Bản án số 208/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 208/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 208/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 208/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Việt H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Việt H2; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng. 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Việt H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 208/2026/DS-PT
Ngày 29-7-2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Phạm Anh Tuyết
Ông Phạm Văn Hợp
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sthụ số: 106/2026/TLPT-DS ngày 11
tháng 06 năm 2026 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
Do Bản án dân sự thẩm số 08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 03 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thm số 178/2026/QĐ-PT ngày 29
tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 293/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng
7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Việt H, sinh năm 1976; Số CCCD: ************;
địa chỉ: Số H ngõ A đường P, phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Cao Thị Thanh H1, sinh năm 1983; Số CCCD: ************;
nơi ĐKHKTT: Số F V, A, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi hiện tại: Số A
đường T, phường K, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn Cao Thị Thanh H1:
Ông Đào Hồng N, Luật sư Công ty L2 - Đoàn Luật sư thành ph H; có mặt;
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
+ Cao Thị Việt H2, sinh năm 1978; Số CCCD: ************; địa chỉ: Số
F đường K, phường A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Trần Thị N1, sinh năm 1983; Số CCCD: ************; địa chỉ: Số H
P, phường P, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);
+ y ban nhân dân xã Q, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Thôn S, xã Q, thành
phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân Q, thành phố Hi Phòng: Ông Đặng Văn K - Chủ tịch Ủy ban nhân
dân xã Q; vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy
ban nhân dân Q, thành phố Hải Phòng: Ông Đoàn Đăng Đ, số CCCD:
************ - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q; vắng mặt (có đơn xin xét xử
vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Cao Việt H, sinh năm 1976; địa chỉ: S H
ngõ A đường P, phường P, thành phố Hải Phòng người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Cao Thị Việt H2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường K, phường A,
thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là ông Cao Việt H, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là bà Cao Thị Việt H2 đều thống nhất trình bày:
Vợ chồng cụ Cao Xuân H3, sinh năm 1945, mất ngày 17/8/2024 và cụ Trần
Thị S, sinh năm 1953, mất ngày 12/2/1994. Các cụ 03 người con chung gồm: Tôi
Cao Việt H, Cao Thị Việt H2 và Cao Thị Thanh H1. Ngoài ra, các cụ không
có con nuôi, con riêng nào khác. Ông bà nội sinh ra cụ Cao Xuân H3 là Cao Khắc T
Nguyễn Thị S1 đều đã chết trước cụ H3, ông bà ngoại anh H là cụ Trần Trọng P,
mất năm 1993 và cụ Vũ Thị S2, mất năm 2022.
Trong thời kỳ hôn nhân, cụ H3 cụ S chung với nhau phần diện tích
118m
2
đất tại thửa số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải
Phòng (nay là xã Q, thành phố Hải Phòng). Trên đất 01 ngôi nhà 01 tầng 2 gian
rộng khoảng 40m
2
, sau này cụ H3, cụ S có cơi nới thêm phần diện tích khoảng 20m
2
là các phần công trình phụ, bể nước. Cụ H3 và cụ S trên đất cho đến lúc chết. Các
anh chị em sinh ra trưởng thành trên diện tích đất của cụ H3, cụ S. Sau khi các
anh chị em gia đình riêng, không sống cùng bố mẹ trên diện tích đất tranh chấp
nữa. Năm 1994, cụ S chết, chỉ còn cụ H3 ở trên đất đến lúc chết. Năm 2007, cụ H3
3
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau hai lần mở đường, việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất anh H, chị H1, chị H2 không ý kiến gì. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đứng tên của cụ H3. Năm 2024, cụ H3 chết, theo nguyên
đơn được biết thì khi chết cụ H3 không để lại di chúc. Diện tích đất hiện trạng
217m
2
, dư ra so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do sai số trong quá trình
đo đạc, lập bản đồ địa chính trước đây, không sự lấn chiếm hay mrộng ranh
giới sử dụng đất.
Về công chăm sóc, chi phí chi trả khi đi bệnh viện, lo mai táng cho cụ Cao
Xuân H3: Sau thời gian cụ H3 lâm bệnh cho đến khi qua đời, cụ H3 phải đi bệnh
viện 4,5 lần. Những lần đi bệnh viện một hai lần đầu thì ba anh em phân công thay
nhau đưa cụ H3 đi bệnh viện và chăm sóc. Lần cuối trước khi cụ H3 mất thì chỉ
anh H, vợ chồng chị H2 thay nhau chăm sóc. Sau khi cụ H3 qua đời, anh H tiếp tục
là người đứng ra tổ chức toàn bộ tang lễ, đảo bảm đầy đủ các nghi thức theo phong
tục, tập quán tại địa phương và các nghi lễ ng giỗ sau này, chị H1 không sự
đóng góp. Việc này có họ hàng hai bên, làng xóm chứng kiến.
Đối với tiền phúng viếng sau đám tang: Đối với khoản tiền phúng viếng tại
đám tang của cụ H3, khách của ai thì gia đình đã trả lại cho cá nhân từng người theo
danh sách, không đưa vào sử dụng mục đích chung. Riêng số tiền phúng viếng của
làng xóm, họ hàng được 12.500.000 đồng. Tiền tử tuất của cụ H3 33.900.000
đồng. Toàn bộ số tiền này anh H chi phí vào đám tang, cúng giỗ cụ H3, còn thiếu vợ
chồng anh H vào thêm bằng tiền cá nhân, tiền phúng viếng đối với khách của chị
H2 đã chuyển lại cho anh H, nhưng gia đình để lại để sau này xây m cho cụ H3 sẽ
sử dụng số tiền đó. Tính đến thời điểm hiện tại, số tiền anh H chí phí cho đám tang,
cúng giỗ cụ H3, tổng là 170.420.000 đồng.
Đối với giá đất hiện trạng là 20.000.000đ/m
2
anh H và chị H2 đồng ý với giá
đất trên.
Đối với bản di chúc của cụ Cao Xuân H3, nguyên đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan chị Cao Thị Việt H2 ý kiến: Khi cụ Cao Xuân H3 lập di
chúc, anh H, chị H2 không biết, khi khởi kiện tại Toà án mới biết đến bản di chúc
này. Theo nội dung bản di chúc, cụ H3 để lại ½ giá trị nhà đất tại thửa đất số 292
một phần di sản cụ H3 được hưởng của cụ S. Tuy nhiên, bản di chúc này không có
hiệu lực vì: Bản di chúc của cụ H3 di chúc có điều kiện. Cụ H3 thể hiện rõ ý chí
chị Cao Thị Thanh H1 được hưởng di sản với điều kiện phải trách nhiệm chăm
lo thuốc men khi bố bbệnh, chăm sóc bố khi bố vgià lo toàn bộ việc hậu sự,
ma chay cho bố sau khi qua đời. Tuy nhiên, trên thực tế, toàn bộ việc chăm sóc khi
cụ H3 nằm viện, lo hậu sự, ma chay là do anh H thực hiện.
4
Nay, các anh chem không thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế nên
nguyên đơn làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án chia di sản thừa kế đối với diện tích
118m
2
đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T,
Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Q, thành phố Hải Phòng) di sản
của cụ H3 cụ S để lại theo quy đnh pháp luật. Đề nghị chia theo hướng vì anh H
là con trai trưởng nên đề nghị được nhận bằng hiện vật, và sẽ có trách nhiệm thanh
toán phần giá trị chênh lệch cho chị Cao Thị Thanh H1. Đối với một số công trình
nằm trên đất dôi dư, một số công trình xây dựng vừa nằm trên đất dôi dư, vừa nằm
trên đất được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất của các cụ, các cây cối thì anh
H không yêu cầu chia.
Đối với phần di sản của cụ S đã hết thời hiệu, thuộc về những người đang quản
di sản tức thuộc về anh H, chH2, chị H1, nên trong quá trình giải quyết vụ án
anh H đề nghị Toà án chia tài sản chung đối với phần di sản này, anh H nhận đất và
sẽ trả lại giá trị cho chị H1. Tại phiên toà, anh H thay đổi ý kiến, do phần di sản của
cụ S đã hết thời hiệu nên anh không đề nghị chia cho ba anh em đề ngh giao cho
anh H sử dụng vì anh người đang quản lý diện tích đất trên. Đồng thời, anh H
trình bày mặc dù chi phí mai táng cho cụ H3 anh cũng tự bỏ ra một phần, nhưng anh
không đề nghị giải quyết vấn đề mai táng phí anh con phải trách nhiệm lo
cho bố.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chCao Thị Việt H2 thống nhất ý
kiến trình bày của nguyên đơn và đề nghị anh H được nhận cả phần thừa kế chị H2
được hưởng. Không đề nghị xem xét mai táng phí, đối với một số công trình nằm
trên đất dôi dư, một số công trình xây dựng vừa nằm trên đất dôi dư, vừa nằm trên
đất được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất của các cụ, các cây cối cũng không
yêu cầu, đề nghị gì.
Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn
Cao Thị Thanh H1 trình bày:
Chị Cao Thị Thanh H1 thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về họ tên,
năm sinh, năm mất, các hàng thừa kế, nguồn gốc hình thành di sản thừa kế của cụ
H3 cụ S. Đồng thời chị trình bày thêm: Khi còn sống, cụ Cao Xuân H3 cụ Trần
Thị S tạo dựng được khối tài sản chung là diện tích 118m
2
đất tại thửa đất số 292, tờ
bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là Q), thành phố Hải Phòng. Hai cụ
ở trên đất từ năm 1983 cho đến khi chết. Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn hai gian,
gian mái bằng, gian mái ngói. Ngôi nhà do các cụ xây dựng lên. Các anh chị em
trên đất cho đến khi lớn, đi lập gia đình. Cụ H3, cụ S vẫn trên đất cho đến khi
chết. Hiện trạng căn nhà vẫn giữ nguyên cho đến nay. Diện tích đất trên đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/9/2007. Năm 2022, cụ H3 đến Văn
5
phòng Luật sư Khánh L lập di chúc. Nội dung di chúc là cụ H3 để lại cho chị H1 ½
quyền sử dụng đất, tài sản trên đất và một phần được hưởng của cụ S và chị H1
trách nhiệm chăm sóc thuốc mem cho cụ H3 lúc tuổi già. Di chúc có chữ ký của cụ
H3 sự chứng kiến của người làm chứng Nguyễn Thị Tố H4 Luật
Nguyễn Thị Thanh H5. Đến năm 2024, sau khi cụ H3 chết, chị H4 đã đưa chìa khóa
nhà cho anh H để hai anh em cùng đi đi về về thắp hương cho bố.
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 diện tích 118m
2
tại
Q, trên thực tế phần diện tích dôi do cụ H3 đã khai khẩn vượt đất hoang
quản lý sử dụng từ trước những năm 1980. Đối với một số công trình nằm trên trên
diện tích đất dôi dư, và phần công trình vừa nằm trên đất dôi dư, vừa nằm trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị H4 không có đề nghị phân chia, sau này ai sử
dụng thì sẽ nghĩa vthực hiện theo yêu cầu của quan nhà nước. Toàn bộ di
sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ khi cụ H3 chết do chị H4
anh Cao Việt H, chị Cao Thị V đồng quản lý, các anh chị em không ai ở trực tiếp
trên đất, nhưng có đi đi về về thắp hương cho bố mẹ.
Cụ Trần Thị S mất ngày 12/02/1994. Từ khi cụ S qua đời, cụ H3 liên tục
quản , sử dụng nhà đất hơn 30 năm, không ai tranh chấp hay ý kiến gì. Suốt quãng
thời gian này không có bất kỳ một yêu cầu nào từ những người thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của cụ S yêu cầu phân chia di sản. Như vậy, toàn bộ quyền sử dụng đất đủ
điều kiện để pháp luật thừa nhận là quyền sử dụng đất riêng của cụ H3.
Như vậy, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản đối với quyền sử dụng đất và
tài sản trên đất của cụ S không còn, đề nghị Toà án áp dụng quy định về thời hiệu
để giải quyết vụ án, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia thừa kế của cụ S. Phần
di sản của cụ S thuộc về cụ H3 do cụ H3 quản lý, sử dụng ổn định trên 30 năm,
không có ai tranh chấp.
Đối với việc lo tang lễ cho cụ H3, do anh Cao Việt H không đồng ý với quan
điểm đóng góp của chị H4. Di nguyện cụ H3 khi mất sđịa táng thi hài nghĩa trang
thôn T, xã Q, thành phố Hải Phòng nơi đây cũng là nơi an táng c S. Chị H4 đã tiến
hành vượt lập đất, xây dựng đổ đất xây bbao đối với phần đất chôn bố mẹ. Tuy
nhiên khi cụ H3 mất, anh em trong nhà bàn bạc, trao đổi về việc lo mai táng, ý
nguyện của cụ H3 là được địa táng, chị H4 trao đổi vấn đề này với anh H nhưng
anh H lại muốn hoả táng, khi đó anh em mâu thuẫn, không thống nhất được việc lo
hậu sự cho cụ H3, vì anh H cho rằng anh H là con trưởng nên anh H quyết định hoả
táng cho bố. Anh Cao Việt H không tuân theo di nguyện của cụ H3 mặc chị H4
đã trao đổi với anh H về di nguyện của cha. Nhưng anh Hồng T1 tiến hành thủ tục
hoả táng. Thực tế việc chi phí tang lễ cho cH3 được lấy từ nguồn phúng viếng ca
bà con họ hàng, láng giềng, bạn của cụ H3 cộng với chính sách tiền tử tuất. Khi
6
cụ H3 mất, số tiền tiết kiệm của cụ H3 để lại trong nhà là 50.000.000 đồng, anh Cao
Việt H đã chủ động sử dụng vào việc tang lễ. Nếu còn thiếu, chị H4 đề nghị được
đóng góp cùng anh Cao Việt H, nếu còn dư thì chị H4 không đề nghị chia. Đối với
việc thờ cúng bố mẹ, nhiều năm nay chị H4 vẫn thờ cúng mẹ tại gia, việc thờ cúng
mẹ được cụ Hợp đồng Ý và mọi việc thờ cúng tổ tiên trên ngôi nhà của cha, mẹ đều
từ nguồn kinh phí nhân của chị H4 chi trả. ChH4 cũng không yêu cầu xem xét
phân chia về cấp dưỡng…
Đối với công sức chăm sóc cụ H3 khi ốm đau: Anh Cao Việt H mâu thuẫn với
cụ H3 từ rất nhiều năm về trước. Anh H không về thăm hỏi cha cả khi cha ốm đau,
ngày giỗ mẹ, anh H cũng không về. Chỉ tới khi cụ H3 nằm xuống thì anh Cao Việt
H mới về nhà. Chị H4 được cụ H3 chỉ định việc chăm sóc ông mỗi khi ốm đau. Mỗi
lần cụ H3 nhập viện điều trị bệnh thì chị H4 là người chămc và sau khi xuất viện
thì chị H4 lại đón cụ H3 vnhà mình chăm sóc. Tháng 2/2022, cụ H3 bị C tchị
H4 có nhờ anh Cao Việt H và chị Cao Th V H2 chăm sóc cụ H3 nhưng cả hai anh
chị đều không chăm cha. Nội dung này thể hiện rất trong bản di chúc cụ H3 đã
lập ngày 17 tháng 3 năm 2022. Mọi chi phí khám chữa bệnh cho cụ H3 đều do chị
H4 chi trả, hoá đơn chứng từ chị H4 đều đưa cho cụ Hợp lưu G trong tủ của cụ H3.
D có lần nằm viện điều trị cuối cùng trước khi cụ H3 mất trong khoảng thời gian 8,9
ngày của tháng 8 năm 2024 thì do chị Cao Thị V H2 được cụ H3 nhờ đóng viện phí,
thanh toán hoá đơn mua thuốc hộ ông, thời điểm này chị H4 cũng đang bị m.
Anh Cao Việt H có giao nộp tới Toà án các hoá đơn thanh toán viện phí, thuốc men
của 02 đợt điều trị tháng 6 và tháng 8 năm 2024. Chị H4 khẳng định các hoá đơn
thanh toán của đợt điều trị tháng 6 năm 2024 chị H4 thanh toán đưa cụ Hợp
lưu T2 trong tủ, không phải do anh Cao Việt H chi trả.
Đối với di chúc cụ H3 đã lập năm 2022 có 02 người làm chứng là luật sư của
Công ty L3 theo đó, cụ H3 đã di nguyện để lại cho chị H4 toàn bộ quyền sử dụng
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải
Phòng (nay là xã Q, thành phố Hải Phòng) và tài sản trên đất (phần ca cụ H3). Chị
H4 không có yêu cầu phản tố, nhưng đề nghcông nhận nội dung bản di chúc đã lập
ngày 17/3/2022 và phân chia di sản thừa kế theo di chúc này.
Quan điểm của chị H4 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị
Toà án chia thừa kế theo di chúc, theo nội dung di chúc cụ H3 có để lại cho chị H4
½ phần diện tích đất tài sản trên đất của cụ H3 một phần diện tích đất tài
sản cụ H3 được hưởng của cụ S, còn đối với phần di sản của cS do đã hết thời hiệu
yêu cầu chia thừa kế, đề nghị áp dụng thời hiệu, và cụ H3 quản lý, sử dụng trên 30
năm nên cũng thuộc quyền sử dụng, sở hữu của cH3 đề nghị chia cho chị H4 phần
diện tích đất này và tài sản trên đất.
7
Đối với một scây trồng, công trình trên đất dôi công trình vừa nằm
trên đất dôi vừa nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị H4 không
yêu cầu chia.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị N1 (là vợ anh Cao Việt
H): Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn anh Cao Xuân H6.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND Q ý kiến: Diện tích
118m
2
đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất toàn bộ nằm trong quy hoạch hành lang giao thông nhưng chưa
quyết định thu hồi. Toàn bộ phần đất dôi dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nằm trong chỉ giới giao thông và đất canh tác do UBND xã Q quản lý. Khi giải
quyết, đề nghị Toà án chỉ chia thừa kế trong phạm vi đất được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Đối với công trình trên đất dôi chủ sử dụng đất sau này
nghĩa vụ hoàn trả đất cho cơ quan có thẩm quyền.
Những tài liệu do Toà án thu thập được:
- Bản ý kiến của Nguyễn Thị Tố H4 Nguyễn Thị Thanh H5 những
người làm chứng tại bản di chúc của ông Cao Xuân H3:
Ngày 17/3/2022, ông Cao Xuân H3 đến Công ty L3 trình bày muốn làm di chúc
định đoạt tài sản của mình nhờ Công ty L3 soạn thảo di chúc cho ông H3. Ông
H3 trình bày năm 1975 kết hôn với Trần Thị S có 03 người con chung là anh
Cao Việt H, chị Cao Thị Việt H2 chị Cao Thị Thanh H1. Trong quá trình sinh
sống, ông H3 tạo lập được diện tích đất 118m
2
tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17
tại thôn T, Đ, huyện T (nay Q), thành phố Hải Phòng. Tháng 2/1994 S
chết không để lại di chúc. UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ cấp GCN H01475 cho chủ sử dụng là ông Cao Xuân H3. Ông H3 xác
định đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, theo quy định của pháp luật, ông
được sở hữu ½ giá trị tài sản. S chết không để lại di chúc. Phần di sản của S
để lại được chia cho ông H3 và 03 người con. Như vậy, phần sở hữu của ông H3
½ giá trị căn nhà ½ quyền sử dụng 118m
2
đất 01 phần di sản của cụ S để lại
nằm trong tổng diện tích nhà, đất nêu trên. Chị Cao Thị Thanh H1 người chăm
sóc ông lúc ông ốm đau nên trước khi ông chết, nếu ông bán được ngôi nhà, ông sẽ
chuyển toàn bộ phần tiền ông được hưởng đlo tiền thuốc men chăm sóc ông H3
lúc tuổi già.
Ý nguyện của ông Cao Xuân H3, sau khi ông qua đời, tài sản tn ông tặng cho
con gái chị Cao Thị Thanh H1, sinh năm 1983, căn cước công n số
************ do Cục Cảnh sát cấp ngày 14/6/2027, địa chỉ: Số F V, A, phường Đ,
thành phố Hải Phòng.
8
H1 và H5 người làm chứng, trực tiếp chứng kiến ông Cao Xuân H3 đã
lập di chúc này trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt không bị ai ép buộc
hay lừa dối. Sau khi đọc lại toàn bộ nội dung di chúc do ông Cao Xuân H3 đã khẳng
định nội dung di chúc thhiện đúng, đầy đủ, chính xác nguyện vọng của mình đã
tên, điểm chỉ vào di chúc này trước sự chứng kiến của hai người làm chứng.
- UBND xã Q cung cấp thông tin ngun gốc đất như sau:
Thửa đất số 292 nguồn gốc của ông Cao Xuân H3 Trần Thị S đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi S và ông H3 còn sng thì trực
tiếp quản lý sinh sống trên thửa đất trên cho đến khi chết. Đến thời điểm hiện tại thì
không thông tin vtranh chấp đối với các hộ giáp ranh không thông tin thửa
đất nằm trong dự án quy hoạch phải thu hồi đất và không thông tin chuyển
nhượng, tặng cho, thế chấp thửa đất từ ông H3 và bà S cho người khác.
Theo sổ địa chính (không năm lập): Thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn
T, Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay xã Q), ghi tên chủ sử dụng đất ông
Cao Xuân H3, diện tích theo sổ là 118m
2
; Mục đích sử dụng làm nhà ở, thời hạn s
dụng lâu dài, ngày vào sổ 01/9/2009.
Theo sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư số 02 tại số thứ tự cấp
giấy 01475, ông Cao Xuân H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 118m
2
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17.
Theo sổ mục đất lập năm 2001, thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17, diện tích
là 421m
2
đất thổ cư không ghi tên, chủ sử dụng đất, sổ mc kê đất, lập trước sổ địa
chính.
Diện tích của thửa đất số 292 có sự thay đổi hiện tại còn 118m
2
đất giảm đi so
với sổ mục năm 2001 là do khi mở rộng đường Quốc lộ 10 đã thu hồi một phần
diện tích. Về tài sản trên đất cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không
nắm được, ai đang quản lý đất cũng không nắm được. Theo hồ sơ quản lý tại UBND
xã Đ hiện tại chỉ còn lưu giữ các tài liệu có liên quan đến thửa đất 292 gồm: sổ địa
chính, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ mục kê đất, bản đồ giải thửa.
Toàn bộ phần diện tích 118m
2
hiện nằm trong quy hoạch chỉ giới hành lang
giao thông của Quốc lộ A nhưng hiện chưa có Quyết định thu hồi. Chủ sử dụng đất
vẫn được thực hiện đầy đủ quyền của chủ sử dụng đất theo quy định pháp luật đất
đai.
- Biên bn xác minh tại địa phương về thông tin liên quan đến thửa đt s 292,
diện tích 118m
2
, tờ bản đồ số 17, tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố
Hải Phòng:
9
Trưởng thôn T, Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay xã Q, thành phố
Hải Phòng) cung cấp thông tin như sau: Thửa đất số 292 nêu trên có nguồn gốc của
ông Cao Xuân H3 và vợ là Trần Thị S. Khi còn sống ông H3 và bà S quản lý, sử
dụng. Sau khi ông H3 và bà S mất thì không có ai ở, chỉ có các con ông H3 và bà S
đi đi về về trông coi thờ cúng. Trên đất có 01 nhà 01 tầng mái bằng của ông H3, bà
S, sử dụng từ trước khi chết. Đến thời điểm hiện tại thửa đất không tranh chấp
với các hộ giáp ranh. Chủ sử dụng đất giáp ranh với diện tích đất cụ H3 không nắm
được. Đối với việc chăm sóc cụ H3 khi còn sống, ốm đau và việc lo chi phí mai táng
cho cụ H3 thì không nắm được.
- Xác minh tại địa phương, hàng xóm, họ hàng cụ H3, cụ S về việc chăm sóc,
lo chi phí mai táng cho cụ H3 thể hiện:
Họ hàng, làng xóm không rõ ai là người chăm sóc, chi trả viện phí cho cụ Cao
Xuân H3 khi m đau không ai người trực tiếp chi trả phí mai táng cho cụ
H3 khi cụ mất. Chỉ biết thời gian khi cụ H3 ốm nặng thì chị H1 chăm sóc thời gian
đầu, sau đó có anh H và chồng ch H2 chăm sóc.
Thị L1 - hàng xóm gần nhà cụ H3 trình bày: Khi còn sống, cụ Cao Xuân
H3 và anh Cao Việt H có mâu thuẫn với nhau nên anh H ít khi về thăm nom cụ H3.
Chỉ có chị Cao Thị Thanh H1 hay về thăm non cụ. Khi cụ H3 ốm đau tgọi chị H1
về chăm sóc, hoặc nhờ bà L1 gọi chị H1 về đưa đi khám bệnh. Khi ông H3 mất lúc
mới đưa về nhà thì L1 sang phụ giúp thấy chị H1 và anh H tranh luận,
mâu thuẫn về việc anh H muốn hoả táng, còn chị H1 muốn địa táng theo di nguyện
lúc còn sống ca cụ H3.
Ông Trần Văn T3 - em trai của cụ Trần Thị S trình bày khi ông Cao Xuân H3
chết thì anh Cao Việt H người đứng ra lo đám tang cho ông H3, đồng thời cũng
người quản tiền phúng viếng và chi trả các khoản chi cho đám tang (do người
nhà nên ông T3 biết vấn đề này).
Trần Thị H7 - em gái cụ Trần Thị S trình bày: Thời điểm ông Cao Xuân
H3 m trước khi chết thì anh H và chồng chị H2 chăm sóc chi trả chi phí liên
quan. Khi ông H3 mất thì anh H đứng ra lo đám tang chi trả các chi phí liên quan.
Cao Thị H8 (em gái ruột cụ H3), ông Nguyễn Thanh M (cháu cụ H3),
Phạm Thị M1 (em dâu cụ H3), ông Trần Văn T4 (em trai cụ S) thống nhất trình bày:
Cụ H3 ốm trong thời gian dài sau đó mới mất. Thời gian đầu cụ H3 m thì chị H1
đưa ông H3 đi bệnh viện chăm sóc, anh H, chị H2 cũng tham gia chăm sóc
cùng. Trong thời gian đầu, tiền đi bệnh viện của cụ H3 tự bỏ ra. Thời điểm gần
cuối đời, khi ốm nặng thì anh H và chồng chị H2 chăm sóc, chi trả viện phí. Khi đó
anh em trong nhà đã mâu thuẫn nên chị H1 không mặt bệnh viện. Về việc lo
10
ma chay cho cụ H3, anh H đứng ra lo, đối với tiền phúng viếng các anh chị em tự
giải quyết, các ông bà không biết.
* Sau khi xét x thẩm, nguyên đơn ông Cao Việt H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số
H ngõ A đường P, phường P, thành phố Hải Phòng và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Cao Thị Việt H2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường K, phường A,
thành phố Hải Phòng có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số
08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải
Phòng, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không công
nhận hiệu lực di chúc và chia di sản thừa kế theo pháp luật.
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn ông Cao Việt H nguyện vọng được
nhận phần di sản thừa kế bằng hiện vật và đồng ý sẽ có trách nhiệm thanh toán giá
trị nhà và đất theo kết quả định giá cho bị đơn chị Cao Thị Thanh H1. Tại phiên toà
phúc thẩm, ông H cung cấp thêm được các tài liệu, chứng cứ thể hiện ông H có khả
năng tài chính thực hiện việc thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy ông H là con trai
trưởng trong gia đình. Mặt khác, theo tinh thần di chúc của cụ Cao Xuân H3 để lại
có nội dung: Cụ Hợp đồng ý để lại ½ giá trị nhà đất tại thửa đất số 292 và mt phần
di sản cụ H3 được hưởng của cụ S cho chị Cao Thị Thanh H1, tuy nhiên bản di chúc
này không có hiệu lực vì: Bản di chúc của cụ H3 là di chúc có điều kiện. C H3 thể
hiện ý chí chị H1 được hưởng di sản với điều kiện phải trách nhiệm chăm lo
thuốc men khi bố bị bệnh, chăm sóc bố khi bố về già và lo toàn bộ việc hậu sự, ma
chay cho bố sau khi qua đời. Thực tế, toàn bộ việc chăm sóc khi cụ H3 nằm viện, lo
hậu sự, ma chay do ông H thực hiện. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Cao Thị Việt H2 không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Tký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng các quyền
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Việt H người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Việt H2:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ o khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị
Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Việt H và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Việt H2; sửa bản án dân sự thẩm s
11
08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải
Phòng theo hướng:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nội dung yêu cầu chia thừa kế
đối với phần di sản của cụ Trần Thị S để lại nằm trong khối di sản là diện tích 118m
2
đất và tài sản trên đất tại thửa số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay
xã Q), thành phố Hải Phòng. Xác đnh phần di sản thừa kế hết thời hiệu này thuộc
về những người thừa kế đang quản lý, sử dụng là ông Cao Việt H, bà Cao Thị Việt
H2 và bà Cao Thị Thanh H1.
- Công nhận di chúc lập ngày 17/03/2022 của cụ Cao Xuân H3 tại Công ty L3
hợp pháp một phần đối với phần diện tích 59m
2
đất ½ giá trị tài sản trên đất tại
thửa số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải
Phòng.
- Chia di sản thừa kế đối với di sản là diện tích 118m
2
đất tại thửa đất số 292,
tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải Phòng và tài
sản trên đất theo di chúc và theo quy định của pháp luật như sau:
+ Cao ThThanh H1 được quyền sdụng 118m
2
đất được quyền sở
hữu tài sản gắn liền với 118m
2
đất (bao gồm nhà chính, gian thờ và nhà quán (kho)
tại thửa số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, Đ, huyện T (nay là Q), thành phố
Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 812893, số vào sổ cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H01475 do UBND huyện T, thành phố Hải
Phòng cấp ngày 28/9/2007 cho ông Cao Xuân H3.
+ Cao Thị Thanh H1 nghĩa vụ thanh toán cho ông Cao Việt H số tiền
821.561.086 đồng.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chủ sử dụng trên Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự thẩm:Cao Thị Thanh H1 phải chịu 61.317.665 đồng
án phí dân sự sơ thẩm; ông Cao Việt H phải chịu 36.862.443 đồng án phí dân sự sơ
thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Cao Việt H và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Việt H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Đây vụ án tranh chấp
12
v tha kế tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ
án kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thời hiệu chia thừa kế:
Theo sơ yếu lý lịch của anh Cao Việt H và trích lục khai tử của cụ Cao Xuân
H3, cụ Trần Thị S thể hiện: Bố mẹ của anh H cụ Cao Xuân H3, sinh năm 1945,
mất ngày 17/8/2024 và cụ Trần Thị S, sinh năm 1953, mất ngày 12/2/1994. Theo
Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đng thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao thì từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 B luật
Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu
chia di sản là 30 năm đối với bất động sản ktừ thời điểm mở thừa kế (trên diện tích
đất yêu cầu chia thừa kế có căn nhà của cụ H3, cụ S để lại tuy nhiên cụ S mất năm
1994 (sau ngày 01/7/1991) nên khoảng thời gian từ ngày 01/7/1996 đến 01/01/1999
không được trừ vào thời hiệu). Cụ H3 mất năm 2024, do vậy thời hiệu khởi kiện yêu
cầu chia thừa kế của cụ H3 vẫn còn, cụ S chết ngày 12/2/1994, ngày 31/10/2024 anh
H nộp đơn khởi kiện. Do vậy, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với phần
di sản của cụ S đã hết. Bị đơn đnghị áp dụng thời hiệu. Do vậy, Hội đồng xét
xử căn cứ khoản 2 Điều 184, điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình
chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia thừa kế là phần di sản của cTrần Thị S để lại.
[3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn:
Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu
chia di sản thừa kế đối với diện tích đất tài sản gắn liền với diện tích 118m
2
đất
thuộc thửa số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng
(nay là xã Q, thành phố Hải Phòng). Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị chia thừa kế
đối với những tài sản nằm trong giấy chứng nhận quyền sdụng đất (nhà chính gồm
cả gian thờ nhà quán (kho), đối với những công trình xây trên đất dôi dư, công
trình vừa nằm trên đất dôi vừa nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
cây cối thì nguyên đơn không yêu cầu chia. Chị H2, chị H1 cũng nhất trí. Đồng thời,
tại phiên tòa, các đương sự không đề nghị xem xét vấn đề mai táng phí, cấp dưỡng
cho cụ H3, c S. Do vậy, Hi đồng xét xử chỉ xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu
cầu của nguyên đơn.
- Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Toà án chia di sản thừa kế đối
với diện tích 118m
2
đất tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ số
17 địa chỉ tại thôn T, Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Q, thành phố
13
Hải Phòng) di sản của cụ H3, cụ S để lại theo quy định pháp luật, Hội đồng xét
xử đánh giá như sau:
[4] Xác định nguồn gốc đất tranh chấp và xác định di sản thừa kế:
Theo sổ sách lưu giữ tại địa phương (sổ địa chính, sổ mục kê năm 2001, bản
đồ giải thửa) thể hiện phần diện tích 118m
2
đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số
292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay Q,
thành phố Hải Phòng) đứng tên chủ sử dụng là ông Cao Xuân H3, đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cao Xuân H3 ngày 28/9/2007. Căn cứ lời
khai các đương sự đều thống nhất với nhau phù hợp với kết quả xác minh tại
chính quyền địa phương thể hiện nguồn gốc diện tích đất và tài sản trên đất là tài sản
chung của cụ Cao Xuân H3 và cụ Trần Thị S sử dụng ổn định từ trước năm 1980.
Do vậy, căn cứ xác định diện tích đất tài sản trên đất nguồn gốc của vợ
chồng cụ Cao Xuân H3 và cụ Trần Thị S.
Theo nhận định tại mục [2] Hội đồng xét xử đã đình chỉ giải quyết đối với yêu
cầu chia thừa kế là phần diện tích của cụ Trần Thị S để lại. Xét sau khi cụ S chết
(ngày 12/2/1994), cụ H3 quản lý, sử dụng ổn định diện tích đất, tài sản trên đất hơn
30 năm. m 2007, cụ H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất trên, các hàng thừa kế đều biết và không ai có ý kiến, thắc mắc về việc này.
Tại thời điểm 30 năm sau khi cụ S chết, khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế của
cụ S (12/2/2024), thì cụ H3 khi đó vẫn còn sống, và vẫn đang ở trên đất, vẫn đang
người quản lý, sử dụng, đến tháng 8/2024 cụ H3 mới chết. Theo quy định tại Điều
236 Bộ luật Dân squy định Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không
căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn …30 năm đối
với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó...”, theo khoản 1 Điều 623
Bộ luật Dân sthì khi hết thời hiệu yêu cầu chia thừa kế thì di sản thuộc về người
đang quản lý tài sản đó. Do vậy, có căn cứ xác định phần di sản đã hết thời hiệu chia
thừa kế của cụ S đương nhiên thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của cụ Cao
Xuân H3.
[5] Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện phần diện tích cụ H3 sử
dụng là 217m
2
, trên đất 01 ncấp bốn gian thờ, 01 nhà quán (kho), công
trình phụ, bếp, nhà vệ sinh, bể nước, một số cây trồng, trong đó phần diện tích
đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 118m
2
, còn lại phần diện tích đất
dôi một phần thuộc chỉ giới lưu không, một phần diện tích đất dôi theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và theo xác minh tại địa phương thể hiện phần dôi
dư này là đất canh tác do UBND xã Q quản lý.
14
Theo kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Theo s địa chính (không
năm lập): Thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 tại thôn T, Đ, T, Hải Phòng, ghi tên chủ
sử dụng đất là ông Cao Xuân H3, diện tích 118m
2
; Mục đích sử dụng làm nhà ở, thời
hạn sử dụng lâu dài, ngày vào sổ 01/9/2009.
Theo sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư số 02 tại số thứ tự cấp
giấy 01475, ông Cao Xuân H3 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 118m
2
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17.
Theo sổ mục kê đất lập năm 2001, thửa đất số 292 tờ bản đ số 17, diện tích
là 421m
2
đất thổ cư không ghi tên, chủ sử dụng đất, sổ mc kê đất, lập trước sổ địa
chính. Diện tích thửa đất số 292 có sự thay đổi còn 118m
2
đất giảm đi so với sổ mục
năm 2001 do khi mở rộng đường Quốc lộ 10 đã thu hồi một phần diện tích.
Theo lời khai của nguyên đơn thể hiện phần diện tích dôi do sai số trong quá
trình đo đạc, không có sự lấn chiếm; theo lời khai của bị đơn thể hiện phần diện tích
đất dôi dư là do cụ H3 khai hoang sử dụng từ trước.
Như vậy, chỉ có căn cứ xác định 118m
2
đất là tài sản hợp pháp của cH3 (các
đương sự cũng chỉ yêu cầu chia thừa kế phần diện tích 118m
2
đất tài sản trên
118m
2
đất). Phần diện tích đất dôi dư không có căn cứ xác định do sai số đo đạc và
không có căn cứ xác định phần diện ch đất dôi dư cũng thuộc quyền sử dụng hợp
pháp của cụ H3, cụ S.
Theo kết quả xác minh toàn bộ phần diện tích 118m
2
hiện nằm trong quy hoạch
chỉ giới hành lang giao thông của Quốc lộ A nhưng hiện tại chưa có Quyết định thu
hồi. Chủ sử dụng đất vẫn được thực hiện đầy đủ quyền của chủ sử dụng đất theo quy
định pháp luật đất đai. Thửa đất cũng không có thông tin tranh chấp với các hộ giáp
ranh, không có thông tin về việc chuyển nhượng, tặng cho nào khác.
Như vậy, xác định diện tích 118m
2
tài sản gắn liền với 118m
2
tại thửa đất
số 292, tờ bản đổ s17 thôn T, Q, thành phố Hải Phòng di sản hợp pháp của
cụ Cao Xuân H3 để lại.
[6] Xác định hàng thừa kế: Cụ Cao Xuân H3 cụ Trần Thị S chung với
nhau 03 người con: Anh Cao Việt H, chCao Thị Việt H2, chị Cao Thị Hồng H9.
Ngoài ra, các cụ không con nuôi, con riêng nào khác. Như vậy, xác định hàng
thừa kế thứ nhất của cụ H3 cS là: Anh H, chị H2, chị H9.
[7] Xét di chúc lập ngày 17/03/2022 của cụ Cao Xuân H3 tại Công ty L3
nội dung: “Tôi là: Cao Xuân H3…trong lúc tinh thần minh mẫn, sáng suốt, trước s
chứng kiến của Luật Nguyễn Thị Thanh H5 của người làm chứng, tôi tiến hành
lập di chúc với nội dung như sau: Năm 1975 tôi kết hôn với bà Trần Thị S. Quá trình
chung sống chúng tôi với nhau 03 con chung, cụ thể: Cao Việt H, Cao Thị Việt
15
H2, Cao Thị Thanh H1... Hiện 03 người con của chúng tôi đã khôn lớn, trưởng
thành, đều đã xây dựng gia đình riêng và có con, cuộc sống ổn định và hạnh phúc.
Ngoài ba người con nêu trên, vợ chồng chúng tôi không có con riêng, con nuôi nào
khác. Quá trình sinh sống tôi tạo lập và được hưởng thừa kế khối tài sản hiện có
như sau:
1. i sản thứ nhất: Quá trình chung sống với vợ tôi là Trần ThS, tôi và
S tạo lập được căn nhà cấp 4 xây dựng trên phần diện tích đất 118m
2
tại thửa đất
số 292, tbản đồ số 17 tại thôn T, Đ, huyện T, TP .. Tháng 02/1994, S chết
không để lại di chúc. Ngày 28/8/2007 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhn quyền
sử dụng đất số A0812893, số vào số cấp H01475 cho chủ sử dụng cho tôi ông
Cao Xuân H3. Hiện nay tôi vẫn đang quản sử dụng nhà đất nêu trên. Đây
tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên tài sản chung của tôi bà S.
Theo quy định của pháp luật, tôi sở hữu ½ giá trị tài sản nêu trên. Bà S chết không
để lại di chúc. Phần di sản của S được chia đều làm 4 phần cho tôi 3 người
con. Như vậy phần sở hữu của tôi ½ giá trị của căn nhà ½ quyền sử dụng
118m2 đất và 1 phần di sản của bà S để lại nằm trong tổng diện ch nhà và đất nêu
trên.
Nay bản thân tôi ốm đau, bệnh tật, hiện toàn bộ việc chăm sóc cho tôi do con
gái tôiCao Thị Thanh H1 đảm nhận, chi phí tốn kém. Vì vậy, nếu trước khi chết
tôi bán được ngôi nhà thửa đất trên thì toàn bộ tiền bán nthuộc sở hữu của
tôi, tôi sẽ chuyển cho Cao Thị Thanh H1 để lo tiền thuốc men chữa bệnh chăm
sóc tôi lúc tuổi già.
……..
Để tránh trường hợp sau này khi tôi không may qua đời, các con cháu của tôi
thể xảy ra tranh chấp về tài sản nên tôi thực hiện việc lập di chúc này để phân
chia di sản thừa kế như sau:
Toàn bộ phần sở hữu của tôi nằm trong khối tài sản chung giữa tôi S
(bao gồm nhà quyền sử dụng đất) nằm trong tổng số diện tích 118m
2
đất, thuộc
thửa số 292, Tờ bản đồ số 17 tại thôn T, Đ, huyện T, TP . Hải Phòng theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số A0812893, số vào số cấp H01475 do UBND huyện
T cấp Ngày 28/8/2007 cho chủ sử dụng cho tôi ông Cao Xuân H3...tôi tặng cho
con gái là: Cao Th Thanh H1 làm tài sản riêng”…
Tôi xin cam đoan rằng:
- Di chúc này thể hiện đầy đủ, chính xác nguyện vọng của tôi.
- Toàn bộ di sản nêu trên là tài sản hợp pháp của tôi.
16
- Việc lập di chúc này hoàn toàn tự nguyện, trong lúc tinh thần minh mẫn
sáng suốt không bị ai ép buộc, không nhằm trốn tránh bất kỳ một nghĩa vụ pháp
nào khác và phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội và tôi đã đọc lại
toàn bộ di chúc trước khi ký và điểm ch”...
Xét về hình thức: Di chúc được lập thành văn bản, 6 trang, mỗi trang đều
số thứ tchữ của ông Cao Xuân H3, di chúc được lập tại Công ty L3,
sự chứng kiến của hai người làm chứng hai luật Nguyễn Thị Tố H4, Nguyễn
Thị Thanh H5, di chúc không stẩy xoá, sửa chữa. Ông H3 đã tự tay , điểm
chỉ vào di chúc trước sự chứng kiến của hai người làm chứng. 2 người làm chứng
xác nhận chữ ký, điểm chỉ của ông H3 và ký vào bản di chúc. 02 người làm chứng
luật H4 luật H5 không thuộc trường hợp không được làm chứng theo quy
định pháp luật.
Về nội dung: Di chúc của cH3 được lập trong lúc minh mẫn, tỉnh táo, không
bị ai ép buộc, ghi rõ ngày tháng năm lập di chúc, họ tên người lập di chúc và người
hưởng di sản, di chúc thể hiện di sản để lại và nơi di sản. Về phần tài sản cụ
H3 định đoạt trong di chúc thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của cụ H3. Nội
dung di chúc thể hiện rõ người thừa kế, nội dung của di chúc không trái đạo đức xã
hội, không vi phạm điều cấm.
Về nội dung nghĩa vụ khi nhận di sản: Di chúc lập ngày 17/3/2022 của cụ Cao
Xuân H3 có nội dung “Nghĩa vụ khi nhận di sản:
- Sau khi tôi qua đời, việc lo hậu sự ma chay là do con gái Cao Thị Thanh H1
quyết định theo ý nguyện của tôi là được chôn cất cạnh mộ của bà S tại nghĩa trang
thôn T, xã Đ, huyện T, không ai có quyền can thiệp.
- Hiện phần mộ của S đang để tại nghĩa trang thôn T, ý nguyện của tôi
các con không di dời mộ bà S3 đi nơi khác.
- Ngoài nghĩa vụ chăm c tôi lúc tuổi già thì khi tôi qua đời, các con cùng
cháu tôi phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống”.
Theo nguyên đơn trình bày khi cụ H3 qua đời chỉ có anh H, chị H2 chăm sóc,
lo viện phí khi ông H3 m đau đi bệnh viên và lo chi phí mai táng, hậu sự cho cH3
nên bản di chúc trên không có hiệu lực và xuất trình cho Toà án 15 hđơn, giấy tờ
chứng minh việc anh H chi trả phí khám chữa bệnh, 13 hoá đơn, chứng từ thể
hiện anh H người chi trả tiền mai táng phí cho cụ H3. Bị đơn chị Cao Thị Thanh
H1 trình bày suốt quá trình từ khi cụ S mất đến khi cụ H3 chết, mỗi khi cụ H3 ốm
đau tchị H1 người chăm sóc, trước khi mất cụ H3 nhiều lần m đau, đều do chị
chăm sóc, lần cuối cùng cụ H3 ốm trước lúc mất thì do chị bị ốm nên không chăm
sóc được, chị cũng là người chuẩn bị phần đất để chôn cất cụ H3, cụ S. Còn đối với
17
việc lo hậu sự cho cụ H3: Khi cụ H3 mất, chị H1 muốn đứng ra lo đám tang cho bố
theo đúng ý nguyện ca cụ H3 là địa táng, nhưng do lúc đó anh H con trai trưởng
muốn đứng lên lo cho bố, vì do đó nên anh em mâu thuẫn nên anh H đứng ra
lo đám tang cho bố và anh H đã hoả táng không đúng theo ý nguyện của cụ H3, chi
phí đám tang lấy từ tiền phúng viếng của họ hàng, hàng xóm và tiền tử tuất của cụ
H3.
Hội đồng xét xử xét: Căn cứ lời khai các đương sự, kết quả xác minh họ hàng,
hàng xóm, người thân của cụ H3, cụ S các tài liệu, chứng cứ do các đương sự
giao nộp có căn cứ thể hiện từ khi cụ S chết, cụ H3 sống một mình tại nhà đất tranh
chấp, trong suốt quá trình sinh sống trên diện tích đất tranh chấp, cụ H3 thường
xuyên m đau, nhiều lần phải đi bệnh viện, chị H1 hay đi đi vvnhà đất tranh chấp
để thăm nom cụ H3, cũng là người chăm sóc, bỏ chi phí cứu chữa bệnh cho cụ H3.
Thị L1 (hàng xóm gần nhà cụ H3) cũng cung cấp thông tin chị H1 người
hay đi về thăm cụ H3, mỗi lần cụ H3 ốm đều gọi chị H1 về chăm sóc, cũng lần
cụ H3 ốm có nhờ L1 gọi chị H1 về chăm sóc. Chính trong nội dung bản di chúc
lập ngày 17/3/2022 c Cao Xuân H3 đã khẳng định “Nay bản thân tôi ốm đau, bệnh
tật, hiện toàn bộ việc chăm sóc cho tôi do con gái tôi Cao Thị Thanh H1 đảm
nhận, chi phí tốn kém. Vì vậy, nếu trước khi chết tôi bán được ngôi nhà và thửa đất
trên thì toàn bộ tiền bán nhà thuộc sở hữu của tôi, tôi sẽ chuyển cho chị Cao Thị
Thanh H1 để lo tiền thuốc men chữa bệnh và chăm sóc tôi lúc tuổi già”. Chỉ có lần
cuối cùng khi cụ H3 điều trị tại bệnh viện sau đó mất thì anh H, chH2 mới là người
chăm lo cho cụ H3 tại bệnh viện.
Đối với việc lo mai táng cho cụ Cao Xuân H3: căn cứ khẳng định khi cụ
H3 mất, vý chí chị H1 cũng muốn lo đám tang cho cụ H3 theo phương thức địa
táng như ý nguyện của cụ H3 dặn dò trước khi chết, nhưng anh H muốn đứng lên lo
đám tang cho banh con trưởng nên anh em đã mâu thuẫn. Việc anh H đứng
lên lo tang lễ cho cụ H3 cũng phù hợp với phong tục tập quán địa phương. Chị H1
cũng mặt tại tang lễ của cụ H3. Mặt khác, tiền phúng viếng của họ hàng, làng
xóm cũng được sử dụng vào việc lo mai táng phí cho cụ H3. Đồng thời, theo nội
dung di chúc cụ H3 tại phần nghĩa vụ khi nhận di sản có nội dung việc lo hậu sự ma
chay cho cụ H3 là được chôn cạnh mộ cụ S tại nghĩa trang T5, và các con không di
dời mộ cụ S đi nơi khác. Trên thực tế mộ cụ H3 cũng được chôn cất cạnh mộ cụ S
tại nghĩa trang T5 phần mộ cS cũng không bị di dời đi nơi khác. Do vậy, có căn
cứ thể hiện chị Cao Thị Thanh H1 đã thực hiện đúng nghĩa vụ như trong di chúc của
cụ H3 để lại.
Như vậy, theo quy định tại Điều 624, 625, 626, 627, 628, 630, 631, 632, 634
Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc lập ngày 17/3/2022 của cụ Cao Xuân H3 tại Công
18
ty L3 là hợp pháp đối với phần liên quan đến nhà đất tại thửa đất số 292, tờ bản đồ
số 17 địa chtại thôn T, xã Đ, huyện T, TP . Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số A0812893, svào số cấp H01475 do UBND huyện T cấp Ngày
28/8/2007 cho chủ sử dụng ông Cao Xuân H3 nên phát sinh hiệu lực ktừ thời
điểm mở thừa kế. Hội đồng xét xử căn cứ giao toàn bộ phần di sản của ông H3
và phần nhà đất ông H3 được hưởng từ cụ S cho chị Cao Thị Thanh H1 sử dụng, sở
hữu. Như vậy, đối với ½ diện tích đất (59m
2
) và ½ tài sản trên
đất, 1 phần đất
(14,75m
2
) và một phần tài sản trên đất cụ H3 được hưởng của cụ S, tổng cộng
73,75m
2
đất và một phầni sản gắn liền được chia cho chị H1 theo di chúc. Còn lại
đối với 44,25m
2
đất một phần tài sản trên đất của cụ H3 chưa được định đoạt
trong di chúc nên chia theo quy định pháp luật theo quy định tại Điều 649, 650, 651
Bộ luật Dân sự.
[8] Xác định công sức tôn tạo, giữ gìn đất: Tài liệu trong hồ thể hiện, sau
khi cụ H3 chết năm 2024, thì nhà đất không có ai trực tiếp quản lý, sử dụng mà anh
H, chị H1, chị H2 vẫn thỉnh thoảng đi đi về về hương khói nên xem xét công sức giữ
gìn, tôn tạo nhà đất của anh H, chị H1, chị H2ngang nhau. Đồng thời anh H, chị
H2, chị H1 cũng là những người thừa kế hàng thnhất được hưởng phần di sản còn
lại của cụ H3, nên chia đều 44,25m
2
và một phần tài sản trên đất cho ba anh em (là
đã bao gồm cả công sức giữ gìn và phần di sản được hưởng), cụ thể: Anh H, chH2,
chị H1 mỗi người được 14,75m
2
và một phần tài sản trên đất.
[9] Phương pháp chia di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật như sau:
Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản, theo kết quả xác
minh giá đất thị trường tại thời điểm xét xử tại UBND Q nội dung giá trị quyền
sử dụng đất tại thời điểm hiện tại là 20.000.0000 đồng/m
2
, các đương sự đều đồng ý
với giá đất này. Giá trị toàn bộ các công trình, cây cối trên 217m
2
đất
143.714.793đ. Trong đó giá trị các công trình xây dựng nằm trên diện tích đất được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (là tài sản các đương sự yêu cầu chia) bao
gồm 01 nhà chính trị giá 52.340.521 đồng, 01 gian thờ trị giá 38.830.339 đồng, gian
nhà kho trị giá 14.312.400 đồng, tổng giá trị là 105.483.260 đồng. Theo kết quả xác
minh giá trị tại thời điểm xét xử vẫn giữ nguyên đối với vật kiến trúc trên đất. Đối
với các công trình xây dựng trên phần diện tích dôi dư, một phần trên đất dôi dư,
cây cối các đương sự không yêu cầu chia.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định hiện hành về điều
kiện tách thửa đất, đối với phần diện tích 118m
2
đất hiện không đủ điều kiện tách
thửa, chị Cao Thị Thanh H1 lại là người được nhận phần lớn diện tích đất và tài sản
trên đất của cụ H3 theo di chúc phần tài sản của cụ H3 chia theo pháp luật. Do
vậy, cần giao cho chị H1 sử dụng toàn bộ phần diện tích 118m
2
đất tại thửa đất số
19
292, tờ bản đồ số 17 địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải
Phòng và phần tài sản xây dựng trên diện tích 118m
2
đất.
Chị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho:
- Anh Cao Việt H: 285.000.000đ (giá trị 14,75m
2
đất) + 13.185.407đ (giá trị
tài sản trên đất đã làm tròn) = 298.185.407 đồng.
- Chị Cao Thị Việt H2: 285.000.000đ (giá trị 14,75m
2
đất) + 13.185.407đ (giá
trị tài sản trên đất đã làm tròn) = 298.185.407 đồng.
Chị H2 ý kiến để anh H nhận cả phần của chị H2. Do vậy, chị H1 phải
thanh toán cho anh H là: 298.185.407 đồng + 298.185.407 đồng = 596.370.814
đồng.
Đối với phần tài sản xây dựng ngoài phần diện tích 118m
2
đất tại thửa đất số
292, tờ bản đồ số 17 địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải
Phòng các công trình xây dựng một phần trên diện tích 118m
2
chủ sdụng tiếp
tục sử dụng phải nghĩa vụ chấp hành yêu cầu, quyết định của quan nhà nước
có thẩm quyền.
[10] Sau khi xét x thẩm, nguyên đơn ông Cao Việt H và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Việt H2 có đơn kháng cáo đối với Bản ánn sự
thẩm số 08/2026/DS-ST ngày 31 tháng năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
5 - Hải Phòng.
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn ông Cao Việt H đã thay đổi nội dung
kháng cáo. Nguyên đơn hoàn toàn đồng ý với việc phân chia thừa kế của Toà án cấp
thẩm. Ông H đnghị Hội đồng xét xử chia cho ông H được nhận phần di sản thừa
kế bằng hiện vật là nhà và đất, ông H sẽ có trách nhiệm thanh toán bằng giá trị bằng
tiền theo kết quđịnh giá cho bà Cao Thị Thanh H1. Ngoài ra, ông H cung cấp thêm
các tài liệu mới là 02 stiết kiệm số HA 20133011 HA 20133012 thể hiện số tiền
tiết kiểm 01 tỷ đồng; 02 Đơn xin xác nhận ngày 22/7/2026; Trích đo hiện trạng
thửa đất ngày 28/7/2006 (bản photo); 02 Giấy vay tiền ngày 30/1/2018, ngày
13/3/2018 (bản photo); Hợp đồng mua bán chuyển nhượng nhà ngày 03/8/2009 (bản
photo)….Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Việt H2 tại giai đoạn
phúc thẩm không cung cấp được chứng cứ gì.
Tại phiên toà Hội đồng xét xử đã làm rõ trường hợp HĐXX giao toàn bộ hiện
vật cho bà Cao Thị Thanh H1 quảnthì H1 xin phải thời gian mới có đủ điều
kiện thanh toán tiền cho ông Cao Việt H. Hội đồng xét xử nhận thấy nếu giao di sản
thừa kế cho nguyên đơn ông H quản lý, sử dụng và ông H có trách nhiệm phải thanh
toán cho H1 gtrị bằng tiền theo phần di sản thừa kế H1 được hưởng theo kết
20
quả định giá thì hoàn toàn có thể thi hành án. Mặt khác, ông H con trường trong
gia đình việc duy trì thờ cúng tổ tiên đúng theo phong tục tập quán Việt Nam.
Thêm vào đó, theo tinh thần di chúc của cụ Cao Xuân H3 thể hiện: Cụ Hợp đồng ý
để lại ½ giá trị nđất tại thửa đất số 292 và một phần di sản cụ H3 được hưởng của
cụ S cho Cao Thị Thanh H1 (không nói cho bà H1 bằng hiện vật nhà và đất).
Từ những phân tích trên, cần giao cho nguyên đơn ông Cao Việt H quản lý, sử dụng
phần diện tích 118m
2
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 địa chỉ tại thôn T,
xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải Phòng các công trình xây dựng trên
đất. Ông H trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền phần di sản thừa kế H1
được hưởng theo kết quả định giá cho bị đơn bà Cao Thị Thanh H1 là phù hợp.
vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
ông Cao Việt H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Việt H2; sửa
bản án dân sự sơ thẩm 08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Hải Phòng theo hướng giao phần di sản thừa kế bằng hiện vật là nhà
đất cho nguyên đơn ông Cao Việt H quản lý, sử dụng; ông H trách nhiệm thanh
toán giá trị bằng tiền phần di sản thừa kế H1 được hưởng theo kết quả định giá
cho bị đơn bà Cao Th Thanh H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 308, Điều 309 ca
Bộ luật Tố tụng dân sự cụ thể như sau:
Theo kết luận định giá tổng giá trị tài sản trên đất và diện tích 118m
2
đất thuộc
thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 địa chỉ tại thôn T, Đ, huyện T (nay Q),
thành phố Hải Phòng là:
Vật kiến trúc 143.714.793đ + 118m
2
x 20.000.000đ/m2 = 2.503.715.000 đồng
(đã làm tròn).
Ông H trách nhiệm thanh toán cho Cao Thị Thanh H1 giá trị: ¾ x
2.503.715.000 đồng = 1.877.786.250 đồng.
[11] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự; căn cứ vào khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Cao Việt H phải chịu tiền án phí dân sự thẩm số tiền là:
20.000.000 đồng + 4% × (625.928.750 đồng - 400.000.000 đồng) = 29.037.150
đồng. Đối trừ với số tiền 18.000.000 đồng tạm ứng án phí thẩm ông H đã nộp
theo Biên lai thu tiền số 0004941 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 5 - Hải Phòng. Ông H còn phải nộp tiền án phí dân sự thẩm s
21
tiền 11.037.150 (Mười một triệu không trăm ba mươi bẩy nghìn một trăm năm
mươi) đồng.
Bị đơn Cao Thị Thanh H1 phải chịu án phí dân sự thẩm số tiền là:
36.000.000 đồng + 3% × (1.877.786.250 đồng - 800.000.000 đồng) = 68.333.588
(Sáu mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn năm trăm tám mươi tám) đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo ca nguyên đơn ông Cao
Việt H và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Việt H2 được chấp
nhận nên ông H H2 không phải chịu án phí dân sphúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
Trả lại cho bà Cao Thị V tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000
đồng theo Biên lai thu tiền số 0004238 ngày 14 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng.
Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông H đã nộp là 300.000 đồng
theo Biên lai thu tiền số 0004240 ngày 14 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 5 - Hải Phòng. Ông H còn phải nộp tiền án phí n sự thẩm số
tiền là 10.737.150 (Mười triệu bẩy trăm ba ơi bảy nghìn mt trăm m mươi)
đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều
38, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 148, Điều 184, điểm
e khoản 1 Điều 217, Điều 228, Điều 273, khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 624, 625, 626, 627, 628, 630, 631, 632, 634, 649, 650,
651 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 26; khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Cao Việt H người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cao Thị Việt H2; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
08/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân n khu vực 5 - Hải
Phòng.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Việt H:
22
1.1. Xác định diện tích 118m
2
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 địa
chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải Phòng và tài sản gắn liền
với đất là di sản thừa kế của c Cao Xuân H3 để lại.
1.2. Công nhận Di chúc lập ngày 17/03/2022 của cụ Cao Xuân H3 tại Công
ty L3 hợp pháp một phần (hợp pháp đối với phần diện tích 118m
2
đất và tài sản trên
đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số 17 địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay
xã Q), thành phố Hải Phòng.
1.3. Chia thừa kế đối với di sản là diện tích 118m
2
đất thuộc thửa đất số 292,
tờ bản đ số 17 địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là xã Q), thành phố Hải Phòng
và tài sản trên đất theo nội dung di chúc và theo quy định pháp luật như sau:
Giao cho nguyên đơn ông Cao Việt H được quyền quản lý, sử dụng diện tích
118m
2
đất và được quyền sở hữu tài sản gắn liền với diện tích 118m
2
đất (bao gồm
nhà chính, gian thờ và nhà quán (kho) thuộc thửa đất số số 292, tờ bản đồ số 17 địa
chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện T (nay là Q), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số AO 812893, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền s
dụng đất H01475 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 28/9/2007 cho
ông Cao Xuân H3.
1.4. Ông Cao Việt H nghĩa vụ thanh toán cho bà Cao Thị Thanh H1 số tiền
1.877.786.250 (Một tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm tám mươi sáu nghìn
hai trăm năm mươi) đồng.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ
luật Dân sự.
1.5 Trường hợp ông Cao Việt H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền đầy đủ cho
Cao Thị Thanh H1, H1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản
là toàn bộ diện tích 118m
2
đất và tài sản trên đất thuộc thửa đất số 292, tờ bản đồ số
17 địa chtại thôn T, xã Đ, huyện T (nayQ), thành phố Hải Phòng. Bà Cao Thị
Thanh H1 sđược hưởng ¾ tổng giá trị tài sản phát mại; ông Cao Việt H sẽ được
hưởng ¼ tổng giá trị tài sản phát mại.
Khi bản án hiệu lực pháp luật, đương sự được quyền đến quan Nhà nước
thẩm quyền để làm thủ tục sang tên chủ sử dụng trên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
23
Nguyên đơn ông Cao Việt H phải chịu tiền án phí dân sự thẩm số tiền
29.037.150 đồng. Đối trừ với số tiền 18.000.000 đồng tạm ứng án phí thẩm ông
H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004941 ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hải Phòng. Ông H còn phải nộp tiền án phí dân sự
thẩm số tiền 11.037.150 (Mười một triệu không trăm ba mươi bẩy nghìn một
trăm năm mươi) đồng.
Bị đơn Cao Thị Thanh H1 phải chịu án phí dân sự thẩm stiền là
68.333.588 (Sáu mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn năm trăm m mươi tám)
đồng.
- Về án pdân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Cao Việt H và người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Việt H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trả lại cho bà Cao Th V Hà tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng
theo Biên lai thu tiền s0004238 ngày 14 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 5 - Hải Phòng.
Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông H đã nộp là 300.000 đồng
theo Biên lai thu tiền số 0004240 ngày 14 tháng 04 năm 2026 tại Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 5 - Hải Phòng. Ông H còn phải nộp tiền án phí dân sự thẩm số
tiền là 10.737.150 (Mười triệu bẩy trăm ba ơi bảy nghìn mt trăm m mươi)
đồng.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 208/2026/DS-PT Bản án số 208/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất