Bản án số 20/2021/DS-ST ngày 28/12/2021 của TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2021/DS-ST ngày 28/12/2021 của TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Lục Yên (TAND tỉnh Yên Bái) |
| Số hiệu: | 20/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN L Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH Y ____________________
________________
Bản án số:20/2021/DS-ST
Ngày 28-12-2021
V/v tranh chấp
hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trương Xuân Vũ;
2- Ông Hoàng Văn Khiếu.
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-
tỉnh Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Hà
Thị Thu Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2021/DS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2021
về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
22/2021/QĐXX-ST ngày 19 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kh 39 tuổi
Địa chỉ: Tổ 10 thị trấn Y Th- huyện L- tỉnh Y, có mặt.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị T 51 tuổi
Địa chỉ: Thôn Kh- xã M T- huyện L- tỉnh Y, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 30-6-2021 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là
chị Hoàng Thị Kh trình bày: Ngày 07-7-2020 chị có cho chị Hoàng Thị T vay số
tiền là 100.000.000 đồng, thời hạn trả là hết năm 2020 dương lịch, lãi suất thoả
thuận là 1%/tháng. Quá thời hạn trên, mặc dù đã đòi nhiều lần nhưng chị T không
trả như đã thoả thuận, nay chị khởi kiện yêu cầu chị T phải trả số tiền gốc là
100.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Trong biên bản lấy lời khai và tại phiên hòa giải bị đơn là chị Hoàng Thị T
xác nhận có ký vào giấy vay tiền ngày 07-7-2020 do nguyên đơn cung cấp, tuy
2
nhiên chị khẳng định số tiền này chị không được vay mà do vợ chồng con trai là
Triệu Văn Th, Long Thị T vay lúc đầu là 36.000.000 đồng. Do không trả được
đúng hạn nên chị Kh đã tính lãi lên đến 100.000.000 đồng sau đó chị Kh đã đưa
người đến bắt chị phải viết giấy vay tiền. Khoản tiền này các con chị vay từ khi
nào, vay về làm gì chị không biết, hiện tại các cháu đang đi làm trong miền Nam.
Nay chị Kh yêu cầu phải trả số tiền trên chị không đồng ý.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý
kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự
được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các
điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, buộc chị Hoàng Thị T phải trả cho chị Hoàng Thị Kh số tiền đã vay và tiền lãi
theo quy định của pháp luật...
NHN ĐNH CỦA TA N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] V thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh hợp đồng hợp đồng vay tài sản giữa các cá nhân; bị đơn
có địa chỉ thường trú tại xã M T- huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L
thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26;
điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] V yêu cầu khởi kiện:
Ngày 07-7-2020 giữa chị Hoàng Thị Kh và chị Hoàng Thị T đã xác lập hợp
đồng vay tài sản, theo đó chị T vay của chị Kh số tiền là 100.000.000 đồng, thời
hạn vay đến hết năm 2020 dương lịch. Quá hạn chị T không trả tiền theo thoả
thuận nên chị Kh làm đơn khởi kiện. Qúa trình giải quyết vụ án các đương sự
không thỏa thuận được. Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị T phải trả số tiền gốc đã vay là 100.000.000
đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Bị đơn cho rằng đây là số tiền vợ
chồng con trai vay, do không trả được đúng hạn nên chị Kh đã tính lãi lên đến
100.000.000 đồng sau đó đưa người “Xã hội đen” đến bắt chị phải ký giấy vay
tiền; chị khẳng định không được vay tiền nên không nhất trí trả.
Xét sự phản đối của bị đơn:
Thứ nhất: Tại giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp được bị đơn xác nhận
chữ ký thể hiện đầy đủ nội dung chị T vay của chị Kh số tiền 100.000.000 đồng
vào ngày 07-7-2020 dương lịch mà không có một thông tin nào thể hiện đây là số
tiền các con của chị Hoàng Thị T đã vay.
Thứ hai: Nhà chị T ở gần trụ sở UBND xã M T là khu trung tâm đông dân
cư, nếu xảy ra việc nguyên đơn đưa người “Xã hội đen” đến ép phải ký giấy mặc
dù không được vay tiền, chị T hoàn toàn có đủ khả năng để gọi mọi người xung
3
quanh hoặc lập tức báo chính quyền địa phương đến giải quyết. Tuy nhiên qua xác
minh, địa phương khẳng định trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7 cho đến cuối
năm 2020 không có đơn thư cũng như bất cứ thông tin nào phản ánh việc có người
“Xã hội đen” đến ép công dân trên địa bàn xã ký giấy vay tiền.
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự về
nghĩa vụ chứng minh thì: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với
mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”; nếu “Đương sự có nghĩa vụ
đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa
ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu
thập được có trong hồ sơ vụ việc ”.
Quá trình giải quyết vụ án, chị T không xuất trình được một chứng cứ nào để
chứng minh. Đối chiếu quy định đã viện dẫn thì sự phản đối của bị đơn nêu trên
không có căn cứ chấp nhận.
Tại khoản 1 điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì
phải trả đủ tiền khi đến hạn…”. Trong vụ án này mặc dù chị Kh đã nhiều lần yêu
cầu nhưng chị T vẫn không thanh toán đầy đủ số tiền trên là vi phạm nghĩa vụ trả
nợ của bên vay, do đó yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Kh có căn cứ chấp
nhận.
Yêu cầu về lãi suất: Theo chị Kh trình bày thì khi vay tiền lãi suất hai bên
thỏa thuận là 1%/tháng, tuy nhiên tại giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp không
có nội dung thỏa thuận về lãi suất nên trong trường hợp này được coi là hợp đồng
vay có kỳ hạn và không có lãi.
Tại khoản 4 điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp vay không có
lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có
quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 của
Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp
có thoả thuận khác hoặc có quy định khác”.
Theo giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp thì thời hạn vay đến hết năm
2020 dương lịch. Như vậy thời gian chậm trả sẽ tính từ ngày 01-01-2021 đến ngày
xét xử sơ thẩm 28-12-2021. Lãi suất theo khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự là
10%/năm. Cụ thể tiền lãi được tính như sau:
100.000.000 đồng x 0,833% x 11 tháng 28 ngày = 9.940.000 đồng.
Như vậy cần buộc chị Hoàng Thị T phải có nghĩa vụ trả cho chị Hoàng Thị
Kh tổng số tiền gồm: 100.000.000 đồng (Tiền gốc) + 9.940.000 đồng (Tiền lãi) =
109.940.000 đồng.
[3] V án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên chị Hoàng Thị Kh
được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐNH

4
1/ Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Hoàng
Thị T có nghĩa vụ phải trả cho chị Hoàng Thị Kh số tiền là 109.940.000đ (Một
trăm linh chín triệu chín trăm bốn mươi ngìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2/Về án phí: Căn cứ khoản 1 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 điều
26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, min, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án;
- Chị Hoàng Thị T phải chịu 5.497.000đ (Năm triệu bốn trăm chín mươi bẩy
ngìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Hoàng Thị Kh được hoàn lại 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã
nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số
AA/2021/0002027 ngày 08-10-2021.
3/Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND tỉnh;
- VKSND huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Các đương sự;
- Lưu HS-TA-THS.
Phan Duy Đô
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Bản án số 367/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm