Bản án số 209/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 209/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 209/2020/HS-ST ngày 28/12/2020 của TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Q. Gò Vấp (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 209/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/12/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 209/2020/HS-ST
Ngày: 28 - 12 - 2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Lê Thị Chí
Nguyễn Thị Kim anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thư Tòa án nhân dân quận
Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa:Quách Diệp Nguyệt Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Vấp, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
223/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 239/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
- Nguyn Ngc S (Tí), sinh năm: 1984, tại: Thành phHChí Minh; Hkhẩu
thường trú: tổ 7, khu ph11, phưng T, Quận I, Tnh ph Hồ C Minh;Tạm trú:
đường C, phường T, Qun I, Tnh phố Hồ C Minh; nghề nghiệp: không; trình độ
văn hóa: 10/12; n tộc:Kinh; giới nh: nam; n giáo: Kng; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Ngọc G; Có vợ Phạm Thị D, sinh năm 1984
và có 01 con sinh năm 2013; Tiền án:không, Tiền s: kng; Nn tn:- Ny
10/12/2004 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ C Minh xử phạt 08 m về tội giết
người(bn án số 2085/2004/HSST); - Ngày 27/9/2012 a án nhân n Quận 1 xử
pht 04 năm v tội p giật tài sản (bản án s212/2012/HSST); Tạm giam:
31/7/2020; (Có mt).
Bị hại:
- Ông Phan Trường T, sinh năm 1975; trú tại: đường S, Phường K, quận G,
Thành phố Hồ C Minh; (Vắng mặt).
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/- Bà Phạm Thị P, sinh năm 1986; trú tại: Cái Bè, Tiền Giang; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 ngày 31/7/2020, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe gắn máy
hiệu Yamaha Mio, biển số 52P1-8432 trên đường m người tài sản để cướp
giật. Khi đến trước số nhà 154/4A Hoàng Phái, Phường 17, quận Vấp thì
phát hiện ông Phan Trường T đang cầm điện thoại di động Iphone 11 Pro Max
trên tay nên S điều khiển xe máy áp sát dùng tay giật được chiếc điện thoại rồi
tăng ga chạy thoát. Ông T tri “cướp”, khi S chạy đến trước địa chỉ số nhà
226/82 Nguyễn Văn Lượng, Phường 17, Gò Vấp thì bị t tuần tra ng an
Phường 17 bắt giữ cùng vật chứng chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max
đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra, S khai nhận do bản thân không việc làm nên nảy sinh ý
định cướp giật tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 8 giờ ngày 31/7/2020 S đi xe
gắn máy hiệu Yamaha Mio, biển kiểm s 52P1-8432 từ quận 12 S các tuyến
đường quận Vấp tìm người tài sản để hở thì chiếm đoạt. Khi đi đến
trước số 154/4A Hoàng Phái, S phát hiện anh T đang đứng, trên tay cầm 01
điện thoại di động (ngay chùa Kỳ Quang) nên S quay xe lại dùng tay trái giật
chiếc điện thoại của anh T tăng ga bỏ chạy thì bị Tổ tuần tra Công an phường
17, quận Vấp phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Anh T khai điện thoại
Iphone 11 Pro Max tài sản của anh T mua với giá 34 triệu đồng. quan điều
tra đã trả lại tài sản trên cho anh T.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại Iphone 11 Pro max bS chiếm đoạt theo Kết luận định giá
số 218/KL ngày 14/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự -
Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh trị giá 21.000.000 đồng.
- 01 xe mô hiệu Yamaha Mio, biển kiểm soát 52P1-8432 phương tiện
S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh chiếc xe biển kiểm
soát 63H6-7901, số khung: 23B309Y021456; số máy: 23B3021455 không đổi. S
khai mua của chị Phạm Thị P, địa chỉ: Cái Bè, Tiền Giang. Sau khi mua xe của
chị P, S đã thay biển số 63H6-7901 thành biển số 52P1-8432 (biển số giả trên do
S xin được từ người bán ve chai, không họ tên, lai lịch). Xác minh nơi trú
của chị P được biết chị P không còn địa phương nên chưa ghi được lời khai của
chị P. Tuy nhiên, qua làm việc với Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của chị P) Đ
biết việc P đã bán xe nói trên. Bà Huỳnh Thị Ngọc G (mẹ của bị caó S) khai biết
việc S mua lại xe trên của chị P. Cơ quan điều tra đăng báo tìm chủ sở hữu.
3
Tại bn o trng s 215/CTr-VKS, ny 04/12/2020 của Vin kim t nhân
dân qun Gò Vp đã truy tố Nguyễn Ngọc S về ti “Cướp giật tài sản” theo điểm d
khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan
điểm xét xử đã đề nghị: Áp dụng điểm d khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều
51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 04 đến 05 năm .
Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ
sung 2017 khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe gắn máy biển số 52P1-8432.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào
kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý
kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận
Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyn Ngọc S đã thừa nhận hành vi phạm tội như
nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người
làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công
an quận Vấp, với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Vấp
với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong
hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của quan Điều tra, Viện kiểm sát
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
theo quy định của Bộ luật ttụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không
ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của c quan tiến hành tố tụng
người tiến hành tố tụng.
Đối chiếu điều luật ơng ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử
xét thấy đủ sở pháp cho rằng nh vi của Nguyễn Ngọc S đã phạm vào tội
“Cướp giật tài sản” tội phạm hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 171 Bộ
luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sungm 2017.
[2] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho hội, giữa nơi ng cộng đông
người qua lại bị o đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra bất
4
chấp cả sự trừng trcủa pháp luật. nh vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu
hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật Nhà nước bảo hộ, gây mất
trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ
muốn tiền để phục vụ cho nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi
cướp giật tài sản của người khác rất táo bạo liều lĩnh. Xét nhân thân bị cáo đã
từng bị xử lý về tội “giết ngườivà tội “ớp giật tài sản” với mức án hơn 10 năm
(đã được xóa án). Nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà mình đã được
cải tạo, chứng tỏ thời gian cải tạo của bản án trước chưa đủ tác dụng giáo dục răn
đe cho bị cáo. vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi hội một thời gian
dài, nhằm giúp bị o sau này biết tôn trọng pháp luật tôn trọng tài sản của
người khác, tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo lại mình trở thành người công
dân tốt hơn sau này ích cho hội đồng thời cũng nhằm tác dụng giáo dục,
răn đe png ngừa tội phạm chung.
[3] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét một số tình tiết giảm nhẹ cho bị
cáo: Tại quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bcáo đã
thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã được thu
hồi trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo lẽ ra bị cáo
phải chịu.
[4] Vhình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật nh sự, t
nh cht vụ án hoàn cảnh của bị o không ngh nghiệp n định đồng t xử
quyết định miễn pht đối với bị o.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại ông Phan Trường T vắng mặt nhưng qua hồ sơ
thể hiện ông đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu
Iphone 11 pro Max hiện không thắc mắc khiếu nại . Nên tại phiên tòa hôm nay
Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro Max qua xác minh
của ông Phan Trường T quan điều tra đã trả cho ông T. Hội đồng xét xử xét
thấy việc quan điều tra đã trả lại tài sản trên phù hợp với quy định của pháp
luật không nh hưởng đến nội dung vụ án, nên tại phiên tòa hôm nay không
đưa ra xem xét lại.
- Đối với 01 xe mô hiệu Yamaha Mio, biển kiểm soát 52P1-8432
phương tiện S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, qua xác minh xe biển số
63H6-7901, số khung: 23B309Y021456; số máy: 23B3021455 không đổi. S khai
mua của chị Phạm Thị P. Sau khi mua xe của chị P, S đã thay biển số 63H6-7901
thành biển số 52P1-8432 (biển số giả trên do S xin được từ người bán ve chai,
không họ tên, lai lịch). Xác minh nơi trú của chị P được biết chị P không
còn địa phương nên chưa ghi được lời khai của chị P. Qua làm việc với
Nguyễn Thị Đ (mẹ ruột của chị P) Đ biết việc P đã bán chiếc xe trên. Bà
Huỳnh Thị Ngọc G (mẹ của bị caó S) khai biết việc S mua lại chiếc xe trên của
5
chị P. quan điều tra đăng báo m chsở hữu nhưng đến nay không ai đến
nhận. Hội đồng xét thấy xe bị cáo sử dụng thực hiện hành vi cướp giật tài sản
đã được đăng trên thông tin đại chúng quá thời hạn quy định của pháp luật nhưng
không có ai đến nhận, nên quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S (Tí) phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Căn cứ vào điểm d khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của
Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung m 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S (Tí) 04 (bốn) năm . Thời hạn được tính
từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 31/7/2020.
n cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung
2017 khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điu 106 của Bluật Ttụng hình sự m 2015;
- Tịch thu sung quỹ 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 52P1-8432 (biển số
giả) có số khung: RLCM23B309Y021456; số máy: 23B3021455.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 biển số 52P1-8432 (biển số giả).
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 172/PNK, ngày 14/8/2020 của Công an
quận Gò Vấp).
Áp dụng khỏan 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí
Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
B cáo phải chịu án phí hình s thẩm 200.000 (Hai tm ngàn) đồng.
Bcáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính kể từ ngày nhận
được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của
Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
6
Nơi nhận:
- TAND TP. HCM;
- Viện kiểm sát Q. Gò Vấp;
- Thi hành án Q. Gò Vấp;
- Công an Q. Gò Vấp;
- Bị cáo;
- Bị hại
- Người CQLNVLQ
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Lê Hoàng Ngọc Hải
Tải về
Bản án số 209/2020/HS-ST Bản án số 209/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất