Bản án số 196/2026/HS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 196/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 196/2026/HS-PT ngày 10/09/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 196/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Trần Thu Th
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 196/2026/HS-PT Bản án số 196/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 196/2026/HS-PT Bản án số 196/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 196/2026/HS-PT
Ngày: 10-9-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Thanh
Bà Hoàng Thị Thuý Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Hồng Vi – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2026/TLPT-HS ngày 25 tháng
6 năm 2026. Do có kháng cáo của các bị cáo Trần Thu T, Lê Minh H và Nguyễn
Văn T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Thu T, sinh ngày 01/01/1977, tại tỉnh Tây Ninh. Căn cước công
dân số: ************. Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; nghề
nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (chết) và bà Trần Thị Đ, sinh
năm 1936; chồng Lê Trọng M, sinh năm 1969 (đã ly hôn), đang chung sống như
vợ chồng với Lê Quốc T2; con 02 người, sinh năm 2000 và sinh năm 2019; tiền
án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 17/10/2025
đến ngày 10/4/2026, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thu T: Luật sư Phạm Đình B – Thành
viên Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
2. Lê Văn H1, sinh ngày 24/6/1974, tại tỉnh Tây Ninh. Căn cước công dân
số: ************. Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp:
Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D (chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh
2
năm 1942; vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; con 02 người, sinh năm 1996 và
sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 29/4/2008 của UBND
huyện C, tỉnh Tây Ninh, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng
sản số tiền 15.000.000 đồng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 17/10/2025
đến 10/4/2026, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Minh T3, sinh ngày 25/6/1976, tại tỉnh Tây Ninh. Căn cước
công công dân số: 072076003969. Nơi cư trú: Khu phố T, phường T, tỉnh Tây
Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (chết) và bà
Trương Thị S1, sinh năm 1950; vợ Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1977; con 03
người, người con lớn nhất sinh năm 2006 và người con nhỏ nhất sinh năm 2012;
tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 101/2012/HSST ngày 27/9/2012, bị Tòa án nhân
dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, xử phạt 15.000.000 đồng về tội “Đánh
bạc”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 17/10/2025
đến 10/4/2026, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm,
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 4/2025, bị cáo Trần Thu T thỏa thuận, thống nhất với
bị cáo Lê Văn H1 về việc: Bị cáo H1 sẽ tìm kiếm những người tham gia đánh bạc
bằng hình thức cá độ bóng đá, tập hợp phơi cá độ bóng đá và chuyển phơi cá độ
cho bị cáo T, bị cáo H1 được hưởng tiền hoa hồng là 1,5% trên tổng số tiền cá độ.
Từ ngày 01/06/2025 đến ngày 05/06/2025, bị cáo H1 sử dụng điện thoại di
động nhãn hiệu Oppo, loại A57, màu đen có gắn sim số thuê bao 0971.591.452
nhận phơi cá độ bóng đá cho bị cáo Nguyễn Minh T3 như sau:
- Trận 1: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 19 giờ 00 phút ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ H2 và câu lạc bộ D3 (tỉ số cả trận H2 thắng 1 – 0). Tham gia đặt
cược bắt tài cả trận với số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 450.000 đồng; hiệp
2 bắt D1 với số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 900.000 đồng. Tổng số tiền
tham gia đánh bạc 2.000.000 đồng.
- Trận 2: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 21 giờ 30 phút ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ M1 và câu lạc bộ V1 (tỉ số cả trận H2 thắng 2 – 0). Tham gia đặt
cược bắt câu lạc bộ M1 thắng cả trận số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thắng
900.000 đồng; bắt tài cả trận số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng.
Hiệp 2 bắt câu lạc bộ M1 số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thắng số tiền 900.000
đồng; bắt xỉu số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thua 2.000.000 đồng. Tổng số tiền
tham gia đánh bạc là 6.800.000 đồng.
3
- Trận 3: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 22 giờ 00 phút ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ B3 và câu lạc bộ H3 (tỉ số cả trận B3 thắng 4-0). Hiệp 2, tham gia
đặt cược bắt xỉu câu lạc bộ Bodo với số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua
1.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 1.000.000 đồng.
- Trận 4: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 00 giờ 15 phút ngày 02/06/2025,
giữa câu lạc bộ Molde và câu lạc bộ V2 (tỉ số cả trận Molde thua 0 - 1). Tham gia
bắt tài cả trận số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thua 2.000.000 đồng; bắt tài hiệp 1
số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh
bạc là 4.000.000 đồng.
- Trận 5: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 20 giờ 45 phút, ngày 05/06/2025, tại
vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới khu vực C giữa nước Indonesia và Trung
Quốc (tỉ số cả trận Indonesia thắng 1 – 0). Bắt đội I thắng cả trận số tiền 1.000.000
đồng, kết quả thắng số tiền 450.000 đồng; bắt xỉu cả trận số tiền 1.000.000 đồng,
kết quả thắng 900.000 đồng. Hiệp 2, bắt I thắng số tiền 1.000.000 đồng, kết quả
thua 450.000 đồng; bắt xỉu số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thắng số tiền 900.000
đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc 6.250.000 đồng.
Tổng số trận đấu bị cáo T3 phải chịu trách nhiệm hình sự, tham gia đặt cược
thông qua bị cáo H1 nhận phơi là 02 trận (trận 2, trận 5), 08 lượt cá độ khác nhau
với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 13.050.000 đồng. Trong đó, số tiền thua
cược là 3.000.000 đồng, số tiền thắng cược là 1.800.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo H1 trực tiếp tham gia cá độ bóng đá với bị cáo T, cụ thể:
- Trận 1: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 19 giờ 00 phút, ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ B1 và câu lạc bộ G tại giải bóng đá Quốc gia T7 (tỉ số cả trận
Goteborg thắng 3 – 1). Tham gia bắt xỉu cả trận số tiền 1.000.000 đồng, kết quả
thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 1.000.000 đồng.
- Trận 2: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 19 giờ 00 phút ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ H2 và câu lạc bộ D2 tại giải bóng đá Quốc gia N (tỉ số cả trận
Halmstad thắng 1 – 0). Tham gia cả trận bắt D2 chấp nửa trái ăn lựa với số tiền
1.000.000 đồng, nếu thua thì thua 1.000.000 đồng, nếu thắng thì thắng 900.000
đồng. Kết quả thắng 900.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 1.900.000
đồng.
- Trận 3: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 21 giờ 30 phút ngày 01/06/2025,
giữa câu lạc bộ M1 và câu lạc bộ V1 tại giải bóng đá Quốc gia N (tỉ số cả trận
Mjalby thắng 2 – 0). Tham gia bắt cả trận M1 với số tiền 1.000.000 đồng, kết quả
thắng 900.000 đồng; bắt tài cả trận 1.000.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng.
Hiệp 2, bắt M1 thắng cả trận số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thắng 1.800.000
đồng; bắt xỉu số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền
tham gia đánh bạc là 7.700.000 đồng.
- Trận 4: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 22 giờ, ngày 01/06/2025, tại giải
bóng đá Quốc gia N giữa câu lạc bộ Bryne và câu lạc bộ S3 (tỉ số cả trận Bryne
thắng 3 – 2). Tham gia bắt Bryne cả trận với số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thắng
số tiền 900.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 1.900.000 đồng.
4
- Trận 5: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 22 giờ 00 phút ngày 01/06/2025, tại
giải bóng đá Quốc gia N giữa câu lạc bộ B4 và câu lạc bộ K2 (tỉ số cả trận B4
thắng 4 – 2). Tham gia bắt câu lạc bộ B2 cả trận với số tiền 1.000.000 đồng, kết
quả thắng 900.000 đồng; bắt xỉu cả trận số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua
1.000.000 đồng. Hiệp 2, bắt Krítiansund BK số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thắng
900.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 4.800.000 đồng.
- Trận 6: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 22 giờ 00 phút, ngày 01/06/2025, tại
giải bóng đá Quốc gia N, tại hiệp 2 giữa câu lạc bộ B3 và câu lạc bộ H3 (tỉ số cả
trận B3 thắng 4 – 0). Hiệp 2 tham gia bắt xỉu số tiền 2.000.000 đồng, kết quả thua
2.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 2.000.000 đồng.
- Trận 7: Trận đấu bóng đá diễn ra lúc 00 giờ 15 phút ngày 02/06/2025,
giữa câu lạc bộ V2 và câu lạc bộ V2 tại giải bóng đá Quốc gia N (tỉ số cả trận
Viking thắng 1 – 0). Tham gia bắt tài cả trận số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua
1.000.000 đồng; bắt tài hiệp 1 số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 500.000 đồng;
hiệp 1 bắt M2 số tiền 1.000.000 đồng, kết quả thua 1.000.000 đồng. Tổng số tiền
tham gia đánh bạc là 3.000.000 đồng.
Tổng số trận đấu bóng đá bị cáo H1 trực tiếp tham gia cá cược với bị cáo T
là 07 trận đấu, 14 lượt cá độ tổng số tiền là 22.300.000 đồng, trong đó có 01 trận
đấu số tiền tham gia đánh bạc là 7.700.000 đồng. Số tiền thắng cược là 2.700.000
đồng, số tiền thua cược là 2.000.000 đồng, thu lợi bất chính 700.000 đồng.
Tổng số trận đấu bóng đá bị cáo H1 giúp sức cho bị cáo T trong việc nhận
phơi của bị cáo T3 là 05 trận, 13 lượt cá độ với tổng số tiền tham gia đánh bạc là
28.850.000 đồng, trong đó có 02 trận đấu với số tiền tham gia đánh bạc là
6.800.000 đồng và 6.250.000 đồng. Tổng số tiền 1,5% hoa hồng nhận từ bị cáo T
là 210.000 đồng.
Tổng số trận đấu bóng đá bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự, làm chủ
cá cược nhận phơi cá độ bóng đá của các bị cáo H1 và T3 là 02 trận, 08 lượt cá
độ với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 19.450.000 đồng. Trong đó, số tiền thắng
cược là 5.450.000 đồng, số tiền thua cược là 6.750.000 đồng, chi trả tiền 1,5%
hoa hồng cho bị cáo H1 số tiền 210.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo H1 còn thỏa thuận với Võ Minh T5, sinh năm 1972, trú tại
khu phố T, phường T, tỉnh Tây Ninh về việc H1 sẽ tìm những người có nhu cầu
tham gia đánh bạc bằng hình thức mua số đề thì ghi lại và tập hợp phơi đề gửi cho
T5, nhận hoa hồng 10% trên tổng số tiền đã nhận được. Bị cáo H1 đã nhận phơi
đề của những người cụ thể như sau:
- Hoa Trường C, sinh năm 1980, trú tại khu phố T, phường T, tỉnh Tây
Ninh:
+ Ngày 01/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền B số
tiền 270.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 270.000 đồng.
+ Ngày 03/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N số
tiền 540.000 đồng, kết quả thắng đề 700.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là
5
1.240.000 đồng; Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền T số tiền 536.000
đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 536.000 đồng.
+ Ngày 04/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N số
tiền 540.000 đồng, kết quả thắng đề 700.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là
1.240.000 đồng; Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền T số tiền 896.000
đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 896.000 đồng; Mua số đề theo
kết quả xổ số kiến thiết đài miền B số tiền 270.000 đồng, kết quả không trúng,
tổng số tiền đánh bạc là 270.000 đồng.
+ Ngày 05/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N số
tiền 540.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 540.000 đồng.
- Người tên T6 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể):
+ Ngày 04/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền B số
tiền 1.350.000 đồng, kết quả trúng đề 3.500.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là
4.850.000 đồng.
+ Ngày 05/6/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N số
tiền 3.264.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 3.264.000 đồng;
Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền T số tiền 2.700.000 đồng, kết
quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc là 2.700.000 đồng.
- Bị cáo H1 trực tiếp mua số đề của Võ Minh T5: Mua số đề theo kết quả
xổ số kiến thiết đài Tây Ninh số tiền 266.000 đồng, kết quả trúng đề 350.000
đồng, tổng số tiền đánh bạc là 616.000 đồng
- Ngoài nhận phơi từ bị cáo H1, Võ Minh T5 còn trực tiếp bán số đề cho
Nguyễn Lê Đăng K1, cụ thể các ngày K1 mua số đề như sau:
+ Ngày 13/5/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Bến Tre với
tổng số tiền 2.680.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc 2.680.000
đồng.
+ Ngày 14/5/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai
với tổng số tiền 4.020.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc
4.020.000 đồng.
+ Ngày 15/5/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh
với tổng số tiền 2.680.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc
2.680.000 đồng.
+ Ngày 16/5/2025: Mua số đề theo kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Vĩnh Long
với tổng số tiền 2.680.000 đồng, kết quả không trúng, tổng số tiền đánh bạc
2.680.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2026/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh, đã xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 phạm
tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
6
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thu T 09 (C1) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2.2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 09 (C1) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn
chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2.3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời
hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; về án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 13/4/2026, bị cáo Trần Thu T kháng cáo một phần của bản án sơ
thẩm với nội dung được hưởng án treo.
- Ngày 17/4/2026, các bị cáo Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 kháng cáo
một phần của bản án sơ thẩm với nội dung được hưởng án treo hoặc áp dụng hình
phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
bị cáo Trần Thu T bổ sung kháng cáo áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với
bị cáo và bị cáo tự nguyện nộp một Sổ tiết kiệm mở tại Ngân hàng N1 (A).
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục kháng cáo: Các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn Minh
T3 kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên
vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét
hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo
Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định
tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật. Mức hình
phạt và loại hình phạt đã tuyên đối với từng bị cáo là phù hợp. Đề nghị không
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thu T trình bày: Thống nhất về tội danh
và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như án sơ thẩm đã xét xử
đối với bị cáo, nhưng về hình phạt án sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là nghiêm.
7
Bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn có mẹ già và 02 người con còn nhỏ
tuổi, nên việc bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
sống của những người này, mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo
của bị cáo.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo trình bày mong Hội đồng xét xử xem xét chấp
nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trần Thu T,
Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 có Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo
thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc
thẩm theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng
hình sự.
[2] Về nội dung vụ việc:
[2.1] Qua các tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án và khai nhận của bị cáo
tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày
01/06/2025 đến ngày 05/06/2025, trên địa bàn phường T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo
Trần Thu T đứng ra tổ chức cá cược ăn thua bằng tiền nhiều trận bóng đá và thỏa
thuận cho bị cáo Lê Văn H1 được hưởng tiền hoa hồng 1,5% trên tổng số tiền cá
độ từ việc bị cáo H1 nhận của những người tham gia đánh bạc bằng hình thức cá
độ bóng đá và tập hợp phơi cá độ bóng đá chuyển giao lại cho bị cáo T. Trong đó,
có 02 trận đấu, 08 lượt cá độ trực tiếp thắng thua với các bị cáo Lê Văn H1 và
Nguyễn Minh T3, số tiền tham gia đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, với tổng
số tiền tham gia đánh bạc là 19.450.000 đồng. Cụ thể: Bị cáo H1 nhận phơi cá độ
bóng đá của bị cáo Nguyễn Minh T3 trận đấu giữa câu lạc bộ M3 và câu lạc bộ
V1 với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.800.000 đồng; trận đấu giữa I1 và
Trung Quốc với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 6.250.000 đồng; bị cáo H1 trực
tiếp tham gia cá cược với bị cáo T trận đấu giữa câu lạc bộ M3 và câu lạc bộ V1
với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 7.700.000 đồng.
Do đó, với hành vi như trên của các bị cáo T, H1 và T3 đã bị Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên bố phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật
Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.
[2.2] Án sơ thẩm đã xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm
tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, cùng
các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét
thấy tất cả các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 có cha là người có công với Cách mạng;
bị cáo T3 có bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ
được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ.
8
Căn cứ tính chất của vụ án, vai trò của từng bị cáo, nhân thân và các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cấp sơ thẩm đã xử phạt mỗi bị cáo
T và H1 09 tháng tù và bị cáo T3 06 tháng tù.
[2.3] Về kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
Căn cứ Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Toà
án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.
Xét thấy, các bị cáo không có đủ điều kiện để được hưởng án treo, nên không
chấp nhận kháng cáo của các bị cáo được hưởng án treo, như đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Đối với kháng cáo về áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị
cáo, thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc khoản 1 Điều 321 Bộ luật
Hình sự, là tội phạm ít nghiêm trọng và có quy định hình phạt chính là hình phạt
tiền. Trong vụ án này, số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội không lớn, nên
việc áp dụng loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù đối với các bị cáo cũng có đủ tác
dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, chấp nhận kháng
cáo của các bị cáo, theo hướng áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với
các bị cáo, như quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo T là có căn cứ để chấp
nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm, do kháng cáo được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn
Minh T3. Sửa một phần về hình phạt đối với các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1
và Nguyễn Minh T3 tại Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2026/HS-ST ngày 07 tháng
4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh.
2. Về tội danh:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 phạm
tội “Đánh bạc”.
3. Về hình phạt:
3.1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thu T 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
9
Tiếp tục tạm giữ 01 sổ tiết kiệm số AD 0030268183, kỳ hạn 01 tháng, số
tiền 90.000.000 đồng, mở tại Ngân hàng N1 (A) của bị cáo Trần Thu T, để bảo
đảm thi hành án.
3.2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
3.3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T3 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
4. Về án phí:
Căn cứ: Các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Trần Thu T, Lê Văn H1 và Nguyễn Minh T3 không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 10 (02);
- VKSND Khu vực 10 (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (02);
- Bị cáo; người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 196/2026/HS-PT Bản án số 196/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 196/2026/HS-PT Bản án số 196/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất