Bản án số 182/2018/HS-ST ngày 14/08/2018 của TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 182/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 182/2018/HS-ST ngày 14/08/2018 của TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Điện Biên Đông (TAND tỉnh Điện Biên)
Số hiệu: 182/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 182/2018/HS-ST
Ngày 14-8-2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣờng Văn Hịa ông Cà Văn Pánh
- Thư phiên toà: Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh
Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Lý, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 190/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm
2018 đối với bị cáo:
Lƣờng Ngọc V, sinh năm 1989 tại Điện Biên; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 15, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam
Con ông: ờng Văn H, đã chết; Con : Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bcáo không án tích, bị cáo đã bị UBND Quận B, thành phố
Nội áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy 24 tháng kể từ ngày 14/9/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/4/2018, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau: Khong 05 giờ ngày 23/4/2018, ờng Ngọc V đi bộ tn
y thy điện N, xã P, huyện Đ đến bản P, P, huyện Đ đmua ma túy sử dụng
cho bản thân. Khoảng 06 ging ngày, bị o đến khu vực bờ suối của bản P gặp
mua được 200.000 đồng Methamphetamine và 300.000 đồng Heroine của một
người đàn ông khoảng 30 tuổi b cáo không lai lịch. Mua đưc ma túy, bo cho
2
o i quần bên trái đang mặc đi v. Hồi 07 gi ngày 23/4/2018, khi b cáo đi
đến khu vực bản P1, P thì b tổ công tác Đồn Biên phòng P bắt qu tang thu gi
vật chứng Heroine và Methamphetamine trong i quần bên trái b cáo đang mặc.
Cáo trạng số 136/CT-VKSĐB ngày 19/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đ truy tố bị cáo Lường Ngọc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo
điểm i khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm
2015.
Tuyên phạt bị cáo Lường Ngọc V từ 04 năm 03 tháng đến 04 năm 06 tháng
về tội ng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2
Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về xử lý vật chứng.
Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí HSST cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồvụ án đã đƣợc
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
V hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều
tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t
đã thc hiện đúng về thẩm quyn, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình s.
Q trình điều tra tại phn tòa bịo không có ý kiến hoặc khiếu nại vềnh vi, quyết
định của Cơ quan tiến nh tố tụng, nời tiến nh tố tụng. Do đó, c nh vi, quyết
định ttng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
[2] Về chứng cứ phạm tội:
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 07 giờ 10 phút ngày 23/4/2018 bút
lục 01, 02, người bị bắt Lường Ngọc V công nhận đã bị Đồn Biên phòng P bắt quả
tang thu gitrong túi quần bên trái đang mặc của bị cáo 01 gói chứa các cục bột
màu trắng nghi Heroine một gói chứa 18 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng
hợp. Vật chứng bị thu giữ bị cáo Lường Ngọc V khai và thừa nhận là của bị cáo mua
bản P, xã P mc đích mang về nhà để sử dụng cho bản thân.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định niêm
phong vật chứng hồi 16 giờ 20 phút ngày 23/4/2018 của quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Đ bút lục số 04, 05 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị
cáo Lường Ngọc V 2,92 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,13 gam 1,63
gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định 0,1 gam.
3
Kết luận giám định số 434/GĐ-PC54 ngày 02/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 31 thì mẫu chất bột màu trắng đục gửi giám định
của Lường Ngọc V chất ma túy loại Heroine. Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định
của Lường Ngọc V Methamphetamine. Heroine nằm trong danh mục các chất ma
túy, STT: 20, danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ;
Methamphetamine nằm trong danh mc các chất ma túy, STT: 67, danh mc II. Không
hoàn lại đối tượng sau giám định.
Các biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can, bản tự khai của Lường Ngọc V từ bút
lục số 37 đến 59 chứng minh bị cáo Lường Ngọc V đã tàng trữ trái phép 2,92 gam
Heroine 1,63 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị
cáo thừa nhận đã mua số ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi b cáo không
biết lai lịch với giá 500.000 đồng để sử dụng.
Quyết định số: 2512/QĐ-UBND ngày 25/9/2013 của UBND Quận B, thành phố
Nội vviệc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy không nơi trú ổn
định vào Trung tâm GDLĐXH bút lục số 63a chứng minh Lường Ngọc V đã bị áp
dụng biện pháp cai nghiện 24 tháng kể từ ngày 14/9/2013. Quyết định này đã được xóa
tiền sự 01 năm sau khi bị cáo chấp hành xong Quyết định.
Giấy chứng nhận hộ cận nghèo số 186 tại bút lục số 64 chứng minh bị cáo
thành viên trong gia đình thuộc hộ cận nghèo của xã N năm 2018.
Bản Kết luận điều tra số 140/KLĐTVAHS ngày 11/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện Đ kết luận chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đ đưa bị can Lường Ngọc V ra truy tcông khai trước pháp luật về tội
Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Lường Ngọc V tội. Chứng cứ
xác định bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại
Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc
quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn
hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật. Lường Ngọc V đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình svhành vi của
mình.
[3] Về tính chất mức độ phạm tội: Khối lượng ma túy bị thu giữ của Lường Ngọc
V là 2,92 gam Heroine 1,63 gam Methamphetamine. Tổng khối lượng Heroine
Methamphetamine bcáo tàng trữ là 4,55 gam trong khoảng từ 0,1 gam đến
dưới 5 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i
khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự khung hình phạt từ 01 đến 05 năm.
[4] Về nhân thân các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo
sinh ra lớn lên N, huyện Đ. Tuổi đời bị o còn trẻ nhưng đã sớm nghiện ma
túy. Đây là nguyên nhân chính mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để phải nhận một
bản án không đáng trong đời. Bị cáo đã bị UBND Quận B, thành phố Nội áp
dụng biện pháp cai nghiện ma túy 24 tháng kể từ ngày 14/9/2013. Quyết định này đã
4
đương nhiên xóa tiền sự đối với bị cáo, tuy nhiên Hội đồng xét xử vẫn xem xét về
nhân thân xấu của bị cáo. Lường Ngọc V không tình tiết tăng nặng nào, q trình
điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của
mình.
Nhận định trên đây sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51
của Bluật nh sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết để giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống
hội một thời gian để bị cáo cố gắng cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo
còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn
xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo
không giữ chức vụ trong hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với Lường Ngọc V.
[6] Các vấn đề khác: Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của
một người đàn ông khoảng 30 tuổi, bị o kng biết lai lịch. Quá trình điều tra
không có cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án là 2,92 gam Heroine, trích mẫu
gửi giám định 0,13 gam 1,63 gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định 0,1
gam không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng này tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1
Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về án phí hình sự thẩm: Bcáo là thành viên trong gia đình thuộc hộ cận
nghèo theo quy định của Chính phủ đồng thời bị cáo đơn đề nghị miễn án phí
HSST. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định
tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của
UBTVQH khóa 14 vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ
phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình
sự năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Ngọc V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma
tuý".
- Xử phạt bị cáo Lƣờng Ngọc V 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn
tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm gi, ngày 23/4/2018.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều
106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 2,92 gam Heroine trích mẫu gửi
giám định 0,13 gam không hoàn lại mẫu vật 1,63 gam Methamphetamine trích mẫu
5
0,1 gam không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong
đặc điểm nbiên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút ngày 23/7/2018 giữa
Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí, lphí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị
cáo.
Án xcông khai thẩm mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/8/2018.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên;
- VKSND huyện Đ;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Đ;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ;
- Công an huyện Đ;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Bị cáo;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Mạnh Hun
Tải về
Bản án số 182/2018/HS-ST Bản án số 182/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất