Bản án số 22/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 22/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 22/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 22/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 22/2025/DS-PT ngày 09/04/2025 của TAND tỉnh Hà Tĩnh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hà Tĩnh |
Số hiệu: | 22/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 09/04/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Hủy án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 22/2025/DS-PT
Ngày: 09 – 4 – 2025
Về việc: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tùng
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu, ông Trần Khắc Hoàng
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà
Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên
Trong các ngày 25/3, 9/4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLPT-DS
ngày 19/11/2024 về việc: "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án
nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2025/QĐXXPT-DS
ngày 06/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Ông Phạm Hồng Long, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị
Vân; sinh năm: 1969; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: ông Mai Xuân Hiệp, sinh
năm 1995; địa chỉ: xã Kỳ Hà, thị xã Kỳ Anh và ông Bùi Đức Tịnh, sinh năm
1985; địa chỉ: xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (Văn bản ủy quyền ngày
13/10/2023 số công chứng 383/2023/VPCCKA/GUQ, Quyển số 01TP/CC-
SCC). Có mặt ông Mai Xuân Hiệp, vắng mặt ông Bùi Đức Tịnh và nguyên đơn
đồng ý xét xử vắng mặt ông Bùi Đức Tịnh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Mai Xuân
Định và ông Hoàng Xuân Huệ - Luật sư thuộc Công ty luật TNHH Pháp Viện –
Đoàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh; Địa chỉ: Tổ dân phố Hưng Bình, phường Hưng Trí,
2
thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt ông Mai Xuân Định, vắng mặt ông Hoàng
Xuân Huệ và nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt ông Hoàng Xuân Huệ.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Hiệp, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường
Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Nguyễn Văn Nhu, sinh năm
1989; Địa chỉ: Số 146/59/18/159A đường Vũ Tùng, phường 2, quận Bình
Thanh, thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 26/8/2024 số công
chứng 2935/2024/VPCCKA/GUQ, Quyển số 01TP/CC-SCC). Vắng mặt (Có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông: Phạm Ngọc Thống, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường
Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
2. Bà: Phạm Thị Oanh, sinh năm 1961; địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường
Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
3. Bà: Phạm Thị Nhất, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 7 ấp Long Đức 3, xã
Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Ngọc Thống, bà Phạm Thị
Oanh, bà Phạm Thị Nhất: ông Nguyễn Văn Nhu, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số
146/59/18/159A đường Vũ Tùng, phường 2, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ
Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 26/8/2024 số công chứng
2935/2024/VPCCKA/GUQ, Quyển số 01TP/CC-SCC). Vắng mặt (Có đơn đề
nghị xét xử vắng mặt).
4. Bà: Phạm Thị Bắc; sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ 7 ấp Long Đức 3, xã Tam
Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt (Đã được triệu tập phiên
tòa hợp lệ đến lần thứ hai).
5. Uỷ ban nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Địa chỉ: Tổ dân phố Hưng
Hòa, phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thành Biển – Chức vụ: Chủ tịch
UBND. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đậu Thị Hoài Thu - Chức vụ: Trưởng
phòng Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét
xử vắng mặt).
6. Uỷ ban nhân dân phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; Địa
chỉ: Phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình Tài – chức vụ: Chủ tịch
UBND phường. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân Lê - Chức vụ: Phó chủ tịch
UBND phường. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023, trong các bản khai và tại phiên tòa sơ
thẩm, phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là vợ chồng ông Phạm Hồng Long - bà
Nguyễn Thị Vân trình bày: Vợ chồng ông Long – bà Vân có thửa đất số 125 tờ
bản đồ số 42 bản đồ địa chính tại tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, thị xã Kỳ
Anh, tỉnh Hà Tĩnh, diện tích 583,4m
2
trong đó đất ở là 300m
2
, đất trồng cây
hàng năm là 283,4m
2
. Trước đây tại bản đồ 371 đo đạc năm 2002, thửa đất này
được ghi là thửa số 1371 tờ bản đồ số 3, diện tích 577,9m
2
, tên người sử dụng
đất trong sổ mục kê kèm theo bản đồ 371 là ông Phạm Hồng Long. Thửa đất này
có nguồn gốc được Ủy ban nhân dân thị trấn Kỳ Anh (nay là phường Hưng Trí),
thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho gia đình ông Long, mang tên ông Phạm
Trọng Tuệ, bố của ông Long theo Quyết định số 81 QĐUB ngày 29/6/1988. Sau
khi được cấp đất gia đình ông Long – bà Vân đã làm nhà sinh sống, đào ao thả
cá, xây dựng quán bán hàng ăn, trồng các loại cây ăn quả và các loại cây khác từ
đó đến nay. Quá trình sử dụng đất gia đình ông Long đã nộp thuế sử dụng đất
cho nhà nước từ năm 1996 cho đến bây giờ. Vào tháng 9/2022 Ủy ban nhân dân
phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh xây dựng hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho gia đình ông Long. Qúa trình niêm yết công khai tại Ủy ban nhân
dân phường không nhận được ý kiến khiếu nại gì của người dân, nhưng khi hồ
sơ chuyển lên Ủy ban nhân dân thị xã Kỳ Anh thì bà Phạm Thị Hiệp có đơn đề
nghị tạm dừng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông
Long với lý do trong thửa đất này có 203m
2
đất vốn là đất của bố mẹ bà Hiệp để
lại thừa kế cho các con trong đó có bà Hiệp.
Vợ chồng ông Long – bà Vân yêu cầu Tòa án:
- Buộc bà Phạm Thị Hiệp phải chấm dứt hành vi tranh chấp đất đai với gia
đình ông Long – bà Vân.
- Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 125 tờ bản đồ số 42 bản
đồ địa chính với diện tích 583,4m
2
, trong đó đất ở 300m
2
, đất trồng cây hàng
năm 283,4m
2
, địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, Thị xã Kỳ
Anh, tĩnh Hà Tĩnh cho vợ chồng ông Long – bà Vân.
Tại các bản khai và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là bà Phạm Thị Hiệp và
người đại diện theo ủy quyền của bà Hiệp là ông Nguyễn Văn Nhu trình bày:
Năm 1975, hộ gia đình bà Hiệp có 7 người gồm cha: ông Phạm Chuyên (chết
năm 1996), mẹ: bà Nguyễn Thị Hòa (chết 2021) và các con: Phạm Thị Hiệp,
Phạm Ngọc Thống, Phạm Thị Oanh, Phạm Thị Nhất, Phạm Thị Bắc được Hợp
tác xã Liên Châu cấp cho diện tích đất 203m
2
. Ví trí đất được cấp nay thuộc một
phần của thửa đất số 1371 tờ bản đồ số 3 bản đồ 371, hay chính là thửa đất số
4
125 tờ bản đồ số 42 bản đồ địa chính tại tổ dân phố 3 phường Hưng Trí, thị xã
Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi được cấp đất, gia đình bà Hiệp trực tiếp quản lý,
sử dụng đất để sản xuất cho đến năm 2000 thì tạm dừng sử dụng đất. Quá trình
sử dụng đất, ông Chuyên, bà Hòa (bố mẹ bà Hiệp) đã thực hiện đầy đủ chủ
trương, chính sách Nhà nước về đất đai và có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ
địa chính, sổ mục kê. Giai đoạn năm 1999 đến năm 2006, gia đình bà Hiệp làm
đơn xin cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm nhà ở trên diện tích đất được cấp,
tuy nhiên, không được giải quyết. Giai đoạn năm 2012 đến năm 2015, bà Hiệp
liên hệ với Ủy ban nhân dân phường và Ủy ban nhân dân thị xã Kỳ Anh để được
cấp lại, công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên, tuy nhiên
không được giải quyết theo nguyện vọng. Cũng vào thời gian này gia đình bà
Hiệp mới biết được: Vào năm 1986, hộ gia đình ông Phạm Hồng Long - bà
Nguyễn Thị Vân được Nhà nước cấp đất liền kề với thửa đất của gia đình bà
Hiệp. Đến năm 2015, vợ chồng ông Long – bà Vân đã lấn chiếm sang, san lấp
và làm nhà sinh sống trên diện tích đất của gia đình bà Hiệp. Năm 2002, gia
đình ông Long - bà Vân thực hiện kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đã tự ý kê
khai, đăng ký đất của gia đình bà Hiệp gộp chung vào thửa đất của ông Long -
bà Vân mà gia đình bà Hiệp không biết. Sau khi biết sự việc, bà Hiệp đã nhiều
lần yêu cầu vợ chồng ông Long - bà Vân trả lại đất, đồng thời nhiều lần liên hệ
cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng không được giải quyết thỏa đáng.
Bà Hiệp không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Long – bà
Vân, đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 203m
2
thuộc thửa đất số
125 tờ bản đồ 42 bản đồ địa chính, toạ lạc tại phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà Hiệp, buộc vợ
chồng ông Long - bà Vân phải trả lại diện tích đất này cho gia đình bà.
Tại các bản khai và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan là bà Phạm Thị Bắc và người đại diện theo ủy quyền của những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc Thống, Phạm Thị Oanh, Phạm Thị
Nhất là ông Nguyễn Văn Nhu đều có lời trình bày thống nhất như lời trình bày
của bị đơn Phạm Thị Hiệp và cũng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ
chồng ông Long – bà Vân, đồng thời cũng yêu cầu Tòa án công nhận diện tích
đất 203m
2
thuộc thửa đất số 125 tờ bản đồ 42 bản đồ địa chính, toạ lạc tại
phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thuộc quyền sử dụng hợp pháp
của các con ông Chuyên, bà Hòa, buộc vợ chồng ông Long - bà Vân phải di dời
các công trình, vật kiến trúc, trả lại diện tích đất này cho các con của ông
Chuyên, bà Hòa
5
Người đại diện cho Uỷ ban nhân dân phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh tại
các văn bản trả lời Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Thửa đất số 125 tờ bản đồ số 42 bản đồ địa chính, diện tích 538,4m, địa chỉ
tại tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh hiện tại đang do
gia đình ông Phạm Hồng Long – bà Nguyễn Thị Vân sử dụng, chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ ai.
Trong thửa đất này bà Phạm Thị Hiệp có đơn tranh chấp với gia đình ông
Long – bà Vân 203m
2
từ trước khi tòa án thụ lý vụ án, khuôn viên đất tranh
chấp: phía Bắc giáp đường giao thông, phía Nam giáp đất ông Nguyễn Văn Lan,
phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Phong, phía Tây giáp đất ông Phạm Hồng
Long. Tuy nhiên, khi Tòa án cùng đại diện UBND phường, Văn phòng đăng ký
đất đai chi nhánh Kỳ Anh tiến hành thẩm định, đo đạc trên thực địa theo khuôn
viên tranh chấp do bà Hiệp chỉ thì đo được diện tích thực tế là 243m
2
, có thay
đổi diện tích so với đơn của bà Hiệp gửi đến các cơ quan chức năng. Ủy ban
nhân dân phường đã nhiều lần tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư tổ dân phố 3
và một số cán bộ lão thành nguyên là cán bộ của Hợp tác xã Liên Châu cũ am
hiểu nguồn gốc đất đai để xác định nguồn gốc thửa đất tranh chấp. Tại các buổi
làm việc lấy ý kiến của cộng đồng dân cư có sự tham gia của nguyên đơn và bị
đơn thì cộng đồng dân cư khẳng định phần diện tích tranh chấp được hộ ông
Phạm Chuyên - bà Nguyễn Thị Hòa sử dụng để sản xuất nông nghiệp từ trước
ngày 18/12/1980, không có giấy tờ pháp lý về đất. Hộ gia đình ông Phạm
Chuyên trực tiếp sản xuất nông nghiệp (trồng hoa màu) trên thửa đất này cho
đến năm 1996 thì ông Chuyên chết để lại cho bà Phạm Thị Hiệp (là con gái ông
Chuyên) tiếp tục sử dụng sản xuất nông nghiệp. Bà Hiệp sử dụng từ năm 1996
đến năm 1999 rồi để hoang, không còn sử dụng thửa đất nêu trên để sản xuất
nữa. Do thửa đất để hoang nên sau năm 1999 hộ ông Phạm Hồng Long (hộ liền
kề) sử dụng thửa đất này đào ao thả cá, sau đó san lấp lại theo hiện trạng thực tế
hiện nay. Phần đất tranh chấp này đã được phản ánh đo đạc tại bản đồ 371 phê
duyệt năm 2002, thuộc một phần thửa đất số 1371 tờ bản đồ số 3, diện tích
577,9m
2
, mục đích sử dụng là đất ở (T), do vợ chồng ông Long – bà Vân trực
tiếp sử dụng. Từ năm 2006 cho đến nay, vợ chồng ông Phạm Hồng Long nộp
thuế đất phi nông nghiệp đối với phần diện tích này. Vợ chồng ông Long – bà
Vân còn cung cấp thêm chứng cứ là Quyết định số: 81/QĐUB ngày 29/6/1988
của UBND thị trấn Kỳ Anh cũ về việc cấp đất cho ông Phạm Trọng Tuệ (cha đẻ
của ông Phạm Hồng Long) với diện tích 200m
2
đất ở, vị trí ranh giới thửa đất
được xác định: Phía Đông giáp anh Tuấn, Phía Tây giáp đất mạ của ông Tuệ,
Phía Nam giáp đất anh Vận, Phía Bắc giáp mương nước của đội 5, quyết định
không ghi kích thước các cạnh, vị trí ranh giới thửa đất có diện tích 200m
2
được
cấp ghi tại Quyết định 81/QĐUB ngày 29/6/1988 nay được xác định vị trí chính
6
nằm trong phần diện tích 203m
2
hiện nguyên đơn và bị đơn đang tranh chấp
quyền sử dụng đất. Nhưng từ khi được cấp đất vợ chồng, ông Phạm Trọng Tuệ
và ông Phạm Hồng Long không xây dựng nhà ở trên thửa đất được cấp tại Quyết
định 81/QĐUB ngày 29/6/1988, mà xây dựng nhà ở trên thửa đất mạ của ông
Tuệ, giáp ranh giới phía Tây của thửa đất được Ủy ban nhân dân thị trấn cấp đất.
Trong thửa đất số 125 tờ bản đồ số 42 bản đồ địa chính tại tổ dân phố 3,
phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, ngoài phần diện tích tranh chấp
203m
2
thì phần còn lại không tranh chấp có diện tích là 335,4m2 (trong đó 200m
đất ở và 135,4m đất trồng cây lâu năm) được vợ chồng ông Phạm Hồng Long sử
dụng làm nhà ở từ năm 1987, ổn định, liên tục từ đó đến nay, không có giấy tờ
pháp lý về đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 2006
cho đến nay, vợ chồng ông Long – bà Vân cũng là người nộp thuế sử dụng đất
đối với phần đất này.
UBND phường Hưng trí đề nghị Tòa án giao lại diện tích đất tranh chấp
203m
2
cho Ủy ban nhân dân phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh quản lý theo thẩm
quyền, không công nhận quyền sử dụng đất cho ai. Còn phần diện tích còn lại
của thửa đất là 380,4m
2
(trước đây là đất mạ của ông Phạm Trọng Tuệ) được vợ
chồng ông Phạm Hồng Long sử dụng làm nhà ở ổn định, liên tục từ năm 1988
cho đến nay, không có tranh chấp, không có giấy tờ pháp lý về đất, đủ điều kiện
cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, hạn mức đất ở, đất trồng cây lâu năm
được công nhận là bao nhiêu thì thực hiện theo quy định của Luật đất đai và quy
định của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 19/9/2024, Tòa án nhân
dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 khoản 9 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1
Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 97, Điều 98, Điều 147, Điều
157, Điều 158, Điều 165, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật
tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 169, Điều 175, Điều 221 Bộ luật Dân sự
2015.
Căn cứ Điều 50 Luật đất đai 2003, Điều 26, Điều 100, Điều 101, Điều 166,
Điều 203 Luật đất đai 2013, Điều 136, 137 Luật đất đai 2024. Điều 20, Điều 21
Nghị định 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc:
Công nhận cho vợ chồng ông Phạm Hồng Long, bà Nguyễn Thị Vân được
quyền sử dụng diện tích đất 380,4m2. Diện tích đất có vị trí được đánh số thứ tự
từ 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11, 12. Phía Bắc giáp đường giao thông, phía Nam giáp nhà
7
ông Sơn, ông Kiện, phía Tây giáp đất ông Hường bà Ninh, phía Đông giáp đất
tranh chấp. Buộc bị đơn bà Phạm Thị Hiệp chấm dứt hành vi tranh chấp đất đai
đối với vợ chồng ông Phạm Hồng Long, bà Nguyễn Thị Vân.
2. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Công
nhận diện tích đất còn lại 203m2 là của vợ chồng ông Phạm Hồng Long, bà
Nguyễn Thị Vân.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Công nhận
300m2 là đất ở, 283,4m
2
đất trồng cây hàng năm khác.
4. Không chấp nhận ý kiến của bị đơn về việc: Công nhận diện tích đất
203m2 là của bị đơn bà Phạm Thị Hiệp.
5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan về việc: Công nhận diện tích đất 203m2 là của ông Phạm Ngọc
Thống, bà Phạm Thị Oanh, bà Phạm Thị Nhất, bà Phạm Thị Bắc và buộc ông
Phạm Hồng Long, bà Nguyễn Thị Vân di dời công trình kiến trúc trên diện tích
đất 203m2.
6. Giao cho UBND phường Hưng Trí Thị Xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh quản
lý, giải quyết theo quy định của pháp luật đối với phần diện tích đất 203m2, có
vị trí được đánh số thứ tự từ 3, 4, 5, 6, 7, 8.
(Các phần chấp nhận, không chấp nhận và được giao nói trên nằm trong
thửa đất số: 125, tờ bản đồ: 42, diện tích: 583,4m
2
, thửa đất hiện chưa được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; địa chỉ thửa đất: tổ dân phố 3, phường
Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, vị trí thửa đất: Phía Bắc giáp đường
giao thông dài 25.09 m. Phía Nam giáp đất ông Đặng Thanh Sơn (lô 137) dài
3.45m, giáp đất ông Kiện (lô 138) dài 7.01; giáp đất ông Lan (lô 139) dài 4.60
m và 9.31 m. Phía Tây giáp đất của ông Hường, bà Ninh (lô 307) dài 21.9 m.
Phía Đông giáp đất ông Phong (lô 124) dài 21.29m; giáp đất bà Nhung (lô
123) 4.36m. Phía Tây thửa đất hiện nay ông Long, bà Vân đã xây dựng nhà ở
kiên cố có diện tích 94.8 m
2
; ở giữa thửa đất tranh chấp hiện ông Long và bà
Vân đã xây dựng 1 nhà tạm (quán bán hàng ăn) diện tích 106 m
2
).
(Có sơ đồ đo đạc kèm theo)
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, ông Phạm Hồng Long, bà Nguyễn Thị
Vân có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục về quyền sử
dụng đất theo quy định đối với phần diện tích đất 380,4m2 trong thửa đất số:
125, tờ bản đồ: 42, diện tích: 583,4m
2
, thửa đất hiện chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, thị xã
Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
8
Ngày 30/9/2024, bà Phạm Thị Hiệp, ông Phạm Ngọc Thống kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất đối với 203m
2
đất tại thửa số 125 tờ bản đồ số 42 phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh cho những người thừa kế của ông Phạm Chuyên, bà Nguyễn Thị Hòa, buộc
vợ chồng ông Phạm Hồng Long – bà Nguyễn Thị Vân phải di dời các công trình
gắn liền với đất và bàn giao đất cho những người thừa kế của ông Phạm Chuyên,
bà Nguyễn Thị Hòa.
Ngày 01/10/2024, ông Phạm Hồng Long và bà Nguyễn Thị Vân kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu được công nhận diện tích đất tranh chấp
203m
2
là của vợ chồng ông Phạm Hồng Long, bà Nguyễn Thị Vân.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310
Bộ luật tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án
nhân dân thị xã Kỳ Anh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự nộp trong thời hạn
luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét thấy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm có một số vi phạm thủ
tục tố tụng, cụ thể:
- Bỏ sót người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn ông Phạm Hồng Long cung cấp cho Tòa án Quyết định cấp đất làm
nhà ở cho hộ gia đình số 81/QĐ – UB ngày 29/6/1988 của UBND thị trấn Kỳ
Anh cấp đất cho ông Phạm Trọng Tuệ (bố đẻ ông Long), diện tích đất 200m2 tại
khu vực Cồn Cồ, vị trí đất được cấp trùng với khuôn viên đất đang tranh chấp.
Ông Tuệ có vợ là bà Đào Thị Thập (chết năm 2018) và có 6 người con: ông
Phạm Hồng Sơn (chết khi còn nhỏ), bà Phạm Thị Hà, ông Phạm Hồng Long,
ông Phạm Văn Trọng, ông Phạm Minh Tâm, ông Phạm Trọng Toàn. Mặc dù,
ngày 16/9/2024 ông Phạm Trọng Tuệ có đơn trình bày ý kiến cho rằng thửa đất
trên ông làm đơn xin đất cho vợ chồng ông Phạm Hồng Long ra ở riêng. Nhưng
theo Quyết định cấp đất phản ánh đứng tên ông Phạm Trọng Tuệ, đây là tài sản
chung của ông Tuệ và bà Thập. Bà Thập chết vào năm 2018, quyền thừa kế kỷ
phần của bà Thập trong thửa đất cấp cho hộ gia đình ông Tuệ thuộc về hàng
thừa kế thứ nhất là ông Tuệ và các con ông Tuệ, bà Thập. Nhưng Tòa án cấp sơ
9
thẩm không đưa ông Phạm Trọng Tuệ, bà Phạm Thị Hà, ông Phạm Văn Trọng;
ông Phạm Minh Tâm; ông Phạm Trọng Toàn vào tham gia tố tụng với tư cách là
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, vi phạm quy định tại Điều 73 Bộ luật tố tụng dân
sự.
- Giải quyết vụ án vượt quá phạm vi thẩm quyền luật định: Thửa đất số 125
tờ bản đồ số 42 bản đồ địa chính, địa chỉ tại tổ dân phố 3, phường Hưng Trí, thị
xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích là 538,4m nhưng trong đó chỉ có 243m
2
xẩy ra tranh chấp (tính theo diện tích tranh chấp đo được trên thực địa, mặc dù
trong các bản khai và tại phiên tòa sơ thẩm bà Hiệp trình bày là 203m
2
), còn lại
295,4m
2
không có tranh chấp. Theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố
tụng dân sự, Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Còn đối với
diện tích đất không có tranh chấp, theo quy định tại Điều 105 Luật đất đai 2013
(có hiệu lực tại thời điểm giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm) thì thẩm quyền công
nhận quyền sử dụng đất (hay nói cách khác là thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất) thuộc về Ủy ban nhân dân các cấp. Bản án sơ thẩm quyết
định công nhận quyền sử dụng đất đối với cả diện tích đất không có tranh chấp
là vượt quá phạm vi thẩm quyền luật định.
- Ngoài ra, bà Hiệp tranh chấp đất đai bằng việc viết đơn yêu cầu các cơ
quan chức năng công nhận quyền sử dụng đất cho mình, không có hành vi cản
trở ông Long – bà Vân sử dụng đất trên thực địa. Trường hợp công dân có căn
cứ để cho rằng quyền và lợi của mình bị xâm phạm thì có quyền tranh chấp bằng
việc làm đơn khiếu nại hoặc đơn khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, còn cơ
quan nhà nước có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp đó. Nếu thấy công dân
không có quyền khiếu nại hoặc không có quyền khởi kiện (do công dân không
có căn cứ để cho rằng quyền và lợi của mình bị xâm phạm) thì cơ quan nhà nước
ra thông báo trả lại đơn khiếu nại hoặc trả lại đơn khởi kiện. Vì vậy bản án sơ
thẩm thụ lý và giải quyết yêu cầu buộc bà Hiệp “chấm dứt hành vi tranh chấp”
đất đai với vợ chồng ông Long – bà Vân là không phù hợp.
Các vi phạm thủ tục tố tụng nêu trên là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến
quyền, nghĩa vụ của các đương sự mà không thể khắc phục được tại cấp phúc
thẩm, do đó cần phải hủy án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải
quyết lại.
[3]. Bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại nên các đương sự không phải
chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
10
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự
Xử:
Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án
nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị
xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Ông Phạm Hồng Long và bà Nguyễn Thị Vân không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm, được trả lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00008415
ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Bà Phạm Thị Hiệp, ông Phạm Ngọc Thống không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- Tòa án, THADS cấp sơ thẩm;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẢM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Ngọc Tùng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm