Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 18/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 15/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 18/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngày 02-6-2023, ông N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
Bản án số: 18/2025/DS-ST.
Ngày: 15-9-2025.
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Bà Lê Thị Thu Hà.
Ông Nguyễn Đình Liên và bà Võ Thị Thanh Huệ.
- Bà Hà Thị Thúy Nga, là Thư ký viên Tòa án nhân dân khu
vực 8 – Lâm Đồng.
- tham gia phiên tòa:
Ông Thái Lê Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2024/TLST-DS ngày 18 tháng
11 năm 2024 về việc: theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn
phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
: Công ty Cổ phần M.
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng N, Tòa nhà A, số V đường D, phường C, Thành phố
Hà Nội (Tầng N, Tòa nhà A, số V đường D, phường D, quận G, Thành phố Hà Nội cũ).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T – Giám đốc; CCCD số
04008600XXXX.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc T – Phó Giám đốc; CCCD số
03608600XXXX - Văn bản ủy quyền số 01/2024/UQ-MARS ngày 19-4-2024.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hữu M, CCCD số
03509100XXXX – Chuyên viên xử lý nợ - Văn bản ủy quyền số 27/2025/UQ-
MARS(VPB) ngày 07-01-2025 – Có mặt.
Địa chỉ: Công ty Cổ phần M – Chi nhánh TP.HCM, Tầng D, Tòa nhà C, đường
N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (đường N, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ
Chí Minh cũ).
: Ông Trần Văn N, sinh năm 1976, CMND số 24550XXXX do Công an
tỉnh Đắk Nông (cũ) cấp ngày 12-8-2020 – .
Địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Lâm Đồng (Thôn D, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ).
2
Ngân hàng TMCP T.
Địa chỉ: Tòa nhà V, số N đường H, phường Đ, Thành phố Hà Nội (số N đường
H, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội cũ).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, CCCD số 00106800XXXX –
Chủ tịch HĐQT.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Nhật B, CCCD số 05420300XXXX –
Chuyên viên xử lý nợ - Văn bản ủy quyền số 1544/2025/UQ-VPB ngày 30-7-2025 –
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Đường N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (đường N, Phường B,
Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cũ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ngƣời đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu M trình bày:
Ngày 03-6-2022, ông Trần Văn N ký Hợp đồng cho vay số LN2205205819531,
vay Ngân hàng TMCP T (Chi nhánh sau viết tắt là Tbank số tiền
3.000.000.000đ thời hạn 300 tháng, mục đích thanh toán tiền nhận
chuyển nhượng thửa đất số 401 + 385, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn S, xã P, huyện
B, tỉnh Bình Phước (cũ). Cùng ngày, ông N ký khế ước nhận nợ với Ngân hàng
Tbank, số tiền nhận nợ là 3.000.000.000đ tiền được chuyển khoản vào
tài khoản của bên thụ hưởng ngày 15-6-2022.
Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10.3%/năm, lãi cố định
trong hạn 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày
đầu quý tiếp theo, mức điều chỉnh được xác định bằng lãi suất cơ sở áp dụng đối với
khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng, được
bên Ngân hàng công bố www.Tbank.com.vn
).
Kỳ trả nợ gốc: Ông N được ân hạn trả nợ gốc trong 12 tháng đầu, sau đó trả
định kỳ 01/tháng/lần vào ngày 05, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05-7-2023, mỗi kỳ
trả 10.417.000 đồng, kỳ cuối trả dứt nợ vay. Kỳ trả nợ lãi: Định kỳ 01 tháng/lần, vào
ngày 05, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 05-7-2022.
Lãi suất nợ quá hạn theo điểm e khoản 7 Điều 1 của Hợp đồng cho vay là 150%
lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm
tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngoài ra còn thỏa thuận
phí và chi phí khác.
Đối với khoản vay này ông N chưa trả nợ gốc; lãi đã trả 172.886.415 đồng.
Ngày 11-7-2022, ông Trần Văn N ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay
không tài sản đảm bảo, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện
tử, vay Tbank số tiền 299.000.000đ , mục đích
mua đồ gia dụng, thời hạn vay 60 tháng, giải ngân tiền vào tài khoản số 261022017
3
mở tại Tbank, lãi suất 20%/năm, sau đó lãi được điều chỉnh 03 tháng/lần. Khoản vay
này ông N đã trả 20.285.829 đồng nợ gốc; 26.198.574 đồng tiền lãi.
Ngày 25-5-2022, ông Trần Văn N ký Giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo
kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ,
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài
khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử, vay Tbank số tiền 99.000.000 đồng,
mục đích phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất cố định 27%/năm, bắt đầu tính từ ngày
thứ 46 sau ngày 25-5-2022. Ông N đã thanh toán được 9.697.756 đồng nợ gốc.
Để đảm bảo khoản vay, ông Trần Văn N và Tbank ký kết Hợp đồng thế chấp ngày
28-6-2022, ông N là bên thế chấp, Tbank là bên nhận thế chấp; tài sản đảm bảo gồm
quyền sử dụng thửa đất số 385, tờ bản đồ số 5, diện tích 28576,3m
2
, đất trồng cây lâu
năm, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD số CM
1593XX ngày 03-8-2018, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-2022 và thửa đất số
401, tờ bản đồ số 5, diện tích 69275,4m
2
, đất trồng cây lâu năm, được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD số CM 1593XX ngày 04-9-2018, cập nhật
thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-2022 và các quyền, lợi ích phát sinh hoặc có liên quan
tới 02 tài sản này. Đất tọa lạc tại thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ). Hợp đồng
thế chấp được công chứng ngày 28-6-2022 tại Văn phòng công chứng Bình Phước, tỉnh
Bình Phước số 25895. Đăng ký thế chấp ngày 28-7-2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai Bù Đăng.
Ngày 06-02-2023, ông N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay đối
với Tbank.
Ngày 29-12-2023, Tbank bán nợ cho Công ty TNHH MTV M theo Hợp đồng
mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-
MARS, theo đó toàn bộ khoản nợ và quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng cho
vay, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp giữa ông Trần Văn N và Tbank được
chuyển cho Công ty TNHH MTV M.
Ngày 03-01-2024, Tbank đã ban hành thông báo số 301/2024/TB-VPB thông
báo cho ông Trần Văn N về việc bán nợ cho Công ty M.
Ngày 04-01-2024, Công ty TNHH MTV M đã han hành thông báo chuyển giao
quyền đòi nợ và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đến ông Trần Văn N theo Thông báo số
1356/2024/TB-MARS.
Nghĩa vụ tính đến thời điểm ngày 01-4-2024 của ông N đối với Công ty TNHH
MTV M là 4.155.765.377 đồng. Đến nay ông N chưa thanh toán bất kỳ số tiền nợ
gốc, lãi nào.
Ngày 16-4-2024 Công ty TNHH MTV M chuyển đổi mô hình đăng ký doanh
nghiệp thành Công ty Cổ phần M theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0110467848
của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.
Công ty Cổ phần M không liên lạc được với ông N, không biết ông N hiện tại
đang ở đâu.
4
Nay Công ty Cổ phần M khởi kiện, yêu cầu ông Trần Văn N thanh toán nợ đã
mua từ Tbank gồm 3.368.016.415 đồng nợ gốc và lãi phát sinh theo các Hợp đồng
vay, khế ước nhận nợ nêu trên. Trường hợp ông N không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành
án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ các
Trường hợp
sau khi xử lý tài sản đảm bảo không trả được hết nợ, ông Trần Văn N phải tiếp tục
thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần M.
Ông Trần Văn N đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt trong quá trình
Tòa án giải quyết vụ án nên không có trình bày.
: Nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Trần Văn
N thanh toán nợ tính đến ngày 15-9-2025 số tiền 5.447.397.525 đồng, gồm
3.368.016.415 đồng nợ gốc, 65.730.336 đồng lãi trong hạn; 1.613.067.887 đồng lãi
quá hạn; 400.582.887 đồng lãi chậm trả. Tuyên buộc ông N tiếp tục chịu tiền lãi kể từ
ngày 16-9-2025 và xử lý tài sản đảm bảo nếu không thực hiện trả nợ hoặc trả không
đầy đủ. Trường hợp xử lý tài sản đảm bảo không đủ thì ông N vẫn phải có nghĩa vụ
trả nợ đối với Công ty Cổ phần M.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ,
quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên
tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định về việc xét xử sơ thẩm
vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều
70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa
lần thứ 2 không có lý do; người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan, ông Trần Nhật B có đơn xin xét xử vắng mặt, Đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, xét xử vắng mặt của ông Trần Văn N và ông Trần Nhật B.
Về việc giải quyết vụ án: Ông Trần Văn N vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi
theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay và
hiện tại là bên mua nợ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ
chức tín dụng; Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17-7-2015 của Ngân hàng Nhà
nước quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng; Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên buộc ông Trần Văn N trả nợ gốc còn lại, lãi theo
hợp đồng cho vay đã ký kết giữa ông N và Ngân hàng Tbank tới ngày xét xử sơ thẩm
và tiền lãi trên nợ gốc cho đến khi trả nợ xong cho Công ty Cổ phần M. Trường hợp
ông N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ
phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo theo
hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo

5
không trả được hết nợ, ông Trần Văn N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán
cho Công ty Cổ phần M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện và các
tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ
án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “”
theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Địa chỉ của bị đơn ông
Trần Văn N được ghi trong Hợp đồng tín dụng và các tài liệu như giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu thể hiện nơi đăng ký thường trú
tại Thôn 4, xã Nâm N’Jang, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông cũ, nay là Thôn 4, xã
Trường Xuân, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15
ngày 27-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Sau khi thông báo, triệu tập, tống đạt văn
bản nhiều lần, ông Trần Văn N, là bị đơn không có mặt làm việc, Tòa án đã tiến hành
xác minh tại Công an xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cũ, nay là Công an xã T, tỉnh
Lâm Đồng. Kết quả xác định ông Trần Văn N, sinh ngày 08-10-1976, CMND số
24550XXXX hiện không đăng ký thường trú, tạm trú tại Thôn D, xã N, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông cũ, nay là Thôn D, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Thời gian chuyển hộ khẩu và nơi
chuyển đến sinh sống không rõ. Xác minh tại Công an xã P, huyện B, tỉnh Bình
Phước (nơi có đất thế chấp), ông Trần Văn N không đăng ký thường trú, tạm trú tại
thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ). Ông Trần Văn N chuyển nơi cư trú
nhưng không thông báo cho Ngân hàng TMCP T và Công ty Cổ phần M, là bên có
quyền biết địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng căn cứ
điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 6
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng đối với ông
N theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Văn N đã
được thông báo, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên
tòa lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông N theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện theo ủy
quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Trần Nhật B có đơn xin xét
xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
xét xử vắng mặt ông Trần Nhật B.
6
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M:
Ngày 03-6-2022, ông Trần Văn N ký Hợp đồng cho vay số LN2205205819531,
vay Ngân hàng TMCP T sau viết tắt là Tbank số tiền 3.000.000.000đ
thời hạn 300 tháng, mục đích nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa
đất số 401 và 385, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
(cũ). Cùng ngày, ông N ký khế ước nhận nợ với Ngân hàng Tbank, số tiền
3.000.000.000đ tiền được giải ngân ngày 15-6-2022. Đối với khoản vay
này ông N chưa trả nợ gốc; lãi đã trả 172.886.415 đồng.
Ngày 11-7-2022, ông Trần Văn N ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay
không tài sản đảm bảo, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện
tử, vay Tbank số tiền 299.000.000đ mục đích
mua đồ gia dụng, thời hạn vay 60 tháng, giải ngân vào tài khoản số 261022017 mở tại
Tbank, lãi suất 20%/năm, sau đó điều chỉnh 03 tháng/lần. Đối với khoản vay này ông
N đã trả 20.285.829 đồng nợ gốc; 26.198.574 đồng tiền lãi.
Ngày 25-5-2022, ông Trần Văn N ký Giấy đề nghị vay vốn có tài sản đảm bảo
kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ,
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài
khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử, vay Tbank số tiền 99.000.000đồng. Lãi
suất cố định 27%/năm, bắt đầu tính từ ngày thứ 46 sau ngày 25-5-2022. Ông N đã
thanh toán được 9.697.756 đồng nợ gốc.
Thời điểm ký kết, chủ thể xác lập các hợp đồng trên có đầy đủ năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp theo
quy định tại Điều 398 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 của Luật các
Tổ chức tín dụng, đã phát sinh hiệu lực thi hành kể từ ngày ký từng hợp đồng.
Ngày 02-6-2023, ông N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ của người vay đối với
Tbank.
2. Để đảm bảo khoản vay, ông Trần Văn N và Tbank
ký hợp đồng thế chấp ngày 28-6-2022, theo đó ông N thế chấp cho Tbank tài sản đảm
bảo gồm quyền sử dụng thửa đất số 385, tờ bản đồ số 5, diện tích 28576,3m2, đất
trồng cây lâu năm, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp
GCNQSD số CM 1593XX ngày 03-8-2018, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-
2022 và thửa đất số 401, tờ bản đồ số 5, diện tích 69275,4m2, đất trồng cây lâu năm,
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD số CM1593XX
ngày 04-9-2018, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-2022, cùng toàn bộ các
quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan tới 02 tài sản này. Đất tọa lạc tại thôn S,
xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước (cũ). Hợp đồng thế chấp được công chứng ngày 28-6-
2022 tại Văn phòng công chứng Bình Phước, tỉnh Bình Phước số 258XX. Đăng ký
thế chấp ngày 28-7-2022 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Bù Đăng. Như
7
vậy, hợp đồng thế chấp được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đã phát sinh hiệu lực
thi hành từ ngày 28-6-2022 theo quy định tại Điều 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự
và khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013.
Ngày 25-3-2025, thực hiện Quyết định ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ số
06/2025/QĐ-UTTA ngày 09-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk
Nông; Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước đã phối hợp với chính
quyền xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước xem xét thẩm định tại chỗ, xác định đất thế
chấp có diện tích thực tế như diện tích theo GCNQSDĐ được cấp, trên đất không có
tài sản, hiện trạng chủ yếu là cây rừng và cây chồi. Không ghi nhận có người khác
đang trực tiếp quản lý, sử dụng cũng như tranh chấp gì, với ai.
2. 3 :
Ngày 29-12-2023, Tbank bán nợ cho Công ty TNHH M theo Hợp đồng mua
bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-
MRRS; Phụ lục 01 Hợp đồng chuyển nhượng số 02/2023/VPB-MRRS (số thứ tự 42),
theo đó toàn bộ khoản nợ và quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng cho vay, khế
ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp giữa ông Trần Văn N và Tbank được chuyển cho
Công ty TNHH MTV M kể từ ngày bên mua hoàn tất nghĩa vụ thanh toán số tiền mua
bán nợ cho bên bán nợ. Công ty TNHH MTV M đã thanh toán tiền cho Tbank theo ủy
nhiệm chi ngày 29-12-2023 vào số tài khoản VNĐ của Tbank Hội sở.
Ngày 03-01-2024, Tbank đã ban hành thông báo số 301/2024/TB-VPB thông
báo cho ông Trần Văn N về việc bán nợ cho Công ty TNHH MTV M theo nghĩa vụ
thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS.
Ngày 04-01-2024, Công ty TNHH MTV M đã ban hành thông báo chuyển giao
quyền đòi nợ và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ đến ông Trần Văn N theo Thông báo số
1356/2024/TB-MARS.
Công ty TNHH MTV M được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch
và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, mã số
doanh nghiệp 0110467848, đăng ký lần đầu ngày 31 tháng 8 năm 2023. Ngày 16-4-
2024 chuyển đổi mô hình kinh doanh thành Công ty Cổ phần M, giữ nguyên mã số
doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính.
Căn cứ khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; các Điều 3, 4, 14, 16
Thông tư số 09/2015/TT-NHNN ngày 17-7-2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định
về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng; việc thông báo theo hợp đồng mua
bán nợ thì Công ty Cổ phần M hiện nay là bên kế thừa quyền và nghĩa vụ của Tbank
đối với khoản nợ của ông Trần Văn N.
Ngày 06-02-2023, ông N bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng cho
vay số LN2205205819531, căn cứ Điều 282 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 của Luật
các Tổ chức tín dụng; Điều 7, khoản 2,3,4 Điều 8, Điều 10 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối
cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
8
cần buộc ông Trần Văn N phải thanh toán nợ Công ty Cổ phần M đã mua từ Tbank
tính đến ngày 15-9-2025 đối với 03 hợp đồng cho vay, cụ thể như sau:
Nợ gốc: 3.368.016.415 đồng;
Lãi trong hạn: 65.730.336 đồng;
Lãi quá hạn: 1.613.067.887 đồng;
Lãi chậm trả: 400.582.887 đồng;
Tổng số tiền phải thanh toán: 5.447.397.525 đồng.
Kể từ ngày 16-9-2025, ông Trần Văn N tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa
thuận, trên nợ gốc của các Hợp đồng cho vay số LN2205205819531 ngày 03-6-2022,
Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, mở và sử dụng tài
khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11-7-2022 và Giấy đề nghị vay
vốn có tài sản đảm bảo kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp
hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm hợp đồng
mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25-5-2022 được
ký kết giữa ông Trần Văn N và Tbank cho đến khi thực hiện xong các nghĩa vụ của
bên vay.
2. 4 : Nghĩa vụ được bảo đảm quy định tại Điều 3 Hợp
đồng thế chấp ngày 28-6-2022 như sau: Tài sản thế chấp được bảo đảm để thực hiện
toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai, bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc,
lãi, các khoản phí, các khoản phạt … của Hợp đồng cho vay số LN2205205819531
ngày 03-6-2022 và các văn kiện tín dụng được ký trước, trong và sau ngày ký kết hợp
đồng cho vay số LN2205205819531 ngày 03-6-2022 (được hiểu bao gồm nhưng
không giới hạn các thỏa thuận về việc cung cấp và sử dụng tín dụng, hợp đồng tín
dụng, hợp đồng cấp hạn mức tín dụng, hợp đồng cho vay, hợp đồng cho vay hạn mức,
hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản, hợp đồng về cấp hạn mức, phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng… hay bất kỳ hợp đồng, thỏa thuận nào ghi nhận các giao dịch
cấp tín dụng giữa bên ngân hàng và bên được bảo đảm hoặc bất kỳ giao dịch nào khác
xác nhận nghĩa vụ nợ của bên được bảo đảm với bên ngân hàng). Do ông Trần Văn N
vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo kỳ theo các hợp đồng cho vay đã ký kết,
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay, hiện tại là bên mua nợ
Công ty Cổ phần M, trường hợp ông N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên,
phát mại tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi nợ theo quy định tại
khoản 1 Điều 299, khoản 6 Điều 320, khoản 2 Điều 322, khoản 7 Điều 323 của Bộ
luật Dân sự. Trường hợp sau khi xử lý tài sản đảm bảo không trả được hết nợ, ông
Trần Văn N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần M.
[3]. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Do yêu cầu khởi kiện của
Công ty Cổ phần M được chấp nhận nên ông Trần Văn N phải chịu 4.000.000 đồng
() theo quy định tại
9
Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty Cổ phần M đã nộp tạm ứng nên ông
Trần Văn N phải hoàn trả 4.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần M.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M được chấp nhận
nên ông Trần Văn N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tại
phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 157, điểm e khoản 1 Điều 192, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 282, khoản 1 Điều 299, các Điều 303,
317, 318, 319, 320, 322, 398 và Điều 401 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật
các tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 5,
khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 3, 4, 14, 16 Thông tư số 09/2015/TT-
NHNN ngày 17-7-2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động mua, bán nợ
của tổ chức tín dụng; Điều 7, khoản 2,3,4 Điều 8, Điều 10 Nghị quyết số
01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M đối với ông Trần Văn N.
Buộc ông Trần Văn N phải trả cho Công ty Cổ phần M số tiền 5.447.397.525đ
(
) tính tới ngày xét xử sơ thẩm, ngày 15-9-2025. Gồm 3.368.016.415
đồng nợ gốc, 65.730.336 đồng lãi trong hạn, 1.613.067.887 đồng lãi quá hạn,
400.582.887 đồng lãi chậm trả.
Kể từ ngày 16-9-2025, ông Trần Văn N tiếp tục chịu tiền lãi theo lãi suất thỏa
thuận trên nợ gốc của các Hợp đồng cho vay số LN2205205819531 ngày 03-6-2022,
Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản đảm bảo, mở và sử dụng tài
khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 11-7-2022 và Giấy đề nghị vay
vốn có tài sản đảm bảo kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp
hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm hợp đồng
mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 25-5-2022 được
ký kết giữa ông Trần Văn N và Tbank cho đến khi trả xong nợ.
10
Trường hợp ông Trần Văn N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ trả nợ, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm
quyền xử lý đảm bảo là quyền sử dụng thửa đất số 385, tờ bản đồ số 5, được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD số CM 1593XX ngày 03-8-
2018, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-2022 và thửa đất số 401, tờ bản đồ số
5, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSD số CM1593XX
ngày 04-9-2018, cập nhật thay đổi chủ sử dụng ngày 23-6-2022 cùng toàn bộ các
quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan; đất tọa lạc tại thôn S, xã P, huyện B,
tỉnh Bình Phước (cũ) theo hợp đồng thế chấp ngày 28-6-2022 ký giữa Ngân hàng
TMCP T và ông Trần Văn N để thu hồi nợ. Trường hợp khoản tiền thu được từ xử lý
tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì ông Trần Văn N vẫn có
nghĩa vụ trả nợ đối với Công ty Cổ phần M.
2. Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Ông Trần Văn N phải chịu số
tiền 4.000.000đ ( ). Công ty Cổ phần M đã nộp tạm ứng nên ông Trần
Văn N phải hoàn trả 4.000.000đ () cho Công ty Cổ phần M.
3. Về án phí:
Ông Trần Văn N phải nộp 113.447.397đ (
nghìn ba chín ) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty Cổ phần M 56.079.000đ (
) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004393 ngày
11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk
Nông (cũ) tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Lâm Đồng.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết.
.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 8 – Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 8 – Lâm Đồng;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Lê Thị Thu Hà
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm