Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST ngày 13/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 200/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST ngày 13/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Số hiệu: 200/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Ngày 13 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh
Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:
226/2026/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2026, về việc “Ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm
2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 151/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm
2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Phi P – sinh năm 1976;
Trú tại: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D - sinh năm: 1986;
Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 05 tháng 01 năm 2026, Bản tự
khai, Biên bản lấy lời khai ngày 16/3/2026, nguyên đơn ông Trần Phi P trình bày:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – KHÁNH HOÀ
Bản án số: 200/2026/HNGĐ-ST
Ngày 13 tháng 8 năm 2026
V/v: Ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do -Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân:
. Ông Phạm Tám
. Ông Đỗ Ngọc Quý
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuân Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 -
Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.
2
- Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà Nguyễn Thị D tự nguyện kết hôn và
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Khánh
Hòa. Giấy chứng nhận kết hôn số 46 cấp ngày 30/7/2008.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, không
tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau nên giữa vợ chồng thường xảy ra xích mích, cải vã.
Vợ chồng không còn tin tưởng, thương yêu, quý trọng nhau. Từ năm 2018 vợ
chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc ai. Ông P xác định tình
cảm vợ chồng không còn và yêu cầu xin được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là:
Trần Hữu P1 - sinh ngày 03/11/2008
Trần Thị Ngọc P2 – sinh ngày 26/6/2013
Khi vợ chồng ly hôn ông P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02
(hai) con chung cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu cầu
bà D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ chung đối với ai và cũng không ai nợ vợ
chồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối
với bị đơn là bà Nguyễn Thị D đến Tòa để trình bày ý kiến về việc ông P khởi
kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà D đều không có mặt nên Toà án không lấy
được lời khai của bà D, không tiến hành hòa giải được vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Khánh Hoà phát
biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến
nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về
phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và
Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của
nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng; Ông P yêu cầu ly hôn với bà D - hộ khẩu thường trú:
Thôn T, xã T, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, tỉnh Khánh Hòa
nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về
ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa.
Bị đơn bà D đã được Tòa án nhân dân khu vực 4 – Khánh Hoà triệu tập hợp lệ
đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b
3
khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
bà D.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Mặc dù bị đơn bà D vắng mặt tại phiên tòa, nhưng
căn cứ vào lời khai của ông P và các chứng cứ đã thu thập được thì việc kết hôn
giữa ông Trần Phi P và bà Nguyễn Thị D là tự nguyện, Giấy chứng nhận kết hôn
số 46 ngày 30 tháng 7 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã
T), tỉnh Khánh Hòa, nên quan hệ hôn nhân giữa ông P và bà D là hợp pháp.
Căn cứ lời khai của ông P, biên bản xác minh thì vợ chồng ông P, bà D hiện
nay không còn sống chung với nhau nữa, vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc
cho ai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà D đến Tòa để
giải quyết ly hôn giữa hai người nhưng bà D đều không có mặt, chứng tỏ bà D
không còn quan tâm gì về quan hệ hôn nhân này nữa. Về nguyên nhân dẫn đến
mâu thuẫn giữa ông P và bà D theo ông P trình bày là do tính tình vợ chồng không
hợp, không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau nên vợ chồng thường xảy ra xích mích,
cải vã. Vợ chồng đã mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm gì đến ai. Nên có cơ sở
để xác định tình trạng hôn nhân giữa ông P và bà D đã trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc ông P yêu
cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D là có căn cứ, phù hợp với quy
định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu
này của ông P.
[3] Về con chung: Ông P, bà D có 02 (hai) con chung là Trần Hữu P1 – sinh
ngày 03/11/2008 và Trần Thị Ngọc P2 – sinh ngày 26/6/2013.
Ông P yêu cầu khi vợ chồng ly hôn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02
(hai ) con chung là Trần Hữu P1 – sinh ngày 03/11/2008 và Trần Thị Ngọc P2 –
sinh ngày 26/6/2013 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi và không yêu
cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Con chung hiện đang do ông P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Cháu P1 và cháu P2 đều yêu cầu được sống chung với cha, vì vậy việc giao cho
ông P được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là
phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên
chấp nhận yêu cầu này của ông P. Ông P không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con
chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng
xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Ông P xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không
ai nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Bị đơn bà D mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng đều không đến Tòa án để trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên
đơn và cũng không hòa giải được vụ án. Vì vậy, không có cơ sở để giải quyết yêu
cầu của bà D.
4
[7] Về án phí: Ông P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy
định của pháp luật với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông Trần Phi
P được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
2. Về con chung: Giao cho ông P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục 02 (hai) con chung là Trần Hữu P1 – sinh ngày 03/11/2008 và
Trần Thị Ngọc P2 – sinh ngày 26/6/2013 cho đến khi các con chung lần lượt đủ
18 tuổi và ông P không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.
Bà D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết ông P, bà D có
quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con
chung.
3. Về tài sản chung: Ông Trần Phi P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Ông Trần Phi P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm
là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn
nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001408 ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh K; ông P đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là 15 ngày kể từ ngày bản án
được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét
xử phúc thẩm.
* Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Khánh Hòa;
- VKSND khu vực 4 - Khánh Hòa ;
- THADS tỉnh Khánh Hòa;
(Sau khi án có hiệu lực pháp luật)
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
5
- Ủy ban nhân dân xã Tu Bông (Giấy chứng
nhận kết hôn số 46, quyển số 01/08, cấp
ngày 30/7/2008);
- Các đương sự;
- Lưu vụ án;
- Lưu hồ sơ; AV.
Võ Thị Hòa Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST Bản án số 200/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất