Bản án số 182/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 182/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 182/2026/HS-ST ngày 27/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng
Số hiệu: 182/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Sử dụng trái phép chất ma túy
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 182/2026/HS-ST Bản án số 182/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 182/2026/HS-ST Bản án số 182/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 182/2026/HS-ST
Ngày 27 tháng 8 năm 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Bá Bảo và ông Trương Công Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
2 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng
mở phiên tòa trực tuyến được kết nối giữa điểm cầu Trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án
nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng với điểm cầu thành phần đặt tại Phân trại tạm giam
Ngũ Hành S - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đ để xét xử công khai vụ án
hình sự thụ lý số: 185/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số: 1105/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2026, đối với:
Bị cáo: Đoàn Văn T - Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng;
CCCD số ************ do Bộ C cấp ngày 07.5.2026. Nơi cư trú: K P, tổ H, phường
S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 07/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn
Ngọc T1 (đã chết) và bà Lê Thị B (sinh năm 1972); gia đình có hai anh em, bị cáo là
con thứ nhất.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 28.4.2025 đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện
ma túy số 1 - Thành phố Đà Nẵng; hoàn thành cai nghiện ngày 28.4.2026. Ngày
28.4.2026, Ủy ban nhân dân phường S ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy
2
tại nơi cư trú trong thời hạn từ ngày 28.4.2026 đến ngày 28.4.2027 (Quyết định số:
993/QĐ-UBND).
Nhân thân:
- Ngày 13.8.2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng
(cũ) ra Quyết định đưa vào Trường G trong thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài
sản (Quyết định số: 1764/QĐ-UB);
- Ngày 28.7.2015, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (cũ)
ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
trong thời hạn 16 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số:
99/2015/QĐ-TA);
- Ngày 05.4.2017, bị Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng (cũ)
ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
trong thời hạn 20 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số:
37/2017/QĐ-TA);
- Ngày 21.5.2019, bị Công an quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ) ra Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền 2.500.000 đồng) về hành vi cố ý gây thương
tích (Quyết định số: 07/QĐ-XPVPHC).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Phân trại tạm giam N -
Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đ từ ngày 29.6.2026 đến nay, có mặt tại
phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên
tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú
theo Quyết định số: 993/QĐ-UBND ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Ủy ban nhân dân
phường S, thành phố Đà Nẵng trong thời hạn từ ngày 28.4.2026 đến ngày 28.4.2027.
Vào ngày 29.5.2026, Công an phường S, thành phố Đà Nẵng mời làm việc và tiến
hành thử test ma túy thì phát hiện Đoàn Văn T dương tính với chất ma túy loại
Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
3
- 01 chai nhựa trong suốt, được đậy nắp kín bên trong chứa mẫu nước tiểu thu
của Đoàn Văn T (được niêm phong ký hiệu T1);
- 01 que xét nghiệm nước tiểu loại Multi Drug Test P có kết quả xét nghiệm
mẫu nước tiểu của Đoàn Văn T với kết quả dương tính với nhóm ma túy
Methamphetamine được cho vào bì thư Công an phường S (được niêm phong ký hiệu
T2).
Tại Kết luận giám định số: 974/KL-KTHS ngày 03.6.2026 của Phòng K -
Công an thành phố Đ xác định: Mẫu nước tiểu của Đoàn Văn T gửi giám định kí hiệu
T1 tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Qua điều tra xác định được: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 21 giờ
ngày 24.5.2026, Đoàn Văn T đến khu vực bến cá T thuộc phường S, thành phố Đà
Nẵng tìm gặp đối tượng tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy đá để sử
dụng. Khi T đến nơi thì thấy H đang ngồi trên xe máy trước quán cafe trên đường B,
T hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý. T đưa tiền mặt cho H và H lấy ma
túy cất trong túi quần của mình đưa cho T đồng thời cho T một nỏ thủy tinh. Tiếp đó,
T đến một quán tạp hóa trên đường B, phường S, thành phố Đà Nẵng mua một chai
nước suối, một chiếc bật lửa và xin một ống nhựa làm dụng cụ sử dụng ma túy. Sau
đó, T đi đến khu đất trống gần đình làng N sử dụng một mình hết số ma túy đã mua
rồi vứt bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào bụi cỏ gần đó và đi về nhà. Đến ngày
29.5.2026, Công an phường S, thành phố Đà Nẵng triệu tập Đoàn Văn T đến trụ sở
làm việc tiến hành thử tets và có kết quả dương tính với chất ma túy như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số: 717/BKL-CSMT
ngày 29.7.2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đề nghị truy tố
Đoàn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a
Bộ luật Hình sự.
Tại Bản cáo trạng số: 136/CT-VKSDNG-KV ngày 07.8.2026 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng truy tố Đoàn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất
ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đoàn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy
tố.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng thực hành quyền công
tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đoàn Văn T như Cáo trạng số: 136/CT-
VKSDNG-KV ngày 07.8.2026 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ
luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy đối với que tets ma túy ngày 29.5.2026
của Đoàn Văn T có kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine được cho
vào bì thư niêm phong ký hiệu T2 và 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2
2464698 chứa mẫu hoàn trả sau giám định được niêm phong ký hiệu T1.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Đoàn Văn T nhận thấy hành vi của mình là vi phạm
pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,
truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng
của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ
án.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn T đã khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo Đoàn Văn T phù hợp với lời khai
của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với kết luận giám định cũng như các tài
liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác
định: Từ ngày 28.4.2025 đến ngày 28.4.2026, Đoàn Văn T thực hiện việc cai nghiện
ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 - Công an thành phố Đ và được xác nhận
hoàn thành việc cai nghiện theo Giấy xác nhận số: 222/GXN-CSCN01 ngày
28.4.2026. Theo Quyết định số: 993/QĐ-UBND ngày 28.4.2026 của Ủy ban nhân
dân phường S, thành phố Đà Nẵng thì Đoàn Văn T là người quản lý sau cai nghiện
tại nơi cư trú trong thời hạn từ ngày 28.4.2026 đến ngày 28.4.2027. Vào ngày
5
24.5.2026, trên địa bàn phường S, thành phố Đà Nẵng. Đoàn Văn T đã có hành vi sử
dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của Đoàn Văn T đã phạm
vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 136/CT-VKSDNG-KV
ngày 07.8.2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn
cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hậu quả của hành vi phạm tội: Bị cáo Đoàn Văn T nhận thức
rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành
vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Đoàn Văn T không những xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu
đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, cần thiết
phải xử phạt bị cáo Đoàn Văn T mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội
của bị cáo.
[4] Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Văn T có nhân thân xấu thể hiện ở việc đã bị
xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và cố ý gây
thương tích.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đoàn Văn T không có tình tiết tăng nặng theo
quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị
cáo Đoàn Văn T đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại
điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
[7] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đoàn
Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Đoàn Văn T hình phạt tù có
thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối
với bị cáo nói riêng đồng thời cũng để răn đe, phòng chống tội phạm nói chung.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với que tets ma túy ngày 29.5.2026 của Đoàn Văn
T có kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine được cho vào bì thư niêm
phong ký hiệu T2 và 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2 2464698 chứa mẫu
hoàn trả sau giám định được niêm phong ký hiệu T1. Đây là dụng cụ thử tets và túi
6
đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Đoàn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định.
[10] Đối với người tên H có hành vi bán ma túy cho Đoàn Văn T hiện chưa xác
định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp
tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội“Sử dụng trái phép chất
ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều
51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 02 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày bị tạm giam (ngày 29.6.2026).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy đối với que tets ma túy ngày 29.5.2026 của Đoàn
Văn T có kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine được cho vào bì thư
niêm phong ký hiệu T2 và 01 túi niêm phong bằng giấy có mã số PS2 2464698 chứa
mẫu hoàn trả sau giám định được niêm phong ký hiệu T1.
Các vật chứng này hiện nay đang được quản lý tại Kho vật chứng thuộc Phân
trại tạm giam Ngũ Hành S - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đ theo Biên bản
giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2026.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều
23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình
sự sơ thẩm.
7
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Đà Nẵng; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Công an TP. Đà Nẵng;
- Cơ quan THA Hình sự Công an TP. Đà Nẵng;
- VKSND khu vực 2 - Đà Nẵng;
- THADS thành phố Đà Nẵng;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phạm Văn Diện
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 182/2026/HS-ST Bản án số 182/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 182/2026/HS-ST Bản án số 182/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất