Bản án số 164/2024/HC-PT ngày 02/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2024/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2024/HC-PT ngày 02/05/2024 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 164/2024/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/05/2024
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 164/2024/HC-PT
Ngày: 02-5-2024
V/v Kin quyết định hành chính trong
lĩnh vc qun đất đai
CỘNG A HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có
:
Thẩm phán - Ch to phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Cường
Ông Trần Quốc Cường
Võ Thị Ngọc Dung
- Thư phiên toà: Ông Phạm Văn Phong Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại din Vin kiểm sát nhân dân cp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ số 403/2023/TLPT-HC ngày
08 tháng 12 năm 2023 về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
đất đai”. Do Bản án hành chính thẩm s48/2023/HC-ST ngày 08/9/2023
của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử phúc thẩm số 615/2024/QĐPT-HC ngày 2 tháng 4 năm 2024, giữa các
đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Văn Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: khu phố M,
phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có mặt.
- Người bị kiện: Chủ tịch UBND thị Đ, tỉnh Phú Yên, Văn bản số
2569/UBND-BTD ngày 25/4/2024, do Chủ tịch Nguyễn Vi P, đề nghị Tòa
án xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp: Đỗ Thị Thu V (Trưởng
phòng) ông Huỳnh Tấn P1 (Phó trưởng phòng) Phòng Tài nguyên i
trường thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. UBND thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; vắng có văn bản nêu trên.
2
2. Trung tâm phát trển quỹ đất thị Đ, tỉnh PYên (Nay Ban quản
dự án đầu tư xây dựng và phát triển quỹ đất thị xã Đ); vắng.
3. Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ, tỉnh Phú Yên;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tấn P1 - Phó Trưởng phòng
Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có mặt.
4. Phòng quản lý đô thị thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.
5. Ủy ban nhân dân phường H, thị Đ, tỉnh Phú n, văn bản số
95/UBND ngày 15/4/2024 do Chủ tịch UBND Nguyễn Đức H ký, xin vắng mặt.
6. Bùi Tuyết N, sinh năm 1967; địa chỉ: khu phố M, phường H, thị
Đ, tỉnh Phú Yên, vắng mặt
7. Ông Anh Đ1, sinh năm 1995 Trương Thị Bích D, sinh năm
1995; địa chỉ: khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, vắng mt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện ông Lê Văn
Đ trình bày:
Năm 1985, ông Văn Đ đi bộ đội Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa nên vợ
ông là bà Bùi Tuyết N xinđất cất nhà. Năm 1986, UBND xã H Bắc cấp đất
cho ông Văn Đ diện tích 600m2 nhưng ông không giấy tờ để chứng
minh việc cấp đất này.
Năm 2006, ông Đ làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại UBND (nay phường) Hòa Hiệp Bắc nhưng không được nên ông không
làm thủ tục này nữa.
Năm 2017, UBND huyện Đ (nay thị Đ) thực hiện dự án Tuyến nối
Quốc lộ A (Đ) đến Khu công nghiệp H - giai đoạn 1 (đợt 10) tại thôn P, xã H nên
thu hồi đất của gia đình ông diện tích bao nhiêu ông không biết. Sau đó,
UBND huyện Đ bồi thường cho gia đình ông tổng số tiền 955.468.638 đồng
cấp 01 đất tái định diện tích 200m2 tại Khu tái định thuộc Khu phố M,
phường H. Ông Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường đất tái định cư, ông Đ không
ý kiến gì về việc này.
Khi Nhà nước thu hồi đất của gia đình ông, phần còn lại theo UBND thị xã Đ
cho rằng 22,6m2. Nhưng phần đất còn lại sau khi thu hồi của ông phải nhiều
hơn 22.6m2, tính từ Cột mốc lgiới vào 05m (phía trong) đất của ông đến
giáp hộ ông Đinh Văn H1, ông Dương Bình L.
Sau khi Nhà nước thu hồi đất, phần diện tích đất còn lại Nhà nước không thu
hồi đất của ông nên ông xây dựng 01 nhà diện tích 51m2, khởi công xây
dựng từ tháng 9/2019, hoàn công tháng 5/2020.
Khi xây dựng nhà, gia đình ông Đ không xin giấy phép xây dựng
cũng không bị quan nào lập biên bản hay xử phạt gì. Đến ngày 30/3/2020 thì
UBND phường H đến lập biên bản vi phạm về việc gia đình ông xây dựng nhà
không xin phép xây dựng nhưng lúc đó nhà đã xây xong.
3
Năm 2022, UBND thị xã Đ tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với
ông nhưng sau đó UBND thị Đ thu hồi các quyết định nên ông Đ rút đơn khởi
kiện.
Việc ông xây dựng nhà là trái phép nhưng cũng có các hộ dân lân cận như bà
Thị Hoa S, ông Nguyễn K, ông Cao Tấn T cùng trục đường Quốc lộ 29 Nhà
nước đã thu hồi và bồi thường nhưng vẫn còn tồn tại làm ăn kinh doanh, không bị
UBND thị xã Đ xử lý vi phạm.
Cùng trục đường này, đoạn nhà cách hành lang 03m, đoạn nhà cách
05m; nhà ông Đ cách hành lang 4,2m (ông lấn hành lang đường bộ 0,8m).
Nhưng UBND thị xã Đ chỉ xử lý hộ ông Đ là không công bằng.
Chủ tịch UBND thị Đ ban hành Quyết định số 276/QĐ-KPHQ ngày
10/01/2023 về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số
1471/QĐ-CCXP ngày 16/3/2023 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp
khắc phục hậu quả yêu cầu ông phải tháo dỡ nhà trả lại hiện trạng trước khi
xây nhà, ông Đ không đồng ý và khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Ông Lê Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết :
- Hủy Quyết định số 276/QĐ-KPHQ ngày 10/01/2023 của Chủ tịch UBND
thị xã Đ về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
- Hủy Quyết định số 1471/QĐ-CCXP ngày 16/3/2023 của Chủ tịch UBND
thị xã Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại phiên toà thẩm, người khởi kiện đề nghị Toà án xem xét gải quyết đối
với Q dịnh s1364/QĐ-ĐC ngày 03/03/2023 của Chủ tịch UBND thị Đ về
việc đính chính trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính Quyết định số
1592/QĐ-ĐC ngày 24/3/2023 của Chủ tịch UBND thị Đ về đính chính quyết
định xử phạt vi phạm hành chính.
Người bị kiện, Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bkiện
UBND thĐ trình bày (Văn bản số 3400/UBND-QLĐT ngày 23/6/2023- BL
282):
- Về nguồn gốc sử dụng đất:
Thực hiện Quyết định số 1752/QD-UBND ngày 26/10/2012 của Chủ tịch
UBND tỉnh P về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Tuyến nối
Quốc lộ A (Đ) đến Khu công nghiệp H - Giai đoạn 1.
Năm 2017, UBND huyện Đ (nay thị Đ) ban hành Quyết định số
5715/QÐ-UBND ngày 21/12/2017 về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế -
hội lợi ích quốc gia, công cộng của hộ ông Văn Đ. Diện tích thu hồi 503,8
m2 (Trong đó: 190 m2 đất ONT 313,8 m2 đất HNK) thuộc thửa đất 291, tờ
bản đ số 378-C, tại H, huyện Đ. Diện tích đất còn lại sau khi thu hồi
22,3m², loại đất hàng năm khác (HNK) nằm ngoài dự án.
- Quá trình xây dựmg công trình vi phạm:
4
Cuối tháng 3/2020, UBND H đã kiểm tra, phát hiện ông Văn Đ xây
dựng công trình trái phép tại Tuyến nối Quốc lộ A đến Khu công nghiệp H thuộc
khu phố P, phường H.
Công trình được xây dựng trên một phần diện tích đất đã được Nhà nước thu
hồi bồi thường và một phần diện tích đất HNK còn lại chưa thu hồi là 22,3m2.
Ngày 30/3/2020, UBND H đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai đối với ông Lê Văn Đ, sau đó lần lượt ban hành Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục
hậu quả. Tuy nhiên, ông Văn Đ không chấp hành mà vẫn tiếp tục thi công xây
dựng công trình.
Tháng 5 và tháng 7/2020, UBND phường H tiếp tục ban hành Thông báo cho
ông Văn Đ chấm dứt hành vi vi phạm, chấp hành Quyết định của Chủ tịch
UBND phường đã ban hành; đồng thời mời ông Đ và đại diện nhóm thợ đang thi
công xây dựng công trình đến tại UBND phường để giải thích vhành vi vi
phạm, vận động chấp hành quy dịnh của pháp luật. Tuy nhiên, ông Lê Văn Đ vẫn
cố tình xây dựng hoàn thiện nhà kiên cố như hiện nay.
Qua kiểm tra hồ vi phạm hành chính, UBND phường H phát hiện sai
sót về nội dung áp dụng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính làm thay
đổi bản nội dung của Quyết định nên ban hành các Quyết định hủy bỏ toàn bộ
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định hủy bỏ toàn bộ Quyết định
cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lê Văn Đ
có báo cáo về lý do hủy bỏ các Quyết định.
Ngày 07/8/2020 UBND phường H lập Biên bản xác minh tình tiết của vụ
việc vi phạm, trong đó xác định ông Văn Đ thực hiện cùng lúc hai hành vi vi
phạm:
- Hành vi 1: Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất phi nông nghiệp
tại khu vực nông thôn không được quan nhà nước thẩm quyền cho phép để
xây dựng nhà. Vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số
91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai, thuộc thẩm quyền xử lý của Chủ tịch UBND cấp xã.
- Hành vi 2: Chiếm dụng đất của đường bộ để xây dựng nhà. Vi phạm quy
định tại điểm a khoản 9 Điều 12 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019
của Chính phquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ và đường sắt, thuộc thẩm quyền xử lý của Chủ tịch UBND cấp huyện.
Ngày 18/8/2020, UBND phường H Tờ trình chuyển toàn bộ hồ vi
phạm hành chính của ông Văn Đ đến Chủ tịch UBND thị Đ để xử theo
thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận, Chủ tịch UBND thị đã chỉ đạo Phòng Quản
đô thị chủ trì, phối hợp với Phòng pháp, Phòng T khẩn trương tham mưu xử
lý.
Quá trình các cơ quan chuyên môn thị xã tham mưu xử lý:
Để xác định cụ thdiện tích vi phạm, đồng thời xác định cụ thể từng hành
vi vi phạm, Phòng Quản lý đô thị thuê đơn vị tư vấn có tính pháp nhân là Công ty
5
TNHH T1 bằng máy nhằm xác định hành vi vi phạm, diện tích đất xây dựng vi
phạm của ông Lê Văn Đ.
Trên sở kết quả đo đạc thực tế, đối chiếu với hồ bồi thường, xác định
diện tích xây dựng vi phạm 53,6m2, trong đó: Trong phạm vi thu hồi đất thực
hiện dự án 38m2 ngoài phạm vi thu hồi 15,6m2, cụ thể các hành vi vi
phạm của ông Đ như sau:
- Hành vi 1: Chuyển 15,6m2 đất trồng cây hàng năm khác sang đất phi nông
nghiệp (xây dựng nhà ở) tại khu vực nông thôn, không được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép.
- Hành vi 2: Lấn, chiếm 23,5m2 đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn để
xây dựng nhà (đất trong phạm vi đã thu hồi, bồi thường để thực hiện dự án
Tuyến nối Quốc lộ A (Đ) đến Khu công nghiệp H - Giai đoạn 1, nhưng ngoài chỉ
giới đường đỏ).
- Hành vi 3: Chiếm dụng 14,5m2 đất của đường bộ để xây dựng nhà ở.
Để đảm bảo chặt chẽ về mặt hpháp trước khi tổ chức việc cưỡng
chế, U đã chỉ đạo các quan chuyên môn thị phối hợp với các quan chức
năng liên quan tiến hành họp soát lại toàn bộ hồ liên quan đến việc xử
phạt đối với ông Văn Đ. Trong quá trình soát, kiểm tra tính pháp hồ sơ,
các quan, nhận thấy: Trong hxphạt vi phạm hành chính của ông Đ còn
nhiều nội dung lập không đúng trình tự thủ tục như: Việc Phó Chủ tịch UBND thị
hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND thị
chưa phù hợp, chưa xác định thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, không lập
Biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi lấn, chiếm đất chỉ n cứ vào
biên bản xác minh tình tiết vụ việc vi phạm hành chính đra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính, việc giao nhận các quyết định về xử phạt vi phạm hành
chính, quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả chưa đúng đối
tượng bị xử phạt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số
118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
biện pháp thi hành Luật Xử vi phạm hành chính, UBND thị chưa đủ
sở để tổ chức cưỡng chế khắc phục hậu quả theo tiến độ thời gian đã xác định;
đồng thời UBND thị đã ra Quyết định hủy bỏ quyết định vxử phạt vi phạm
hành chính và Quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với
ông Lê Văn Đ, cụ thể:
- Quyết định về việc hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Số
3796/QĐ-HB ngày 16/11/2022; S3830/QĐ-HB ngày 23/11/2022 của Chtịch
UBND thị xã về hủy bỏ quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính;
- Quyết định số 3934/QĐ-HB ngày 29/11/2022 của Chủ tịch UBND thị
về hủy bỏ quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngày 07/12/2022, UBND thị tiến nh lập biên bản xác minh tình tiết
vụ việc vi phạm hành chính, xác định ông Đ có 03 hành vi vi phạm, cụ thể:
Hành vi 1: Chuyển 15,6m2 đất trồng cây hàng năm khác sang đất phi nông
nghiệp (xây dựng nhà ở) tại khu vực nông thôn, không được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép. Vi phạm điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị định số
6
91/2019/NĐ- CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai.
Hành vi 2: Lấn, chiếm 23,5m2 đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn để
xây dựng nhà (đất trong phạm vi đã thu hồi, bồi thường để thực hiện dự án
Tuyến nối Quốc lộ A (Đ) đến Khu công nghiệp H - giai đoạn 1, nhưng ngoài chỉ
giới đường đỏ). Vi phạm điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP
ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất
đai.
Hành vi 3: Chiếm dụng 14,5m2 đất của đường bộ để xây dựng nhà ở. Vi
phạm điểm a khoản 9 Điều 12 Nghị định s100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019
của Chính phquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ và đường sắt.
Ngày 10/01/2023, Chủ tịch UBND thị ban hành Quyết định số 276/QĐ-
KPHQ về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Văn
Đ; Ngày 16/3/2023, Chủ tịch UBND thị xã ban hành Quyết định số 1471/QĐ-
CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Trong đó,
biện pháp khắc phục: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi
phạm và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; buộc phải phá dỡ công trình xây dựng trái
phép khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính
gây ra; thời gian thực hiện: 15 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này. Tuy
nhiên, đến nay ông Lê Văn Đ chưa thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Về yêu cầu của người khởi kiện:
Đối với người khởi kiện ông n Đ xây dựng công trình vi phạm trên
đất không đúng mục đích sdụng đất. Ngày 10/01/2023, Chủ tịch UBND thị
đã ban hành Quyết định số 276/QĐ-KPHQ về việc buộc thực biện biện pháp khắc
phục hậu quả. Đến ngày 16/3/2023, Chủ tịch UBND thị ban hành Quyết định
số 1471/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu
quả. Đến nay, ông Lê Văn Đ vẫn chưa khắc phục hậu quả.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 11 Biện pháp khắc phục hậu quả Nghị định số
91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai quy định: “a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất
trước khi vi phạm đối với các trường hợp quy định tại khoản 1, 2 và khoản 3 Điều
này, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này”.
Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 14 Biện pháp khắc phục hậu quả Nghị định số
91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai quy định: “a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất
trước khi vi phạm đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5
của Điều này và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; trừ trường hợp quy định tại điểm b
và điểm c khoản này”.
Căn cứ điểm đ khoản 10 Điều 12 Nghị định 100/NĐ-CP ngày 30/12/2019
của Chính phquy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ đường sắt quy định: “đ) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a
khoản 5, điểm đ khoản 6, điểm b khoản 8, khoản 9 Điều này buộc phải phá dỡ
7
công trình xây dựng trái phép (không giấy phép hoặc không đúng với giấy
phép) khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính
gây ra”.
Căn cứ khoản 2 Điều 4 khoản 2 Điều 6 Quyết định số 40/2021/QĐ-
UBND ngày 29/9/2021 của UBND tỉnh P về việc ban hành quy định về mức độ
khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với từng loại vi
phạm quy định tại Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ
trên địa bàn tỉnh Phú Yên, quy định:
“2. Trường hợp đối tượng vi phạm tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trước
ngày 01 tháng 7 năm 2014 không phợp với quy hoạch sử dụng đất đã được
quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ ngày 01
tháng 7 năm 2014 trở về sau thì buộc đối tượng vi phạm phải khôi phục lại tình
trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và sử dụng đất đúng mục đích quy định”.
“2. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014
nhưng không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt; lấn, chiếm đất chưa sử dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau
thì buộc đối tượng vi phạm khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi
phạm”.
Để công tác quản Nhà nước về trật tự xây dựng đi vào nnếp, đảm bảo
kỷ cương pháp luật. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Văn Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Đ trình bày: Thống nhất ý kiến của Chủ
tịch UBND thị xã Đ.
- UBND phường H, thị Đ trình bày: Thống nhất ý kiến của Chủ tịch
UBND thị xã Đ.
- Bùi Tuyết N; vợ chồng ông Anh Đ1, Trương Thị Bích D trình
bày: Thống nhất yêu cầu của người khởi kiện ông Lê Văn Đ, đề nghị Tòa án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn Đ.
Bản án hành chính sơ thẩm số 48/2023/HC-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án
nhân dân tỉnh Phú Yên quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2
Điều 116; Điều 157; Điều 158; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348;
Điều 358; Điều 366 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 38; Điều 54; Điều 58; Điều
65; Điều 66; Điều 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm
2020); Đ2 a khoản 4 Điều 11, điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-
CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai; điểm a khoản 9; điểm đ khoản 10 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP
8
ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Văn Đ đối với
các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 276/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Chủ
tịch UBND thị xã Đ về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
- Hủy Quyết định s1471/QĐ-CCXP ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Chủ
tịch UBND thị xã Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu
quả.
- Hủy Quyết định số 1364/QĐ-ĐC ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Chủ tịch
UBND thị xã Đ về việc đính chính quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.
- Hủy Quyết định số 1592/QĐ-ĐC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND thị
xã Đ về việc đính chính quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.
Vì không có căn cứ pháp luật.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn quyết định về án phí thông báo quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2023, Toà án nhân dân tỉnh Phú n nhận đơn kháng cáo đề
ngày 18/9/2023 của người khởi kiện Văn Đ kháng cáo toàn bộ Bản án
thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét sửa Bản án thẩm theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng khẳng
định rằng: Thẩm phán chủ tọa Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng
các quy định của Luật tố tụng hành chính trong giai đoạn xét xử phúc thẩm; v
nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án có căn cứ và đúng pháp luật, kháng
cáo của người khởi kiện không cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn
cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính: bác kháng cáo, giữ nguyên
quyết định của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện không rút đơn khởi
kiện. Người khởi kiện kháng cáo ông Văn Đ giữ nguyên nội dung yêu cầu
kháng cáo, đnghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo, sửa Bản
án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Xét nội dung yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[2] Về nguồn gốc thửa đất: Mặc dù, tại phiên tòa ông Văn Đ thừa nhận
ông sử dụng đất nhưng chưa được quan n nước thẩm quyền cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên theo biên bản thẩm tra, xác minh nguồn
gốc thời điểm sử dụng đất ngày 04/3/2013 giữa đại diện UBND xã H với vợ
9
chồng ông Lê Văn Đ (BL-188), có nội dung“Đất ông Văn Đ nguồn gốc do
UBND giao đất để y dựng nhà ở năm 1986 (không giấy tờ). Thửa đất đã
được đăng vào Sổ mục tại Quyển số 02 trang số 43. Trong đó: 140m
2
đất
thổ cư, 178m
2
đất vườn và 200m
2
đất vườn quy hoạch thổ. Hiện trạng thửa đất đã
được xây dựng nhà từ năm 1991; Thời điểm sử dụng đất từ năm 1986; Mục
đích sử dụng đất xây dựng nhà ở nông thôn; Tờ Bản đồ 378-C, thửa số 291, diện
tích 518m
2
(có giới cận: Đông giáp đất ông văn G, Tây giáp đất ông Nguyễn
X, Nam giáp đất ông Đinh Văn H1, Dương Bình L1, Bắc giáp đường nhựa ra
biển)”.
Năm 2017, UBND huyện Đ thực hiện dán Tuyến nối Quốc lộ A (Đ) đến
Khu công nghiệp H - Giai đoạn 1, tại thôn P, H, UBND huyện Đ thu hồi diện
tích đất của gia đình ông Văn Đ, tại Phiếu xác nhận kết quđo đạc hiện trạng
thửa đất ngày 02/6/2016 do Công ty TNHH T1 đo đạc thửa đất s97, tờ bản đồ
số 01, địa chỉ thửa đất H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (thuộc thửa 291, tbản đ
378-C, Sổ mục quyển số 02, trang 43) tại Biên bản họp xét nguồn gốc đất
ngày 23/5/2017 của UBND xã H thể hiện diện tích đất thực tế hộ gia đình ông
Văn Đ sử dụng tổng diện tích 526,1m
2
. Trong đó: Diện tích trong khu vực
thu hồi 503,8m
2
, diện tích ngoài khu vực thu hồi (diện tích còn lại) 22,2m
2
.
UBND huyện Đ đã bồi thường cho gia đình ông Văn Đ tổng số tiền
955.468.638 đồng giao 01 đất tái định cư, diện tích 200m
2
tại Khu tái định
cư thuộc Khu phố M, phường H. Gia đình ông Đ đã nhận đủ số tiền bồi thường
đất tái định cư, không khiếu nại về việc thu hồi, bồi thường và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất.
[3] Về ý kiến ông Văn Đ cho rằng, diện tích đất còn lại của ông như
UBND cho rằng còn lại 15,6m
2
không đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của UBND thị Đ khẳng định rằng diện tích
15,6m
2
phần diện tích ông Đ xây dựng trái phép, còn phần diện tích trống,
chéo phía sau 6,6m
2
, tổng công 22,2m
2
. Lời trình bày của phía UBND
đúng, phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ.
[4] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện:
Ngày 26/10/2022, Chủ tịch UBND thị Đ ban hành Quyết định số
3397/QĐ-UBND về việc giao quyền cưỡng chế thi hành quyết định xphạt vi
phạm hành chính cho cấp Pthực hiện Quyết định số 3398/QĐ-UBND về
việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính. Nên ngày 10/01/2023, Phó Chủ tịch
UBND thị Đ ban hành Quyết định s276/QĐ-KPHQ buộc thực hiện biện
pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 1471/QĐ-CCXP ngày 16/3/2023 cưỡng
chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định số 1364/QĐ-ĐC
ngày 03/3/2023 về việc đính chính quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính
Quyết định số 1592/QĐ-ĐC ngày 24/3/2023 về việc đính chính quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đúng quy định tại khoản 2 Điều 38 Điều 54 của
Luật xử lý vi phạm hành chính.
Chủ tịch UBND thị xã Đ xác định ông Văn Đ có 03 hành vi vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai đó là:
10
- Chuyển 15,6m
2
đất trồng cây hàng năm khác sang đất phi nông nghiệp
(xây dựng nhà ở) tại khu vực nông thôn, không được quan nhà nước thẩm
quyền cho phép;
- Lấn, chiếm 23,5m
2
đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn để xây dựng
nhà (đất trong phạm vi đã thu hồi, bồi thường để thực hiện dự án Tuyến nối
Quốc lộ A (Đ) đến Khu công nghiệp H - giai đoạn 1, ngoài chỉ giới đường đỏ);
- Chiếm dụng 14,5m
2
đất của đường bộ để xây dựng nhà ở.
Như vậy, hành vi vi phạm hành chính nêu trên của ông Lê Văn Đ đã vi phạm
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 11; điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số
91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai vi phạm quy định tại điểm a khoản 9 Điều 12 Nghị định
100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đường sắt. Do đó, Chủ tịch UBND
thị Đ đã xử vi phạm hành chính đối với ông Văn Đ căn cứ. Tuy
nhiên, do hết thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại
khoản 1 Điều 66 Luật xử vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên
Chủ tịch UBND thị xã Đ đã ban hành Quyết định số 267/QĐ-KPHQ ngày
10/01/2023 buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lê Văn Đ
đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28; điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi
phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Do ông Lê Văn Đ không tự nguyện chấp hành Quyết định buộc thực hiện
biện pháp khắc phục hậu quả nên Chủ tịch UBND thị Đ ban hành Quyết định
cưỡng chế 1471/QĐ-CCXP ngày 16/3/2023, buộc thực hiện biện pháp khắc phục
hậu quả đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 của Luật xử vi phạm
hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
[5] Về trình tự, thủ tục ban hành và nội dung quyết định hành chính bị kiện:
Khi kiểm tra phát hiện ông Văn Đ xây dựng công trình trái phép trên
phần diện tích đất đã được Nhà nước thu hồi, bồi thường trên phần diện tích
đất HNK còn lại chưa thu hồi 22,2m
2
tại Tuyến nối Quốc lộ A đến Khu công
nghiệp H thuộc khu phố P, phường H nên UBND H đã lập Biên bản vi phạm
hành chính số 06/BB-VPHC ngày 30/3/2020 đối với ông Lê Văn Đ, đồng thời
tiến hành xác minh vụ việc.
Ngày 07/4/2020, UBND phường H đã làm việc với đơn vị nhận thầu xây
dựng công trình cho ông Lê Văn Đ để giải thích việc xây dựng công trình trên
vị trí đất này hành vi vi phạm, đồng thời vận động chấp hành theo quy định
pháp luật.
Ngày 07/5/2020, UBND xã H ban hành Thông báo số 26/TB-UBND về việc
yêu cầu ông Văn Đ dừng việc xây dựng công trình trên thửa đất s291, t
bản đồ 378C thuộc khu phố P.
Ngày 19/5/2020, UBND H Bắc làm việc với 04 hộ dân trong đó hộ
ông Văn Đ (BL-137), tại buổi làm việc này ông Đ ý kiến:“Tôi biết việc
chuyển đổi mục đích là không được nên tôi chỉ xây dựng tạm để buôn bán, không
phải xây dựng nhà ở”.
11
Ngày 06/7/2020, UBND phường H tiếp tục ban hành Thông báo số 41/TB-
UBND về việc yêu cầu ông Văn Đ dừng việc xây dựng công trình trên thửa
đất số 291, tờ bản đồ 378C thuộc khu phố P.
Ngày 15/7/2020, UBND phường H tiếp tục vận động ông Văn Đ dừng
xây dựng nhà, công trình tại Tuyến nối Quốc lộ A đến Khu công nghiệp, tự tháo
dỡ ng trình nhà (BL 134). Nhưng ông Văn Đ vẫn cố tình xây dựng hoàn
thiện nhà kiên cố, gồm một trệt, một lầu như Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ
ngày 21/6/2023 đã tả. Tại Biên bản định giá ngày 21/7/2023 Hội đồng định
giá kết luận tổng giá trị công trình xây dựng với số tiền 284.934.592 đồng nhưng
gia đình ông Đ không đồng ý và cho rằng giá xây dựng 600.000.000 đồng.
Tại phiên tòa ông Văn Đ thừa nhận ông hành vi lấn chiếm đất hành
lang đường bộ xây dựng công trình nhà ông Đ biết diện tích đất còn lại
của gia đình ông sau khi thu hồi không chuyển được mc đích sử dụng nhưng ông
vẫn cố tình xây dựng hoàn thiện công trình kiên cố không chấp hành quy
định pháp luật mặc dù đã được UBND phường H vận động nhiều lần.
Từ những phân tích, lập luận chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm xbác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Văn Đ căn cứ đúng pháp luật; kháng cáo của người khởi kiện Văn Đ
không sở, không tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi bản chất nội dung
vụ án nên không được chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết
định của Bản án sơ thẩm.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không chấp nên ông Lê Văn
Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính: Bác kháng cáo của
người khởi kiện ông Lê Văn Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2
Điều 116; Điều 157; Điều 158; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 348;
Điều 358; Điều 366 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường v
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 38; Điều 54; Điều 58; Điều
65; Điều 66; Điều 87 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm
2020); Đ2 a khoản 4 Điều 11, điểm a khoản 7 Điều 14 Nghị định số 91/2019/NĐ-
CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai; điểm a khoản 9; điểm đ khoản 10 Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP
ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ và đường sắt.
12
Tuyên xử:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Văn Đ đối với
các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 276/QĐ-KPHQ ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Chủ
tịch UBND thị xã Đ về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
- Hủy Quyết định số 1471/QĐ-CCXP ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Chủ
tịch UBND thị xã Đ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu
quả.
- Hủy Quyết định số 1364/QĐ-ĐC ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Chủ tịch
UBND thị xã Đ về việc đính chính quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.
- Hủy Quyết định số 1592/QĐ-ĐC ngày 24/3/2021 của Chủ tịch UBND thị
xã Đ về việc đính chính quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính.
Vì không có căn cứ pháp luật.
Về án phí hành chính phúc thẩm: ông Văn Đ phải chịu 300.000 đồng tiền
án phí hành chính phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp
tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0003601 ngày 06/10/2023 của Cục Thi hành án
dân sự tỉnh Phú Yên.
Các quyết định khác của Bản án sơ thảm không có kháng cáo kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhn:
- TAND ti cao;
- VKSND cp cao ti Đà Nẵng;
- TAND tnh Phú Yên;
- VKSND tnh Phú Yên;
- Cc THADS tnh Phú Yên;
- Những người tham gia t tng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CH TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyn ng
Tải về
Bản án số 164/2024/HC-PT Bản án số 164/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 164/2024/HC-PT Bản án số 164/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất