, chỉ
có bản photo, làm giả chữ ký. Năm 2022 bố chết không để lại di chúc, hàng tha
kế thnhất của bố anh gồm bà H, chị Bùi Hồng L1 anh. Hàng thừa kế thnht
của bố anh thống nhất để lại toàn bộ di sản thừa kế cho anh đứng tên diện tích đt
4515.3m
2
đã được cấp GCN quyền sử dụng đất số 864245, số vào sCH
001116 AT do UBND thành phố T cấp ngày 12/3/2012 cho hộ gia đình ông Bùi
Văn S và bà Lê Thị H.
Diện tích bố anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
năm 1995, nguồn gốc đất là của ông bà nhưng không ai có ý kiến gì. Đối với diện
tích đất ông V yêu cầu chia anh không nhất trí.Tài sản trên đất không còn do anh
đã san ủi lấy mặt bằng. Chi phí san ủi, tháo dỡ ngôi nhà 5 gian trong trường hợp
phải chia đất anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Hồng L1
trình bày: Mảnh đất gia đình chđang sinh sống nguồn gốc từ bìa đỏ chng
nhận quyền sử dng đất tên ông Bùi Văn S là bố đẻ chị, được Nhà nước cấp ngày
20 tháng 10 năm 1995. Ông Bùi Văn V là con trai cả đã được ông bà nội chị chia
đất xây nhà cùng thời điểm nêu trên, sau đó ông Bùi Văn V đã bán lại cho bà L2
hàng xóm gần nhà chị để đi chỗ khác sinh sống. Ông T1 bà B sống cùng với
gia đình chị trên mảnh đất hiện tại. Ông V và bốn người con gái đã đi lấy chồng
và ít khi đến thờ cúng thắp hương cho tổ tiên cũng như dòng họ. Việc ở chung và
phụng dưỡng ông bà đều là gia đình chị. Sau khi bố chchết gia đình chị vẫn duy
trì việc thờ cúng cho đến bây giờ.
Sau khi bố chchết năm 2022 gia đình chị đã làm thủ tục cho tặng anh chị
Bùi Tiến Đ theo đúng quy định của Nhà nước, cấp Sổ đỏ quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất đai mang tên Bùi Tiến Đ,
BD4245.
Việc kiện theo đơn của ông Bùi Văn V chthấy vô không căn cứ,
phân chia di sản thừa kế phần đất của ông nội chị. trưởng nam, trưởng
của dòng họ B1 nhưng ông V không thờ cúng btổ tiên, dòng họ, đất cũng
đã được ông bà cho chỗ đẹp hơn nhưng lại bán đi để ở nơi khác bây giờ lại vđòi
đất xây dựng thờ cúng trên mảnh đất tên bố chđã chuyển sang tên anh ch.
Chị đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V.
Tại bản tự khai người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị L,
Bùi Thị Trung K1, Bùi Thị T, bà Bùi Thị H2 cùng trình bày:
Năm 1970 bố mẹ các cụ Bùi Văn T1 và Nguyễn Thị B khai phá được 01
diện tích đất 4.515,3m
2
ở thôn V, xã A (nay là tổ G, phường A) thành phố T, sinh
sống làm nhà trên mảnh đất đó. Khi còn nhỏ anh chị em cùng sống với bố
mẹ tại thửa đất bố mẹ khai phá được đến khi lớn lên xây dựng gia đình ở riêng ch
còn em út là ông Bùi Văn S lấy vợ và sinh sống cùng bố mẹ.
Đến ngày 07/03/2006, vchồng ông Bùi Văn S bà Thị H tách ra sống
riêng (có sổ hộ khẩu phô kèm theo), khi ra riêng bố mẹ các bà có cắt cho v
chồng ông S, bà H diện tích đất 2.180m
2
từ thửa đất bmẹ các khai pđược
tính tđỉnh đồi xuống hết đất phía bên phải nhìn từ đỉnh đồi xuống (phía Tây giáp
nhà ông H1, phía Đông giáp nhà ông T1, phía Nam giáp nhà H5, phía Bắc giáp
nhà T2) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 00626QSDĐ, do UBND huyện Y cấp ngày
20/10/1995 mang tên ông Bùi Văn S khai 12/6/1992 ghi nguồn gốc đất b
cho nhưng không chcủa cụ T1, thời điểm khai bố mẹ các vẫn còn
sống, vẫn sinh sống trong nhà g 05 gian trên thửa đất còn lại diện tích
2.335,3m
2
bố mẹ ý định để chia cho 05 anh em còn lại (chia bằng ming
không có văn bản) nhưng anh chị em thống nhất để lại sau này làm nơi thcúng
cha mẹ và dòng họ.
Ngày 05/12/2011, cụ T1 chết không để lại di chúc, vợ chồng ông S và bà H
đã tự làm thủ tục kê khai chuyển toàn bộ diện tích đất của các cụ đang quản , sử
dụng về tên ông S, bà H và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BĐ 864245; số vào sổ
cấp Giấy CNQSD đất CH 001116/AT do UBND thành phố T cấp ngày 12/3/2012
mang tên hộ ông Bùi Văn S Lê Thị H trong khi chưa sự thống nhất của
mẹ và các anh chị em trong gia đình
Tháng 8 năm 2014 cụ B họp gia đình và viết 01 di chúc cho mọi người (các
con trai, con gái, con dâu) tên vào di chúc (có di chúc bản photo kèm theo).
Đến ngày 30/01/2016 gia đình họp thì vợ chồng ông S, H đề nghị chuyển trả
cho cụ B căn nhà gỗ 5 gian, một gian phía trái gia đình ông S gilại (có biên bản
kèm theo). Đến ngày 10/2/2016 gia đình lại họp với do cB không đồng ý
bà cho rằng đất là của cụ, cụ không nhận chuyển nhượng của ai (có biên bản kèm
theo).Vì vậy ngày 10/02/2016 gia đình đã họp lại, ông S, H trình bày rằng để
thuận tiện trong việc đóng thuế nên đã kê khai cấp giấy chứng nhận luôn cả phn
đất của bố mẹ vào trong giấy chứng nhận quyền sdụng đất ca gia đình và đng
ý trả lại đất, nhà cửa, phần diện tích tăng thêm cho cB để làm nhà thhọ. Lúc
đó mới biết vchồng ông S, bà H đã gộp hết cđất của bố mẹ vào giấy chng
nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông S.
Năm 2019 khi cụ B mất thì ông S, H đã không giữ đúng thoả thuận trước
đó là trả lại phần đất cho mẹ và các chị em các bà để làm nơi thờ tự, thậm chí còn
chửi bới không cho anh chị em về đó hương khói cho bmẹ. Tháng 9/2023, mẹ
con bà H đã tự ý làm thủ tục phân chia di sản thừa kế của ông S tặng cho con
trai là Bùi Tiến Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nay ông V khởi kiện tại Tòa án, các nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông V
và đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ca ông V.
Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Kim H3 Tổ trưởng tổ G, phường A, tỉnh
Tuyên Quang trình bày: Ông công dân sinh ra lớn lên tại tổ G, phường A,
tỉnh Tuyên Quang. Từ năm 1993-1998 ông H3 tổ trưởng, khoảng năm 1992-
1993 khi tiến hành lập Bản đồ giải thửa 299 các hộ gia đình tchdẫn diện tích
của nhà mình, bản thân ông H3 cũng đại diện gia đình đi chđất để hội đồng đo
đạc tiến hành đo vẽ. Phần lớn diện ch đất của gia đình ông giáp với đất của cụ
T1, cụ B hiện nay ranh giới đất giữa hai gia đình đã có hàng rào bằng gạch do gia
đình H (con dâu cụ T1) xây dựng. Trong quá trình sdụng đất hai gia đình
không xảy ra tranh chấp về ranh giới. Khoảng năm 2010 khi tiến hành lập bản đồ
địa chính diện tích đất của các thửa đất sự thay đổi nhưng ranh giới thửa đất
không thay đổi bởi thời điểm khai diện tích đất để đo vbản đồ giải thửa
các hộ không kê khai hết diện tích đất của thửa đất để giảm tiền thuế sử dụng đất
phải đóng. Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp ông H3 khẳng định
do cụ T1, cụ B khai phá.
Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Văn L3 trình bày: Năm 1971 gia đình
ông chuyển đến sinh sống tại diện tích đất hiện nay đang tại tổ G, phường A,
tỉnh Tuyên Quang. Khi gia đình ông chuyển đến đã thấy gia đình cụ T1 sdụng
diện tích đất hiện nay bà H cùng các con đang quản sdụng. Trong quá trình
sử dụng đất ranh giới giữa nhà ông với nhà cụ T1 không thay đổi, không xảy ra
tranh chấp hiện đã tường rào bằng gạch do gia đình ông L3 xây. Nguồn đt
đang tranh chấp ông L3 khẳng định là do cụ T1, cụ B khai phá.
Tại biên bản xác minh ông Tạ Văn Đ2 trình bày: Ông Đ2 là công dân sinh
ra và lớn lên tại tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang. Từ khi lớn lên và nhận thức
được ông đã thấy gia đình cụ T1 sử dụng diện tích đất đang tranh chấp, gia
đình ông đất giáp ranh với gia đình cụ T1 nhưng trong quá trình sử dụng đất
ranh giới ổn định, không xảy ra tranh chấp, hiện nay đã hàng rào bằng gạch do
nhà H xây. Ông Đ2 khẳng định nguồn gốc đất đang tranh chấp do vợ
chồng cụ T1 khai phá.
Tại phiên tòa sơ thẩm
Nguyên đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cùng
trình bày: Toàn bdiện tích đất 4.515,3m
2
thuộc thửa đất số 18, tờ bản đồ số 3 là
di sản thừa kế của cụ T1, cụ B để lại chưa được phân chia. Mặc dù ông S đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 nhưng tại đơn đăng kýkhai
quyền sử dụng đất ông S khai bố cho không chữ ký, bút tích của cụ T1
vậy việc ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 là không
đúng quy định, tđó dẫn đến việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đt
cho hộ gia đình ông S năm 2012 cũng không đảm bảo. Vì di sản bố mẹ để lại các
con đều có quyền hưởng.
Trong quá trình Tòa án thụ giải quyết vụ án đã tiến hành xem xét thẩm
định tại chỗ và đã có mảnh trích hiện trạng, ông V cùng các đồng thừa kế nhất trí
với mảnh trích đo mặc phần diện tích trên thực địa nhỏ hơn so với diện tích
ban đầu ông V đề nghị chia thừa kế vì anh Đ đã xây nhà kiên cố, nếu điều chỉnh
đường trung tuyến kéo từ đỉnh đồi đến hết đất cho đủ diện tích yêu cầu ban đầu
ông V khởi kiện sẽ ảnh hưởng đến ngôi nhà cấp IV mà mẹ con anh Đ đang ở. Ông
V cùng các đồng thừa kế thống nhất đề nghị được hưởng phần diện tích tại thửa
số 2 theo Mảnh trích đo hiện trạng do Trung tâm K2, biên tập ngày 20/5/2025 là
1790,8m
2
trong đó có 200m
2
đất thổ cho 05 người con (V, T, H2, K1, T),
phần đất còn lại nhất tchia giao cho gia đình anh Đ, trong đó H, chị
H4 phần đất đó ca ông S đã chết. Ông V đề nghị bị đơn phải tháo dỡ, di dời phn
lợp mái tôn 7,1m
2
thửa số 3 theo Mảnh trích đo hiện trạng do Trung tâm K2,
biên tập ngày 20/5/2025. Đối với chi phí xem xét thẩm định, biên tập đông
V tự nguyện chịu toàn bộ không yêu cầu các đồng thừa kế khác phải có nghĩa vụ
hoàn trả cho ông theo tỉ lệ di sản được hưởng. Đối với căn nhà gỗ anh Đ đã tháo
dỡ ông V không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s
864245 do UBND thành phT cấp ngày 12/3/2012 mang tên h ông Bùi Văn S
và bà Lê Th H đã được chỉnh lý sang tên cho anh Bùi Tiến Đ ông xin rút yêu cầu
khởi kiện.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H, chị Bùi Hng L1 đồng thời
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Tiến Đ trình bày: Anh khng
định toàn bthửa đất đang tranh chấp nguồn gốc do cụ T1, cụ B khai phá;
diện tích đất tăng lên là do năm 1995 kê khai không hết. Nhưng khi còn sống các
con của hai cụ sau khi lp gia đình đều thoát ly ra riêng chỉ có bố anh ông S là
con trai út cùng ông đến năm 2006 cũng tách ra riêng nhưng làm nhà sát
cạnh ông bà. Anh Đ không nhất trí với ý kiến của ông V vì khi còn sống cụ T1 đã
cho ông V diện tích đất khác nhưng ông V đã bán nên ông V không được quyền
ởng di sản nữa, đối với việc san ủi mặt bằng anh Đ xác định không làm tăng
giá trị di sản, anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Đ đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V.
Người đại diện theo ủy quyền ca chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A ông
Đặng Quốc H5 trình bày: Diện tích thửa đất số 18, tờ bản đồ 62 sau khi cấp đổi
năm 2012 tăng lên so với diện tích tại thửa đất số 44 đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 1995 cho ông Bùi Văn S một số nguyên nhân sau:
Nguyên nhân thnhất do đo đạc vì hiện nay máy đo chính xác hơn thời điểm năm
1995. Nguyên nhân thứ 2 ththời điểm năm 1995 khai diện tích chưa
chính xác. Nguyên nhân thứ 3 có thể là do thay đổi ranh giới.
Sau khi tạm ngừng phiên tòa ngày 08/7/2025 Tòa án đã tiến hành xác minh.
Tại biên bản xác minh thhiện: Khi kiểm tra hồ cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất năm 2012 cho hộ ông Bùi Văn S Thị H đã xác định được
thửa đất số 18, tờ bản đồ số 62 chính là thửa đất số 44, tờ bản đồ số 3, bản đồ đo
đạc theo Chỉ th299 (gọi tắt bản đồ 299). Hình thể thửa đất trong giấy chứng
nhận cấp năm 2012 so với năm 1995 cơ bản không thay đổi, lý do diện tích tăng
thêm là do thời điểm năm 1995 do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận dùng diện tích đất 46,3m
2
thửa đất
số 4 trong Mảnh trích đo hiện trạng ngày 20/5/2025 làm lối đi chung, trong trường
hợp phải chia thừa kế đất theo yêu cầu khởi kiện của ông V.
* Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ:
- Về đất, gồm: Diện tích đo đạc thửa số 18, tờ bản đồ số 62; địa chỉ: Tổ G,
phường A, thành phT, tỉnh Tuyên Quang (nay tG, phường A, tỉnh Tuyên
Quang) do các đương s chỉ dẫn mốc giới ngoài thực địa là 4.308,6m
2
ranh giới
thhiện tại các điểm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19,
20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 1. Trong đó:
+ Thửa đất s1 diện tích 2.464,4m
2
được xác định tại các điểm nối
khép kín: 1, 2, 3, 43, 41, 40, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 1.
+ Thửa đất s2 diện tích 1.790,8m
2
được xác định tại các điểm nối
khép kín: 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 36,
37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 3 ranh giới do ông Bùi Văn V chdẫn đề nghị đưc
ởng di sản thừa kế.
+ Thửa đất số 3 diện tích 7,1m
2
được xác định tại các điểm nối khép
kín: 41, 42, 43, 41 là phần lợp mái tôn.
+ Thửa đất số 4 có diện tích là 46,3m
2
được xác định tại các điểm nối khép
kín: 21, 22, 23, 24, 40, 39, 38, 37, 36, 21 do ông Bùi Văn V chdẫn để xác định
làm lối đi chung.
- Về tài sản trên đất tranh chấp gồm có: Một miếu thời họ; một nhà cấp IV
lợp mái tôn; một chuồng gà tạm. Xung quanh diện tích đất có hàng rào xây gạch
10cm, cao 1,25m. Diện tích đất giáp nhà ông Nguyễn Văn L3 hàng rào xây
ờng 20cm; cao 1,25m do gia đình ông L3 xây dựng. Phần diện tích đất một
kè chống sạt lở; có hai cột trụ bê tông; cổng inox.
* Kết quả định giá tài sản: Các đương stự nguyện, thống nhất thỏa thuận
với nhau về giá tài sản đang tranh chấp nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản với
nội dung như sau:
- Về đất:
+ Đt ở tại đô thị đượcc định Đất ở các vị trí còn lại tổ 7,8 thuc đưng
V: Từ ngã ba V đến cổng nghiệp vật liệu y dựng số 3 Tuyên Quang (nhà y G
) giá trị: 1.500.000 đồng/m
2
x 400m
2
= 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng)
+ Đất đất trồng cây lâu năm được xác định là khu vực I, vị trí 1 (Các thửa
đất trồng cây lâu năm nằm trong các khu dân tại địa bàn phường) giá trị:
36.000 đồng/m
2
x 3.908,6m
2
= 140.709.600 đồng (Một trăm bốn mươi triệu bảy
trăm linh chín nghìn sáu trăm đồng).
Tổng giá trị đất đang tranh chấp 740.709.600 đồng (Bảy trăm bốn
mươi triệu bảy trăm linh chín nghìn sáu trăm đồng).
- Các tài sản trên đất:
Một miếu thời họ; một nhà cấp IV lợp mái tôn; một chuồng gà tạm. Xung
quanh diện tích đất hàng rào xây gạch 10cm, cao 1,25m. Diện tích đất giáp
nhà ông Nguyễn Văn L3 có hàng rào xây tường 20cm; cao 1,25m do gia đình ông
L3 xây dựng. Phần diện tích đất một chống sạt lở; hai cột trụ tông;
cổng inox. Các đương skhông đề nghchia tài sản trên đất, trong trường hợp
phải chia di sản thừa kế thì tài sản trên phần đất ca ai được chia thì người đấy
quyền quản lý, sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 26, 48 Bộ lut
Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia t
tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương s, gửi hồ sơ cho Viện
kiểm sát đúng thời hạn quy định; các đương sthực hiện đúng các quyền, nghĩa
vụ theo quy định của các Điều 70, 71, 72 và Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại
phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định
tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền,
nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết ván: Căn ccác Điều 611, 613, 623, 649, 651, 652
của Bộ luật dân snăm 2015; Căn cứ Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn vviệc yêu cầu chia di sản thừa kế cho ông V
các đồng thừa kế được hưởng diện tích đất 1.790,8m
2
trong đó 200m
2
đất thổ
tại thửa số 18, tờ bản đồ 62. Đình chỉ đối với yêu cầu hủy một phần Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông V.
Vchi phí ttụng, án phí: c đương sự phải chu theo quy định của pháp lut.
Về quyền kháng cáo: Các đương sđược quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Nguyên đơn ông Bùi Văn V khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế hủy
một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Bùi Văn S và bà
Thị H6 tại thửa số 18, tờ bản đồ số 62 thuộc tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang.
Vì vậy, quan hệ pháp luật trong ván này được xác định là “Tranh chấp về tha
kế tài sản yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtthuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 26; Bluật T
tụng dân sự.
[1.2] Về quyền khởi kiệnthẩm quyền giải quyết:
Về quyền khởi kiện: Ông Bùi Văn V là con của cụ Bùi Văn T1, cụ Nguyễn
ThB thuộc hàng thừa kế thnhất, có quyền được nhận di sản thừa kế do bố mẹ
để lại; không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản thừa kế theo Điều
621 Bộ luật Dân sự. Vì vây ông Bùi Văn V được quyền khởi kiện theo quy định
tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Di sản thừa kế quyền sử dụng đất địa chỉ
tại tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang. Nguyên đơn yêu cầu hủy một phần Giấy
chứng nhận quyền sdụng đất số 864245, số vào sổ cấp GCNQSD đất: CH
001116/AT do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho hộ ông Bùi Văn S và bà Lê
ThH ngày 12/3/2012 nên theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai 2003; điểm a
khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật T
tụng dân sự và Điều 31; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính vụ án thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Thực hiện nghị quyết về sắp xếp các đơn vị hành chính trong cớc, ngày
27/6/2025 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết
số 01/2025/NQ-HĐTP về ớng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm
vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tán nhân dân ktừ ngày 01/7/2025. Theo
đó, căn cứ khoản 1 Điều 4 của Nghị quyết trên, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang
tiếp tục giải quyết vụ án này do đã thụ lý trước 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết
xong. Vụ án này đã được Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang thụ từ ngày
11/11/2024 do đó Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang tiếp tục giải quyết vụ án
đúng quy định.
[1.3] Về thi hiệu khởi kiện:
Hội đồng xét xử căn ckhoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy
định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động
sản, 10 năm đối với động sản, ktừ thời điểm mở thừa kế. Khoản 1 Điều 107 B
luật Dân sự năm 2015 quy định “Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình
xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình
xây dựng”.
Thời điểm mthừa kế của cụ Bùi Văn T1 từ ngày 29/12/2011 đến ngày
08/10/2024 ông Bùi Văn V khởi kiện là 12 năm 09 tháng 09 ngày; thời điểm mở
thừa kế của cụ Nguyễn Thị B từ ngày 30/6/2019 đến ngày 08/10/2024 5 năm
03 tháng 08 ngày. Do vậy thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế chưa hết
thời hiệu.
[1.4] Về hàng thừa kế:
Nguyên đơn, bđơn và những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều
xác định: Bùi Thị L, Bùi Thị Trung K1, ông Bùi Văn V, Bùi Thị T,
Bùi Thị H2 và ông Bùi Văn S (đã chết năm 2022) là con đẻ của cụ Bùi Văn T1 và
cụ Nguyễn Thị B, hai cụ không con riêng, không con nuôi không ai t
chối nhận di sản, không ai thuộc trường hợp không được hưởng di sản thừa kế.
[1.5] Sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp các văn bản
tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Nguyên đơn ông Bùi Văn V; người bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Vũ Trung K; những người có quyền
lợi, nghĩa vliên quan: Bùi Thị Trung K1, Bùi Thị T, bà i Thị H2, anh
Bùi Tiến Đ có mặt tại phiên tòa; Bị đơn bà Thị H; người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan chBùi Hồng L1 vắng mặt người đại diện theo ủy quyền tham gia
phiên tòa; người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thị L mặt tại phiên
tòa 08/7/2025 vắng mặt tại phiên tòa 08/8/2025 có người đại diện theo ủy quyền;
người đại diện theo ủy quyền của UBND phường A mặt tại phiên tòa 08/7/2025
và có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa 08/8/2025. Như vậy Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố
tụng dân sự là đúng quy định.
[1.6] Về hiện trạng sử dụng đất, tài sản tranh chấp và giá trị tài sản tranh
chp: Các đương sự nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, nhất trí vi
mảnh trích đo hiện trạng do Trung tâm K2 biên soạn ngày 20/5/2025 làm căn c
giải quyết vụ án .
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về việc chia di sản thừa kế.
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình xác minh, thu thập tài liu
chứng cứ tại phiên tòa các đương sđều thừa nhận toàn bộ diện ch 4.515,3m
2
đất tranh chấp thuộc thửa đất số 18, tbản đồ số 62; địa chỉ thửa đất thôn V,
A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (nay là tổ G, phường A, tỉnh Tuyên Quang)
đã được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đt
số 864245 ngày 12/3/2012 mang tên hông Bùi Văn S Thị H
nguồn gốc do cụ Bùi Văn T1 và cNguyễn Thị B khai phá. Do các đương sự đều
thừa nhận nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Cần xác định toàn
bộ diện tích 4.515,3m
2
(kết quả đo vẽ ngài thực địa 4.308,6m
2
) đất đang có
tranh chấp là di sản thừa kế của cụ T1 và cụ B.
Quá trình quản lý, sử dụng di sản thừa kế diện tích đất đang tranh
chấp: Khi còn sống vợ chồng cụ T1 khai phá, sử dụng ổn định, liên tục, không
xảy ra tranh chấp. Năm 1992 ông Bùi Văn S làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng
đất thửa đất cụ T1 khai phá ghi nguồn gốc bố cho, đến năm 1995 ông S đưc
Ủy ban nhân dân huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng trong
hồ sơ cấp giấy không có giấy tờ, văn bản thể hiện cụ T1 tặng cho đất ông S (thời
điểm này cụ T1, cụ B vẫn còn sống) như vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất cho ông Bùi Văn S năm 1995 là không đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 và biên bản hiện trạng
sử dụng đất thì năm 2012 ông S được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sdụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất. Nhưng do thủ tục cấp giấy năm
1995 không đúng nên việc cấp đổi cho ông S năm 2012 cũng không đảm bảo. Ông
V cùng các đồng thừa kế cùng thống nhất đề nghị xác định phần phần diện tích
2180m
2
ông Bùi Văn S đã đăng quyền sử dụng đất được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 1995 là di sản thừa kế của cụ T1, cụ B. Khi Tòa án
tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ; Trung tâm K2 sơ đồ trên cơ sở đo đạc ngoài
thực địa dưới sự chdẫn ca các đương sự thì diện tích ông V đề nghị được hưởng
di sản thừa kế ngoài thực địa 1790,8m
2
(thửa số 2 theo Mảnh trích đo hiện trạng)
nhỏ hơn 544,5m
2
trong số din tích ông V khởi kiện ban đầu đề nghị được hưởng
di sản là 2335,3m
2
nhưng ông V nhất trí sử dụng Mảnh trích đo hiện trạng để làm
cơ sở chia di sản thừa kế và phần diện tích thửa số 1 theo mảnh trích đo ông V đề
nghị giao cho gia đình bà H tiếp tục được sử dụng lớn hơn so với diện tích đã làm
đơn xin cấp giấy trước đó, ông V không yêu cầu bđơn phải trả tiền chênh lệch
đối với phần di sản được hưởng nhiều hơn; đồng thời tại phiên tòa do nhận thấy
không cần thiết phải hủy giấy ông V rút yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Việc ông V đề nghđược hưởng di sản thừa kế theo mảnh trích
đo hiện trạng và rút một phần yêu cầu khởi kiện là tình tiết lợi cho bị đơn. Hội
đồng xét xử nhận thấy chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông V
và chia di sản thừa kế theo mảnh trích đo hiện trạng là phù hợp.
Ông V cùng các đồng thừa kế khác xác định ông người đứng tên trong
phần di sản của 05 người gồm: Ông V, bà K1, bà T, H2, bà L tại thửa số 2 theo
mảnh trích đo hiện trạng (tại phiên tòa bà K1, T, bà H2, L ng thống nhất
giao cho ông V đứng ra nhận thay phần di sản thừa kế mà các bà được hưởng),
nên Hội đồng xét xchia giao cho ông V đứng tên phợp, tại thửa đất số 1
cần giao cho bà H, anh Đ, chị Lê C được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng là đm
bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và phù hợp với hiện trạng sử dng
đất.
Anh Bùi Tiến Đ không nhất tvới yêu cầu khởi kiện của ông V cho rằng
diện tích đất trong giấy chứng nhận năm 2012 tăng thêm so với giấy chứng nhận
năm 1995 do gộp thửa nhưng trong hồ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất không thể hiện, anh Đ cũng không cung cấp được tài liệu chứng cchng
minh cho quan điểm của mình. Ngoài ra anh Đ còn cho rằng nếu chia di sản
thửa đất số 18, tờ bản đồ 62 thì gia đình anh vẫn được hưởng 400m
2
đất thổ cư là
không phù hợp. Bởi lẽ, toàn bộ thửa đất số 18, tờ bản đồ 62 trong giấy chứng nhận
năm 2012 chính thửa đất số 44, tờ bản đồ số 3 trong giấy chứng nhận năm 1995
và toàn bộ diện tích thửa 18 ngoài thực địa chính là di sản thừa kế của cụ T1, cụ
B tại phiên tòa ông V cũng trình bày chính vì xác định toàn bộ thửa đất di sn
thừa kế do bố mẹ để lại gia đình anh Đ đang sdụng một phần của thửa đất là
đang hưởng một phần di sản của hai cụ để lại nên ông V yêu cầu chia cho ông V
4 đồng thừa kế sử dụng phần diện tích thửa s2 theo mảnh trích đo chia cho
gia đình bà H ởng phần di sản là diện tích đất tại thửa số 1 theo mảnh trích đo
là phù hợp; 400m
2
đất ở là hạn mức tối đa của thửa đất số 44, tờ bản đồ số 3 (sau
cấp đổi thửa đất số 18, tờ bản đồ số 62) do đó khi chia thừa kế trong một thửa
đất nhiều loại đất thì Tòa án phải chia tất cả các loại đất trong cùng một tha
đất cho các đồng thừa kế để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của các đương s,
đảm bảo quy định của pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Văn V rút yêu cầu hủy một phần giấy
chứng nhận quyền sdụng đất nhưng để đảm bảo việc thi hành án sau khi bản án
hiệu lực thi hành. Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang kiến nghị với quan
Nhà nước thẩm quyền thu hồi hoặc chỉnh Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 864245 do Ủy ban nhân
dân thành phố T cấp ngày 12/3/2012 mang tên hộ ông Bùi Văn S và bà Lê Thị H
cho các đương sự theo kỷ phần thừa kế được hưởng theo bản án của Tòa án nhân
dân tỉnh Tuyên Quang.
Các đương sự có trách nhiệm kê khai cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng
đất hoặc chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các diện tích được
chia trong bản án là phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu
khởi kiện của ông V, chia di sản thừa kế đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số
18, tbản đồ số 62 theo mảnh trích đo hiện trạng đình chỉ đối với phần yêu
cầu ông V đnghị rút tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa và đúng quy định của pháp luật.
[3].Về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo.
[3.1] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, biên tập mảnh
trích đo 14.467.505 đồng, ông V đã thanh toán đủ stiền chi phí ttụng. Ông
V tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, biên tập mảnh trích
đo. Ông V đã nộp đủ chi phí tố tụng.
[3.2] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Bùi Văn V
không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có
giá ngạch đối với kỷ phần thừa kế được hưởng nhưng do ông V thuộc trường hợp
người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Trước khi
thụ lý vụ án, Tòa án đã quyết định miễn tạm ứng án phí cho ông V, do đó HĐXX
không phải xem xét việc trả lại khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
[3.3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đưc quyền kháng cáo bản án
theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26; 34, 37, 38, 39, 147; 165; 217; 235; 266; 267; 271; 273
Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651
Bộ luật dân sự; Điều 136 Luật Đất đai năm 2003; Điều 32 Luật Tố tụng hành
chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s
dụng áp phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ớng dẫn áp dụng một số
quy định vtiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tán nhân dân
sau ngày 01/7/2025.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn V chia di sản
thừa kế là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 62 như sau:
- Ông Bùi Văn V được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng diện tích đất
1790,8m
2
(bao gồm cphần di sản thừa kế L, bà T, H2, K1 cùng thống
nhất để ông V đứng ra nhận di sản thay); trong đó 200m
2
đất và 1590,8m
2
đất
trồng cây lâu năm; đất được xác định tại các điểm nối khép kín: 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,
10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 3
(thửa số 2 tại mảnh trích đo kèm theo bản án). Giá trị di sản ông V cùng các đồng
thừa kế được hưởng là 357.268.800 đồng (Ba trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm
sáu mươi tám nghìn, tám trăm đồng). Chia ra gtrị di sản mỗi người được hưởng
là 71.453.760 đồng (Bảy mươi mốt triệu, bốn trăm năm mươi ba nghìn, bảy trăm
sáu mươi đồng).
- Thị H, anh Bùi Tiến Đ, chị Bùi Hồng L1 cùng được quyền sử dụng
diện tích đất 2.464,4m
2
được xác định tại các điểm nối khép kín: 1, 2, 3, 43, 41,
40, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 1 (thửa số 1 tại mảnh trích đo
kèm theo bản án). Giá trị di sản bà H, anh Đ, chị C được hưởng 381.518.400
đồng (Ba trăm tám mươi mốt triệu, m trăm mười m nghìn, bốn trăm đồng).
Chia ra giá trị di sản mỗi người được hưởng 127.172.800 đồng (Một trăm hai
mươi bảy triệu, một trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm đồng)
- Thị H, anh Bùi Tiến Đ, chị Bùi Hồng L1 cùng nghĩa vụ tháo d,
di dời phần lợp mái tôn có diện tích7,1m
2
được xác định tại các điểm nối khép
kín: 41, 42, 43, 41 (thửa số 3 tại mảnh trích kèm theo bản án).
- Diện tích 46,3m
2
được xác định tại các điểm ni khép kín: 21, 22, 23, 24,
40, 39, 38, 37, 36, 21 được sử dụng làm lối đi chung (thửa s4 tại mảnh trích
kèm theo bản án).
Các đương sự có trách nhiệm kê khai cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng
đất; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chỉnh lý điều chỉnh biến động, thu
hồi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo các
diện tích được chia trong bản án.
Buộc anh Bùi Tiến Đ nghĩa vgiao nộp Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất số BĐ 864245 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 12/3/2012 mang tên
hộ ông Bùi Văn S Thị H (bản chính) khi yêu cầu của quan Nhà
ớc có thẩm quyền để làm thủ tục chính lý điều chỉnh biến động cho các đương
sự theo kỷ phần thừa kế được hưởng theo bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên
Quang; trường hợp anh Bùi Tiến Đ không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (bản chính) các đương squyền đề nghị cơ quan Nhà nước thẩm
quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 864245 ngày 12/3/2012
mang tên hộ ông Bùi Văn S và bà Lê Th H.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BĐ 864245 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp ngày 12/3/2012 mang tên
hộ ông Bùi Văn S và bà Lê Thị H.
Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang kiến nghị với quan nhà nước thẩm
quyền chỉnh hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sdụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 864245 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp
ngày 12/3/2012 mang tên hông Bùi Văn S Thị H để điều chỉnh biến
động cho các đương sự theo kỷ phần thừa kế được hưởng theo bản án của Tòa án
nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
3. Về chi phí tố tụng: Đương sự đã tự nguyện chịu và thực hiện xong nghĩa
vụ chịu chi phí tố tụng, Hội đồng xét xử không xem xét xét nội dung này.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Bùi Văn V, bà Bùi Thị L, bà Bùi Thị Trung K1, bà Bùi Thị T, bà Bùi
ThH2 mỗi người phải chịu 3.572.688 đồng (Ba triệu, năm trăm bảy mươi hai
nghìn, sáu trăm tám mươi tám đng) tiền án phí dân sthẩm đối với phần di
sản được hưởng. Nhưng ông V, bà L, bà K1, T thuộc trường hợp người cao tuổi
nên được miễn toàn bán phí dân sthẩm giá ngạch; H2 chịu án phí dân
sự thẩm giá ngạch 3.572.688 đồng (Ba triệu, năm trăm bảy mươi hai
nghìn, sáu trăm m mươi tám đồng).
- Thị H, anh Bùi Tiến Đ, chị Bùi Hồng L1 mỗi người phải chịu
6.358.640 đồng (Sáu triệu, ba trăm m mươi tám nghìn, sáu trăm bốn mươi
đồng) tiền án phí dân sthẩm giá ngạch đối với phần di sản được hưởng.
Nhưng bà H là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm
có giá ngạch. Anh Đ, chị Lê P1 chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm. Đương svắng mặt quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận được bản án hoặc bản
án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội;
- Viện phúc thẩm 1;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHTỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Xuân Thủy
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trịnh Thị Kim Thanh Hoàng Thị Duyên
THM PHÁN-CH TA PHN A
Nguyễn Xuân Thủy
Tải về
Bản án số 22/2025/DS-ST Bản án số 22/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 22/2025/DS-ST Bản án số 22/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất