Bản án số 18/2026/HS-ST ngày 05/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 18/2026/HS-ST ngày 05/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 18/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: HÙ SỬ S, sinh ngày 15/12/1971, tại xã Th, tỉnh Tuyên Quang. Căn cước công dân số 002071000690 do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an cấp ngày 18/4/2021. Nơi cư trú
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 18/2026/HS-ST Bản án số 18/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2026/HS-ST Bản án số 18/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
Bản án số: 18/2026/HS-ST
Ngày 05-8-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Khánh.
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Hợp, bà Hoàng Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lù Ngọc S - Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu
vực 6 - Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang tham gia
phiên tòa: Ông Vi Lương Quỳnh; ông Tằng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Tuyên
Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2026/TLST-
HS, ngày 29 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
18/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
HÙ SỬ S, sinh ngày 15/12/1971, tại xã Th, tỉnh Tuyên Quang. Căn cước
công dân số ************ do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã
hội Bộ Công an cấp ngày 18/4/2021. Nơi cư trú: Thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên
Quang (Nay là thôn C1, xã Th, tỉnh Tuyên Quang); nghề nghiệp: Lao động tự
do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Hù Dìn S (đã chết) và bà Lù Thị Ph (đã chết); Vợ:
Lù Thị C2, sinh năm 1971 và có một con nuôi sinh năm: 2007; tiền án, tiền sự:
Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/9/2025, hiện đang tạm giam tại
Trại tạm giam số 02 Công an tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H, Trợ giúp viên pháp lý
của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 01 tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
+ Bị hại: Bà Hoàng Thị S1, sinh năm 1941 (Đã chết). Người đại diện
hợp pháp của bị hại: Ông Hù Seo V, sinh năm 1964, địa chỉ thôn C, xã Th, tỉnh
Tuyên Quang (Nay là thôn C1, xã Th, tỉnh Tuyên Quang); có mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hù Seo V, sinh năm 1964,
địa chỉ thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên Quang (Nay là thôn C1, xã Th, tỉnh Tuyên
Quang); có mặt.
+ Người làm chứng: Ông Hù Sử Th, bà Sải Thị Nh; có mặt. Bà Hoàng Thị
Th1; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
2
+ Người phiên dịch: Ông Lù Xuân T, sinh năm 1958, địa chỉ thôn 3, xã H,
tỉnh Tuyên Quang (Nay là thôn V, xã H, tỉnh Tuyên Quang); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 06/9/2025, Hù Sử S, trú tại thôn C, xã Th,
tỉnh Tuyên Quang (bị bệnh động kinh có rối loạn tâm thần) đi bộ qua trước cổng
nhà bà Hoàng Thị S1, Sinh năm 1941, trú cùng thôn. S nhìn thấy bà S1 đang
đứng trong sân cạnh cổng, S hỏi bà S1 “đang làm gì đấy”, bà S1 không trả lời
nên S đi vào trong cổng đứng cách bà S1 0,55m, S dùng tay phải bóp vào vùng
cổ bà S1 và đẩy bà S1 ngã ngửa về sau nằm dưới nền đất, hai khuỷa tay bà S1
chống xuống đất, S đứng phía bên phải bà S1 và giơ chân trái đạp 02 phát liên
tiếp từ trên xuống dưới trúng vào vùng cổ bên phải bà S1 khiến bà S1 nằm ngửa
dưới nền đất, hai tay duỗi thẳng, S cúi người xuống dùng tay phải bóp cổ, tay
trái dơ lên cao đấm 02 phát liên tiếp từ trên xuống dưới trúng vào thái dương
phải và tai phải bà S1, thấy bà S1 nằm bất động, S dừng lại buông tay phải ở cổ
bà S1 ra và đứng dậy. Lúc này Hù Sử Th, Sinh năm 1977, trú cùng thôn điều
khiển xe mô tô đi qua cổng nhà bà S1 thấy bà S1 đang nằm ngửa dưới nền đất,
do sợ bị S đánh nên Th đã điều khiển xe bỏ chạy, khoảng 15 phút sau Th quay
lại và đã cùng mọi người đưa bà S1 đến Bệnh viện đa khoa H, tỉnh Tuyên Quang
cấp cứu, đến ngày 08/9/2025 bà S1 tử vong.
Sau khi đánh bà S1, S đi về nhà lấy 01 con dao quắm (tổng chiều dài
1,25m, chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi dao dài 0,31m, phần rộng nhất của lưỡi
dao là 5cm) dựng bên ngoài vách tường gian bếp. S cầm dao đi đến đường bê
tông liên thôn thì nhìn thấy ông Hù Seo V, Sinh năm 1964 và chị Hoàng Thị S1,
Sinh năm 1965 (trú cùng thôn với S), đang chăn trâu, S cầm dao đi đến vị trí chị
Th1 đứng, do lo sợ bị đánh nên chị Th1 nhảy sang phía ta luy dương để tránh, S
cầm dao đi đến vị trí ông V đang đứng và hỏi “đang làm gì đấy”, ông V không
trả lời nên S dùng hai tay cầm chuôi dao giơ lên cách mặt đất 1,35 mét và chém
về phía ông V, ông V giơ hai tay giữ vào hai tay cầm dao của S và hai bên giằng
co, đưa đẩy dao về phía nhau. S buông tay phải đang cầm dao và giơ lên cách
mắt V 40cm đấm 02 phát trúng mắt trái của ông V, sau đó S tiếp tục lấy hai tay
nắm vào dao và giằng co với ông V, quá trình giằng co làm ông V ngã ngửa về
sau và nằm ra đất, S ngồi quỳ đè lên người ông V, đầu gối phải S đè lên hông
trái ông V, khi ông V ngã con dao nhọn được để trong bao gỗ gài phía sau thắt
lưng của ông V bị tuột ra đất, lộ phần chuôi và một phần thân dao (tổng chiều
dài con dao dài 40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm, phần rộng nhất
của lưỡi dao là 3,7cm), quá trình giằng co phần gáy phía sau của ông V nằm đè
lên con dao nhọn, S buông tay phải đang cầm dao quắm rồi vòng tay phải ra sau
gáy bên phải của ông V cầm vào chuôi dao nhọn rút dao ra khỏi bao dao và nhấc
dao lên theo hướng chếch chéo từ phải sang trái làm lưỡi dao cứa trúng gáy ông
V gây thương tích. Sau khi rút được dao S giơ lên định chém ông V thì ông V
dùng tay trái nắm lấy cổ tay phải đang cầm dao nhọn của S giữ lại, sau đó được
3
mọi người đến can ngăn và đưa ông V đến Trạm y tế Pố Lồ, xã Th cấp cứu. Còn
S được đưa về Công an xã Th để làm việc.
- Tại Kết luận giám định tử thi số 1152/KLGĐTT-KTHS, ngày 13/9/2025
của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận:
+ Các kết quả chính: Kết quả nghiên cứu hồ sơ bệnh án thấy bệnh nhân bị
hôn mê sau bị đánh, vào viện được chuẩn đoán: Chấn thương sọ não; được hồi
sức tích cực không kết quả, gia đình xin về; Trên thân thể Hoàng Thị S1 vùng
chẩm và nửa đầu bên phải bầm tụ máu, sưng nề; vùng cằm, ngực phải, trái và
vùng bả vai phải bầm tụ máu; Tổ chức dưới da đầu vùng thái dương phải bầm tụ
máu; xương sọ không có tổn thương; ngoài màng cứng không có máu tụ; có
nhiều máu không đông chảy ra qua đường cưa; chảy máu màng mềm lan tỏa,
não phù căng, lấp đầy các rãnh cuốn não.
+ Kết luận: Nguyên nhân chết của Hoàng Thị S1: chấn thương sọ não, cấp
cứu không hồi phục. Cơ chế hình thành thương tích trên thân thể Hoàng Thị S1:
tổn thương trên thân thể Hoàng Thị S1 do vật tầy gây ra.
- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số:
85A/KLTTCT-TTGĐYK&PY, ngày 28/10/2025 của Trung tâm giám định y
khoa và pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận đối với thương tích của Hù Seo V:
+ Các kết quả chính: sẹo vùng chẩm như mô tả 02%
+ Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ
Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y
xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hù Seo V tại thời điểm giám
định là 02% (hai phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.
+ Cơ chế, vật gây thương tích: thương tích để lại sẹo vùng chẩm là do vật
sắc tác động trực tiếp gây nên.
- Tại Kết luận giám định ADN số: 649/25/KLGDADN-PYQG, ngày
24/11/2025 của Viện pháp y Quốc gia, kết luận:
+ ADN thu từ mẫu ký hiệu A1 (dấu vết màu nâu đỏ bám dính trong đám
đất thu giữ tại hiện trường) trùng khớp với ADN của Hoàng Thị S1 trên tất cả
các locus STR đã so sánh.
+ ADN thu từ các mẫu ký hiệu A2 (dấu vết màu nâu đỏ, nghi máu được
bám dính trong đám đất thu giữ ở hiện trường), A4 (phần lưỡi dao, tổng chiều
dài 40cm) trùng khớp với ADN của Hù Seo V trên tất cả các locus STR đã so
sánh.
+ ADN thu từ mẫu ký hiệu A3 (phần lưỡi dao, tổng chiều dài 1,25m) không
trùng khớp với ADN của Hoàng Thị S1 và Hù Seo V trên tất cả các locus STR
đã so sánh.
- Tại Kết luận giám định số: 1681/KL-KTHS, ngày 12/12/2025 của Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận:
+ Mẫu cần giám định ký hiệu A3 (con dao quắm tổng chiều dài 1,25m,
chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi dao dài 0,31m), A4 (con dao nhọn tổng chiều dài
4
40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là
3,7cm), thuộc phụ lục 5, danh mục dao có tính sát thương cao, ban hành kèm
theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công
an quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và
công cụ hỗ trợ.
- Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 124/KLGĐ, ngày
16/12/2025 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc, kết luận:
+ Hù Sử S, Sinh năm 1971, trú tại thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên Quang bị bệnh
động kinh không có rối loạn tâm thần.
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm ngày 06/9/2025, Hù Sử S bị
bệnh động kinh có rối loạn tâm thần, Hù Sử S hạn chế khả năng nhận thức và
hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
+ Hiện tại (tại thời điểm giám định) Hù Sử S bị bệnh động kinh không có
rối loạn tâm thần. Hù Sử S đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển
hành vi.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá
trình khám nghiệm hiện trường:
+ 01 con dao quắm tổng chiều dài 1,25m, chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi
dao dài 0,31m, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5cm.
+ 01 con dao nhọn tổng chiều dài 40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài
28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,7cm.
Với hành vi nêu trên, ngày 27/5/2026 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên
Quang ra bản Cáo trạng số 58/CT-VKSTQ-P2 truy tố bị cáo Hù Sử S về các tội
"Giết người" theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng trái phép vũ
khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Tuyên Quang
phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên
tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện kiểm sát nhân
dân Khu vực 6 - Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hù Sử S phạm các tội "Giết người" theo khoản 2
Điều 123 Bộ luật Hình sự và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng" theo khoản 1
Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Căn cứ khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 304, điểm b, s, q
khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 52, Điều 55
Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hù Sử S phạm tội "Giết người" và tội "Sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hù Sử S từ 07 (Bảy) năm tù đến 07 (Bảy)
năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”; từ 01 (Một) năm tù đến 01 (Một)
năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp
5
hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 (Tám) năm tù đến
09 (Chín) năm tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội
01 con dao quắm tổng chiều dài 1,25m, chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi dao dài
0,31m, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5cm; 01 con dao nhọn tổng chiều dài
40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là
3,7cm.
Về án phí: Bị cáo Hù Sử S được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo bà Nguyễn Thị H: Thống nhất
tội danh và hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, xét thấy tại
phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt; đã bồi thường tiền khắc phục hậu quả
cho gia đình bị hại. Bị cáo là người dân tộc thiểu số Sinh sống ở vùng điều
kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do
đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự cho bị cáo. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm tù về tội Giết
người, 01 (Một) năm tù về tội về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (Tám)
năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu tại
phiên toà do đó không đề nghị giải quyết. Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình
sự sơ thẩm cho bị cáo S.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp
pháp của bị hại ông Hù Seo V: Yêu cầu Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo theo
quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự do hai bên gia đình đã thoả thuận
xong nên không yêu cầu gì thêm.
Ý kiến tranh luận của bị cáo Hù Sử S: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng,
không có ý kiến gì đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Hù Sử S nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm
tội của mình và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 6 - Tuyên Quang. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều
tra Công an tỉnh Tuyên Quang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Tuyên Quang, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Tuyên Quang, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố
6
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội của bị
cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định cùng các vật
chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ
trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 06/9/2025, tại nhà bà Hoàng Thị
S1, Sinh năm 1949, ở thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên Quang, Hù Sử S, trú cùng
thôn (bị bệnh động kinh có rối loạn tâm thần, hạn chế khả năng nhận thức và
hạn chế khả năng điều khiển hành vi) do có mâu thuẫn với bà S1 nên S đã thực
hiện hành vi đẩy bà S1 ngã ngửa xuống đất sau đó dùng chân trái đạp 02 phát
vào cổ, ngực, dùng tay phải bóp cổ, tay trái đấm 02 phát vào vùng thái dương
phải của bà S1, hậu quả bà S1 tử vong. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành
tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Sau đó S cầm
dao quắm (tổng chiều dài 1,25m) định chém ông Hù Seo V nhưng không trúng,
quá trình giằng co nhau khiến ông V bị ngã ngửa xuống khiến con dao nhọn
đút trong bao gỗ buộc phía sau lưng ông V rơi ra khỏi bao dao nên tay phải S
đã vòng qua sau gáy ông V cầm vào chuôi dao nhọn (tổng chiều dài 40cm,
chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,7cm),
rút dao ra khỏi bao theo hướng chếch chéo từ dưới lên trên làm lưỡi dao nhọn
cứa trúng gáy ông V gây thương tích 02% (hai phần trăm). Công cụ mà bị cáo
dùng để chém ông V là dao sắc, nhọn được quy định tại Luật quản lý, sử dụng
vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15, ngày 29/6/2024 của
Quốc hội; trong Phụ lục 5, Danh mục dao có tính sát thương cao, ban hành
kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ
Công an. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng”, quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Cáo trạng
của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án thuộc
trường hợp rất nghiêm trọng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi giết người người khác và sử dụng dao tấn
công người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị
cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì đi qua nhà bà S1 hỏi chuyện nhưng bà S1
không trả lời mà bị cáo đã tấn công bà S1, tước đoạt trái phép tính mạng của
người khác được pháp luật bảo vệ; thể hiện tính xem thường pháp luật, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương; gây đau thương,
mất mát cho gia đình bị hại mà không gì có thể bù đắp được; gây đau đớn về thể
xác và tinh thần cho ông Hù Seo V bị tổn thương cơ thể 02%. Do đó, cần phải
xử lý nghiêm, xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hậu quả do hành vi
phạm tội bị cáo gây ra, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân
tốt, có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi
quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tình trạng bệnh lý của bị cáo khi
phạm tội là động kinh có rối loạn tâm thần, bị hạn chế khả năng nhận thức và
7
hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Thời điểm bị cáo Hù Sử S
phạm tội đối với bị hại bà Hoàng Thị S1 (Sinh ngày: 03/7/1941) khi đó bà S1 đã
trên 70 tuổi nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội
đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật
Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và
tại phiên tòa bị cáo Hù Sử S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi
thường thiệt hại, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư
trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình thuộc hộ
nghèo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, q
khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt: Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử cần áp
dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời
gian là cần thiết, xử phạt bị cáo một mức án nhất định để bị cáo có cơ hội cải tạo
tốt, sớm trở về với gia đình và thành người công dân có ích cho xã hội.
[7] Về đề nghị của Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của
Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi
phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 123 và khoản 5 Điều 304
Bộ luật hình sự bị cáo Hù Sử S còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, phạt quản chế hoặc cấm cư
trú. Qua lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bị cáo là lao động tự
do, không có thu nhập ổn định, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo trên địa
bàn thôn C, xã Th, tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hù Sử S.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Hù Sử S tác động
đến gia đình và chị Cọt (vợ S) đã bồi thường cho đại diện bị hại bà Hoàng Thị
S1 số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), còn bản thân ông Hù Seo
V bị thương tích 02% do bị cáo S gây ra không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại phiên toà, đại diện cho bị hại Hoàng Thị S1 đồng thời là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Hù Seo V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 (Một) con dao quắm tổng chiều dài 1,25m,
chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi dao dài 0,31m, phần rộng nhất của lưỡi dao là
5cm; 01 (Một) con dao nhọn tổng chiều dài 40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao
dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 3,7cm. Đây là vật chứng bị cáo sử
dụng vào việc phạm tội, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[11] Đối với hành vi của bị cáo Hù Sử S dùng dao nhọn cứa trúng gáy
khiến anh Hù Seo V bị thương tích 02%, đã phạm tội Cố ý gây thương tích theo
8
khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên anh V có đơn yêu cầu không khởi
tố vụ án, do đó Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự đối với Hù Sử S về
tội Cố ý gây thương tích và chuyển tài liệu đến Công an xã Th, tỉnh Tuyên
Quang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương
tích nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hù Sử S là phù
hợp với quy định của pháp luật.
[12] Về án phí: Bị cáo Hù Sử S là cá nhân thuộc hộ nghèo, đồng bào dân
tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn
xin miễn án phí do đó bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí theo điểm đ khoản 1
Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 304, điểm b, s, q khoản 1,
khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 và Điều 55
của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 260, Điều 331, Điều 333, Điều 336 và
Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hù Sử S phạm 02 (Hai) tội: Giết người và
tội: Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hù Sử S 07 (Bảy) năm 03 (Ba)
tháng tù về tội: Giết người và 01 (Một) năm tù về tội: Sử dụng trái phép vũ khí
quân dụng. Tổng hợp hình phạt chung của 02 (Hai) tội buộc bị cáo phải chấp
hành là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm
giữ, tạm giam (Ngày 09/9/2025).
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Hù Sử S.
4. Biện pháp tư pháp và về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một)
con dao quắm tổng chiều dài 1,25m, chuôi bằng gỗ dài 0,94m, lưỡi dao dài
0,31m, phần rộng nhất của lưỡi dao là 5cm; 01 (Một) con dao nhọn tổng chiều
dài 40cm, chuôi dao dài 12cm, lưỡi dao dài 28cm, phần rộng nhất của lưỡi dao
là 3,7cm.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày
28/5/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Phòng
Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Tuyên Quang).
5. Về án phí: Bị cáo Hù Sử S được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
9
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND Khu vực 6 - Tuyên Quang;
- PC11, PV06 Công an tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- UBND xã Th, tỉnh Tuyên Quang;
- Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 18/2026/HS-ST Bản án số 18/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2026/HS-ST Bản án số 18/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất