Bản án số 171/2025/DS-PT ngày 15/07/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 171/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 171/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 171/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 171/2025/DS-PT ngày 15/07/2025 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
Số hiệu: | 171/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 15/07/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Trịnh Minh Tự
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bé Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà
Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh
Long, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự
thụ lý số: 3472024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 10 – Vĩnh Long) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2025/QĐ-PT ngày
17 tháng 01 năm 2025 và Thông báo số 298/TB – TA, ngày 02/7/2025 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Kim Thị T, sinh năm 1956 (có mặt).
Nơi cư trú: khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường T,
tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của bà Kim Thị T: Bà Tô Thị Sa M, sinh năm 1984;
Nơi cư trú: khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường T, tỉnh
Vĩnh Long), theo Văn bản ủy quyền ngày 28/3/2023 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trịnh Hữu B, sinh năm 1973 (vắng mặt);
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 171/2025/DS - PT
Ngày: 15 - 7 - 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Nơi cư trú: khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường
T, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của ông Trịnh Hữu B: ông Nguyễn Thanh H, sinh
năm 1975; Nơi cư trú: Số B, P, khóm B, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh
(nay là phường N, tỉnh Vĩnh Long), theo Văn bản ủy quyền ngày 22/5/2023 (có
mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Tô Thị T1, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt).
2. Ông Tô Văn T2, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt).
3. Bà Tô Thị Sa M, sinh năm 1984 (có mặt).
4. Ông Lâm S, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là
phường T, tỉnh Vĩnh Long).
5. Ông Thạch L, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm F, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường T,
tỉnh Vĩnh Long).
6. Ông Tô Văn D, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm D, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường
T, tỉnh Vĩnh Long)..
7. Văn phòng C (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: A P, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường
T, tỉnh Vĩnh Long) .
- Người kháng cáo: Ông Trịnh Hữu B là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Thửa đất thửa
126, tờ bản đồ 37, diện tích 2.200m
2
, tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T,
tỉnh Trà Vinh là của bà Kim Thị T, quá trình sử dụng thì bà T, ông T2 có chuyển
nhượng cho ông Trịnh Hữu B với giá là 1.650.000.000đ (tức là
750.000.000đ/1000m
2
). Bà T, ông T2 đã nhận đủ tiền theo biên nhận ngày
07/4/2021 và ông B cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
126 xong (thửa này bà T không tranh chấp). Còn thửa đất giáp ranh với thửa 126
là thửa 904, tờ bản đồ 2, diện tích 320m
2
(thường gọi là cái đìa) do bà T sử dụng
một phần, ông Thạch L sử dụng một phần nhưng bị mất giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Do, vị trí đất thửa 904 giáp ranh với thửa 126 của ông B nên ông B có
hỏi mua nhưng bà T nói đã làm thất lạc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà
T có ủy quyền cho ông B làm thủ tục cấp lại giấy mới cho bà T. Ông Trịnh Hữu B
lợi dụng bà T là người dân tộc, cao tuổi, không biết chữ lại lãng tai nên ông B cho
ông Trần Văn T3 và ông Thạch Ngọc Q (môi giới) đem Hợp đồng chuyển nhượng
thửa đất 904 cho bà T, ông T2 ký vào ban đêm để chuyển nhượng thửa 904 cho
3
ông Trịnh Hữu B. Bà T nghĩ rằng, ông B đưa giấy tờ cho bà ký là để làm thủ tục
cấp lại giấy thửa 904 hoặc thửa 126 (đã chuyển nhượng) có trục trặc gì về giấy tờ
nên bà T có ký. Sau khi ký vài ngày, có người thông báo cho bà T biết là bà đã ký
vào hợp đồng chuyển nhượng thửa 904 cho ông B, nên bà T đến Ủy ban nhân dân
phường I ngăn chặn và phát đơn khởi kiện ông Trịnh Hữu B.
Nay, bà Kim Thị T yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất có số công chứng 6983 quyển số 10/2021/TP/CC-SCC/HĐ ngày
20/10/2021 của Văn phòng C đối với thửa đất 904, tờ bản đồ 2, diện tích 320m
2
,
tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh giữa bà Kim Thị T, ông
Tô Văn T2 với ông Trịnh Hữu B.
- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 904,
tờ bản đồ 2, diện tích 320m
2
, tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà
Vinh do ông Trịnh Hữu B đứng tên.
- Yêu cầu ông B trả lại cho bà quyền sử dụng đất thửa đất 904, tờ bản đồ 2,
diện tích 320m
2
, tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày: Thông qua ông Trần Văn
T3, ông Thạch Ngọc Q (anh T3 và anh Q là người môi giới), cho biết hiện bà T có
bán đất. Ngày 07/4/2021, ông B có đến gặp bà Kim Thị T, anh Tô Văn T2 (con bà
T), để nhận chuyển nhượng hai thửa đất, cụ thể: Thửa đất 126, tờ bản đồ 37, diện
tích 2.200m
2
và thửa 904, tờ bản đồ số 2, diện tích 320m
2
, cùng tọa lạc tại khóm
E, Phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Theo thỏa thuận giá 02 thửa đất nêu trên là 1.650.000.000đ (Một tỷ sáu trăm
năm mươi triệu đồng). Trong đó: thửa 126 giá 1.500.000.000đ, thửa 904 giá là
150.000.000đ (Lẽ ra thửa đất 904 có giá 200.000.000đ, tuy nhiên hai bên thỏa
thuận bên ông B chịu thuế, nên bà T, ông T2 lấy giá thửa đất 904 là 150.000.000đ).
Hai bên có lập giấy tay giao nhận tiền, giao nhận đất ngày 07/4/2021, khi
giao đất có cặm trụ ranh rõ ràng và có sự chứng kiến của ông Trần Văn T3, ông
Thạch Ngọc Q, ký tên chứng kiến trực tiếp việc giao tiền, giao đất cùng ngày
07/4/2021. Phía bà T gồm có bà T, cùng hai người con là anh Tô Văn T2 trong hộ
và chị Tô Thị Thanh N, đếm tiền xong cùng ký tên nhận tiền đầy đủ và đóng trụ
đá giao đất.
- Đối với thửa đất 126, tờ bản đồ 37, diện tích 2.200m
2
(thửa này ông B đã
được cấp giấy xong, không có tranh chấp).
- Đối với thửa đất 904, tờ bản đồ số 2, diện tích 320m
2
bà T và ông T2 nói
chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, bà T, ông T2 và B có thỏa
thuận: Bà T ủy quyền cho ông B lập thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong thì hộ bà T sẽ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất này cho ông B, giống như thửa đất 126 nêu trên. Tiếp
4
đến ông B tiến hành các thủ tục pháp lý để xin cấp quyền sử dụng đất cho bà T
theo luật định.
+ Ngày 15/10/2021, bà T được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất 904, tờ bản đồ số 2 diện tích 320m
2
.
+ Ngày 20/10/2021, hộ bà T gồm bà T và con là anh Tô Văn T2, lập hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B theo thỏa thuận. Tiếp đến ông
B đến Trung tâm hành chính công của Ủy ban Nhân dân thành phố T thực hiện thủ
tục xin cấp quyền sử dụng đất đối với thửa 904 nêu trên theo qui định của Luật Đất
đai. Tuy nhiên, không rõ vì sao ông B không được cấp quyền sử dụng đất.
Nay, ông H đại diện cho ông B yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Trà
Vinh, tỉnh Trà Vinh giải quyết: Bác yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị T. Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng bà Kim
Thị T, ông Tô Văn T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Trịnh Hữu B là hợp pháp
để ông B lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H xác nhận đã
trao đổi với ông B, là bà H1 không liên quan gì đến giao dịch này, nếu sau này ông
B thắng kiện, ông B được cấp giấy sẽ giao lại cho bà H1, thì đó là giao dịch giữa
ông B với bà H1 sau. Nên ông H không đề cập đến việc triệu tập bà Nguyễn Thị
H1 tham gia tố tụng trong vụ án này.
Ông Tô Văn T2 trình bày tại Biên bản ghi lời khai ngày 29/6/2023: Ông xác
nhận ông có ký tên “Thành” trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 20/10/2021, do ông Trần Văn T3 và ông Thạch Ngọc Q đem hợp đồng đến
nhà ông khoản 6 giờ mấy đến 07 giờ mấy tối (không nhớ ngày). Ông T3 nói ký
giùm cho ông Trịnh Hữu B vài chữ ký để làm giấy (ông Q1 thì ở ngoài sân), lúc
này trong người ông T2 có rượu và ông nghĩ do thửa 126 đã bán cho ông B có trục
trặc gì về giấy tờ nên ông B nhờ ông ký lại nên ông T2 có ký. Ông T2 xác nhận
không có nhận tiền bán cái đìa (thửa 904) và cũng không có nhận bất cứ khoản tiền
nào khác ngoài số tiền 1.650.000.000đ bán thửa đất số 126 diện tích 2.200m
2
cho
ông B. Nay, ông không đồng ý chuyển nhượng thửa 904 (cái đìa) cho ông B.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 10 – Vĩnh Long) đã xử:
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị T.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 6983
quyển số 10/2021/TP/CC-SCC/HĐ ngày 20/10/2021 của Văn phòng C đối với thửa
đất số 904, tờ bản đồ 2, diện tích 320m
2
(thực đo là phần A diện tích 54,8m
2
; phần
B diện tích 64,1m
2
và phần C1 diện tích 195,3m
2
), loại đất chuyên trồng lúa nước
tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh giữa bên chuyển nhượng
bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Trịnh Hữu B là
vô hiệu. Do, ông Trịnh Hữu B không giao tiền cho bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2.
5
Bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 cũng không giao quyền sử dụng đất cho ông Trịnh
Hữu B nên Tòa án không giải quyết hậu quả của hợp đồng về lỗi và trượt giá. Buộc
ông Trịnh Hữu B phải có nghĩa vụ nộp lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa 904 số phát hành DC 777125 Số vào sổ cấp GCN: CS 17822 đối với
thửa đất số 904 diện tích 320m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, tờ bản đồ số 2, tọa
lạc khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do hộ bà Kim Thị T được Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/10/2021 cho Chi cục thi hành án dân
sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh để đảm bảo thi hành án. Phần đất có tứ cận
chung như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 126 có các số đo 2,00m; 4,78m; 8,05m.
- Hướng Tây giáp thửa 13, thửa 142, giáp phần (A1) có các số đo 14,56m;
7,82m; 1,88m; 6,14m; 2,76m.
- Hướng Nam giáp phần (B1), thửa 135, phần (C2) có các số đo 1,53m;
6,20m; 0,25m; 8,41m; 5,80m; 2,56m.
- Hướng Bắc giáp thửa 14, giáp phần (C) có số đo 2,48m; 7,11m (kèm theo
sơ đồ bản vẽ), trên đất không có tài sản. Hộ bà Kim Thị T, ông Thạch L được quyền
tiếp tục sử dụng phần đất này.
Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trịnh Hữu B về yêu
cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/10/2021 giữa
bên chuyển nhượng bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 với bên nhận chuyển nhượng
ông Trịnh Hữu B đối với quyền sử dụng đất thửa 904 diện tích 320m
2
loại đất
chuyên trồng lúa nước tờ bản đồ 2 tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh
Trà Vinh (phần đất nêu trên).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về đình chỉ yêu cầu độc lập, chi phí kháo sát
đo đạc định giá, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp
luật.
Ngày 28/10/2024 ông Trịnh Hữu B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm: Sửa
bản án sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân
dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Vĩnh
Long), theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Kim Thị T.
- Chấp nhận đơn phản tố của ông đối với yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với bà Kim Thị T và ông Tô Văn T2
hợp pháp. Buộc bà T và ông T2 giao thửa đất 904, tờ bản đồ số 2, diện tích 320m
2
,
tọa lạc tại: Khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị
đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ kiện và không cung cấp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa
phúc thẩm.
6
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét
xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực
hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá
trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc
chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ
án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Xét kháng cáo bị đơn ông Trịnh Hữu B yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 904, nhận thấy: Biên nhận
ngày 07/4/2021 (Bl 127) không thể hiện có thỏa thuận chuyển nhượng cái đìa thửa
đất 904 số tiền 150.000.000 đồng và cũng không có biên nhận giao nhận số tiền
150.000.000 đồng sau khi làm giấy chứng nhận cho bà T và bà T cũng không thừa
nhận có chuyển nhượng thửa đất 904 cho ông B như lời ông B trình bày. Lời khai
nhân chứng ông Thạch Ngọc Q1 ngày 09/11/2021 (BL 19) ông T2 trình bày ông
T2 kêu bán đất 2 phần, 01 phần có giấy lấy tiền trước giá 750.000.000 đồng một
công và thửa đất 126 diện tích 2.200m
2
x 750.000.000 đồng = 1.650.000.000 đồng,
01 phần không có giấy khi nào làm giấy xong lên công chứng lấy tiền tiền đủ, còn
đêm đi với ông T3 không biết ký giấy gì. Lời khai này phù hợp với biên nhận lập
ngày 07/4/2021 mà ông B thỏa thuận giá chuyển nhượng thửa đất 126 số tiền
1.650.00.000 đồng, còn các lời khai của ông T3, ông Q1 trong quá trình Tòa án thụ
lý, giải quyết đã thay đổi, nên lời khai sau này không khách quan. Do đó, việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B và bà T, ông T2 khi ký kết có sự
nhầm lẫn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Hữu B, giữ nguyên án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài
liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Vĩnh Long. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trịnh Hữu B khi kháng cáo còn trong thời hạn
luật định, hình thức và nội dung là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Trong quá trình vụ lý vụ án phúc thẩm và tại phiên
tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn trình bày không còn tài liệu, chứng cứ nào để
cung cấp cho Hội đồng xét xử phúc thẩm.
[2] Đối với kháng cáo của ông Trịnh Hữu B. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp
đồng chuyển nhượng ngày 20/10/2021 giữa bà T, ông T2 ký chuyển nhượng cho
7
ông B thửa 904 diện tích 320m
2
đã được công chứng chứng thực. Tuy nhiên tại
thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Kim Thị T lần đầu là
ngày 12/3/1999 và cấp lại ngày 15/10/2021 đều cấp cho hộ bà Kim Thị T. Theo
tàng thư lưu trữ hộ khẩu của hộ bà T do công an cung cấp thì tại thời điểm cấp lần
đầu gồm bà T và các con bà T: Tô Thị T1, Tô Văn D, Tô Thị Sa M, Tô Văn T2
(BL 102) nhưng trên hợp đồng chuyển nhượng ngày 20/10/2021 chỉ có bà T, ông
T2 ký chuyển nhượng cho ông B, không có văn bản ủy quyền nào của bà T1, ông
D, bà M ủy quyền cho bà T hay ông T2 ký chuyển nhượng cho ông B. Phía bà T1,
ông D, bà M không đồng ý việc chuyển nhượng trên. Mặc khác, tại hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 904 diện tích 320m
2
không phù
hợp với quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, theo quy định tại
khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình sử dụng đất là những người
có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn
nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển
quyền sử dụng đất”. Do hộ bà T và ông T2 có nhiều người nhưng chỉ có bà T và
ông T2 đứng ra chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B và không có văn bản
ủy quyền như đã phân tích nêu trên nên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất thửa đất 904 giữa bà T, ông T2 với ông B là vô hiệu.
[3] Theo ông H trình bày số tiền ông B giao cho bà T, ông T2 nhận
1.650.000.000đ từ ông B là tiền nhận chuyển nhượng hai thửa đất, gồm thửa 126
diện tích 2.200m
2
với tổng số tiền là 1.500.000.000đ; cái đìa (tức thửa 904 diện
tích 320m
2
) giá là 150.000.000đ chứng cứ ông B cung cấp để chứng minh là một
biên nhận nhận tiền đề ngày 07/4/2021 (BL 127) nội dung biên nhận như sau “Thửa
đất số 126 diện tích 2.200 m
2
tờ bản đồ số 37 tọa lạc tại khóm E, phường G, thành
phố T, tỉnh Trà Vinh với giá 1.650.000.000đồng, đã đặt cọc 100.000.000đ, còn lại
số tiền 1.550.000.000đ giao đủ cho bà T, bà T giao đất” như vậy theo nội dung
nêu trên chỉ thể hiện số tiền 1.650.000.000đ bà T, ông T2 nhận của ông B là tiền
chuyển nhượng thửa 126, phần còn lại của biên nhận bà T chỉ hứa hẹn khi có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất chuyên nhượng luôn cho ông B, không có nội dung
nào thể hiện có số tiền 150.000.000đ bà T, ông T2 nhận của ông B tiền chuyển
nhượng thửa 904 diện tích 320m
2
tờ bản đồ số 2 nhưng căn cứ vào biên nhận nêu
trên thì bà T chỉ hứa hẹn là sau khi có giấy chứng nhận bà T chuyển nhượng luôn
thửa 904 cho ông B nhưng việc chuyển nhượng chưa xảy ra như ông H và ông B
khai, tại biên bản tiếp xúc do ông Sơn Ngọc L1 Công chức Tư pháp phường 9 lập
tiếp xúc với ông Thạch Ngọc Q (BL 19) ông Q trình bày: “ông Tô Văn T2 kêu bán
với giá 750.000.000đ một công, còn phát sinh chưa có giấy khi làm giấy xong lên
công chứng lấy tiền đủ”. Mặc dù sau đó ông Q có sự thay đổi lời khai khác đi,
nhưng theo lời khai ông Q diễn dẫn trên thì trùng khớp với nội dung biên nhận ông
B cung cấp (diện tích 2.200m
2
x 750.000.000đ = 1.650.000.000đồng). Xét về thời
gian từ ngày viết biên nhận đến ngày lập hợp đồng chuyển nhượng thửa 904 diện
tích 320m
2
là cách nhau hơn 06 tháng ông B nói chuyển nhượng thửa 904 giá là
150.000.000đ nhưng ông B không có chứng cứ chứng minh đã trả tiền, nhận đất;
trong khi thửa 904 diện tích 320m
2
trong đó ông Thạch L đang sử dụng trồng cỏ
8
diện tích là 118,9m
2
hiện đang sử dụng, diện tích 195,3m
2
còn lại bà T đang sử
dụng là phù hợp với biên bản xác minh (bút lục 95, 96, 97) nên không có sự việc
bà T, ông T2 chuyển nhượng, nhận tiền và giao đất cho ông B sử dụng thửa 904
diện tích 320m
2
.
Với các chứng cứ được phân tích trên án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của bà Kim Thị T tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
20/10/2021 giữa bên chuyển nhượng bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 với bên nhận
chuyển nhượng ông Trịnh Hữu B đối với quyền sử dụng đất diện tích 320m
2
thửa
904 loại đất chuyên trồng lúa nước tờ bản đồ số 2 tọa lạc khóm E, phường I, thành
phố T là vô hiệu. Buộc ông Trịnh Hữu B phải có nghĩa vụ giao nộp bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 904 để giao trả cho bà T là có căn cứ đúng
pháp luật và chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Trịnh Hữu B không
được chấp nhận nên ông B phải chịu án phí theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 117; khoản 2 Điều 119; Điều 122; Điều 123;
Điều 126; Điều 131; Điều 501; Điều 502; Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 29 Điều 3; khoản 3 Điều 188 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Luật Công chứng năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông bị đơn ông Trịnh Hữu B.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10
năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Tòa án
nhân dân khu vực 10 – Vĩnh Long)
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Kim Thị T.
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 6983
quyển số 10/2021/TP/CC-SCC/HĐ ngày 20/10/2021 của Văn phòng C đối với thửa
đất số 904, tờ bản đồ 2, diện tích 320m
2
(thực đo là phần A diện tích 54,8m
2
; phần
B diện tích 64,1m
2
và phần C1 diện tích 195,3m
2
), loại đất chuyên trồng lúa nước
tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường T, tỉnh
Vĩnh Long) giữa bên chuyển nhượng bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 với bên nhận
chuyển nhượng ông Trịnh Hữu B là vô hiệu và hủy hợp đồng trên. Phần đất có tứ
cận chung như sau:
9
- Hướng Đông giáp thửa 126 có các số đo 2,00m; 4,78m; 8,05m.
- Hướng Tây giáp thửa 13, thửa 142, giáp phần (A1) có các số đo 14,56m;
7,82m; 1,88m; 6,14m; 2,76m.
- Hướng Nam giáp phần (B1), thửa 135, phần (C2) có các số đo 1,53m;
6,20m; 0,25m; 8,41m; 5,80m; 2,56m.
- Hướng Bắc giáp thửa 14, giáp phần (C) có số đo 2,48m; 7,11m (kèm theo
sơ đồ bản vẽ), trên đất không có tài sản. Hộ bà Kim Thị T, ông Thạch L được quyền
tiếp tục sử dụng phần đất này.
Do, ông Trịnh Hữu B không giao tiền cho bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2.
Bà Kim Thị T, ông Tô Văn T2 cũng không giao quyền sử dụng đất cho ông Trịnh
Hữu B nên Tòa án không giải quyết hậu quả của hợp đồng về lỗi và trượt giá.
Buộc ông Trịnh Hữu B phải có nghĩa vụ nộp lại bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 904 số phát hành DC 777125 Số vào sổ cấp GCN: CS
17822 đối với thửa đất số 904 diện tích 320m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước, tờ
bản đồ số 2, tọa lạc khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh do hộ bà Kim
Thị T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 15/10/2021 cho Chi cục
thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án
dân sự khu vực 10 – Vĩnh Long) để đảm bảo thi hành án.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trịnh Hữu B về yêu cầu công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 6983 quyển số
10/2021/TP/CC-SCC/HĐ ngày 20/10/2021 giữa bên chuyển nhượng bà Kim Thị
T, ông Tô Văn T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Trịnh Hữu B đối với quyền
sử dụng đất thửa 904 diện tích 320m
2
loại đất chuyên trồng lúa nước tờ bản đồ 2
tọa lạc tại khóm E, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (phần đất nêu trên).
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trịnh Hữu B phải nộp` 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên
lai thu tiền số 0000994 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Vĩnh
Long).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị,
không liên quan đến kháng cáo tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và

10
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 10;
- Chi cục THADS tỉnh Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 10;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thành
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 04/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 28/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm