Bản án số 155/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 155/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 155/2026/HS-PT ngày 15/09/2026 của TAND TP. Cần Thơ
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 155/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Xét xử phúc thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 155/2026/HS-PT Bản án số 155/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 155/2026/HS-PT Bản án số 155/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 155/2026/HS-PT
Ngày 15 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Dũng
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký viên Tòa án
nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Lê Hồng Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182/2026/TLPT-HS
ngày 13 tháng 8 năm 202 đối với bị cáo Nguyễn Minh N, Nguyễn Hoàng Đ1 do
có kháng cáo của Nguyễn Minh N với tư cách là bị cáo và với tư cách là bị hại
đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Minh N, sinh ngày 02-02-1991 tại thành phố Cần Thơ; địa chỉ:
khu vực T, phường N, thành phố Cần Thơ nay là khu vực T, phường N, thành
phố Cần Thơ; nghề nghiệp: tổ An ninh trật tự cơ sở; trình độ học vấn: 10/12;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông
Nguyễn Văn N1 và bà Trần Thị P; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án:
không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị cáo bị kháng cáo:
Đặng Hoàng Đ1, sinh ngày 02-01-1993 tại Phường N, thành phố Cần Thơ;
địa chỉ: khu vực T, phường N, thành phố Cần Thơ; nay là khu vực T, phường N,
thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch:
Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Đặng Hùng M
và bà Tăng Thị V; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền án: không; tiền sự:
không.
2
Nhân thân: Ngày 16-3-2020, bị Công an huyện M (cũ) xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, mức phạt 2.500.000 đồng, theo
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 40/QĐ-XPHC ngày 16/3/2020, đã
chấp hành nộp phạt ngày 06-4-2020. Bị cáo tại ngoại (vắng mặt tại phiên tòa).
- Bị hại có kháng cáo (đồng thời là bị cáo có kháng cáo):
Ông Nguyễn Minh N, sinh ngày 02-02-1991.
Nơi cư trú: Khu vực T, phường N, thành phố Cần Thơ. Nay là khu vực T,
phường N, thành phố Cần Thơ (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 15-2-2025 bị cáo Đặng Hoàng Đ1 đến nhà bà
Nguyễn Thị Xuân Đ2 dự tiệc uống rượu cùng với bị cáo Nguyễn Minh N,
Nguyễn Hữu N2, Lê Chí V1 và một số người khác. Trong lúc dự tiệc, giữa bị
cáo Đặng Hoàng Đ1 với bị cáo Nguyễn Minh N xảy ra cự cãi qua lại, bị cáo
Đặng Hoàng Đ1 cầm ly thủy tinh đập xuống bàn làm cho mảnh vỡ thủy tinh
văng trúng vào vùng trán của bị cáo Nguyễn Minh N ra máu. Thấy vậy, mọi
người đã can ngăn thì bị cáo Nguyễn Minh N bỏ đi về nhà, khoảng 15 phút sau,
bị cáo Đặng Hoàng Đ1 cũng bỏ đi về nhà. Lúc này bị cáo Nguyễn Minh N ngồi
trước cửa nhà nhìn thấy bị cáo Đặng Hoàng Đ1 vừa đi về tới thì bị cáo Nguyễn
Minh N đi qua gặp bị cáo Đặng Hoàng Đ1 nói chuyện qua lại và hai bên tiếp tục
xô xát với nhau, khi đó được vợ chồng ông Nguyễn Minh L và bà Phan Thị T
đến can ngăn kịp thời nên không xảy ra đánh nhau nữa.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày 15-2-2025, Huỳnh Lê Thanh L1 đi đến gặp
bị cáo Đặng Hoàng Đ1 hỏi: “Có chuyện gì vậy?”, bị cáo Đặng Hoàng Đ1 trả lời:
“Thằng N đánh tao”. Nghe vậy thì Huỳnh Lê Thanh L1 liền đi đến gặp bị cáo
Nguyễn Minh N nói chuyện, hai bên dẫn đến xô xát với nhau. Huỳnh Lê Thanh
L1 dùng tay đánh vào bị cáo Nguyễn Minh N, do tức giận bị đánh nên bị cáo
Nguyễn Minh N liền chạy vào trong nhà lấy ra cây dao yếm (chiều dài 35 cm),
rồi chạy đuổi theo Huỳnh Lê Thanh L1. Khi thấy bị cáo N cầm dao thì L1 bỏ
chạy, nhảy qua hàng rào ranh đất đối diện nhà của bị cáo Nguyễn Minh N. Bị
cáo Nguyễn Minh N đuổi theo L1, nhảy qua hàng rào thì vướng dây kẽm nên bị
ngã, ông Nguyễn Minh L đến đỡ bị cáo N đứng dậy thì ông L bị rớt mất dép nên
quay đầu lại nhặt, bị cáo N đuổi thêm 01 đoạn đến phía trước chuồng gà (nơi mà
bị cáo Đặng Hoàng Đ1 đang ở) thì dừng lại. Khi thấy Huỳnh Lê Thanh L1 đã
chạy thoát thì bị cáo Nguyễn Minh N dừng lại rồi đi bộ theo hướng trở về nhà
3
của N. Lúc này bị cáo Đặng Hoàng Đ1 chạy vào chuồng gà lấy 01 cây dao chiều
dài 57 cm (cán dao dài 20 cm, lưỡi dao dài 37 cm, nơi rộng nhất 7,6 cm, nơi nhỏ
nhất 2,4 cm) chạy ra chém vào người của bị cáo Nguyễn Minh N theo hướng
xéo từ trên xuống. Bị cáo Nguyễn Minh N đưa tay trái lên đỡ và bị trúng vào cổ
tay trái gây thương tích. Theo Kết luận giám định số 71/KLTTCT-TTPYCT
ngày 18-02-2025 của Trung tâm pháp y thành phố C, thì bị hại Nguyễn Minh N
bị tổn thương qua kết luận giám định: Vết thương kèm sưng nề vùng trán phải
(vùng không có tóc che) đang lành; Vết thương phức tạp vùng cẳng – cổ tay trái
đứt gần lìa đoạn 1/3 dưới cẳng tay trái đang lành. Kết luận: Căn cứ Thông tư số
22/2019/TT-BYT, ngày 28-8-2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn
thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ
phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Minh N tại thời điểm giám định
là: 51% (Năm mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Theo Kết luận giám định số 2210/KL-KTHS, ngày 26-5-2025 của P1 - Bộ
C tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định mà bị cáo Đặng
Hoàng Đ1 sử dụng là cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen, có một
cạnh sắc có chiều dài là 57cm, (trong đó cán dài 20cm, lưỡi dao dài 37cm, nơi
rộng nhất là 7,6cm, nơi nhỏ nhất là 2,4cm) “là mã tấu, thuộc vũ khí thô sơ”.
Theo Kết luận giám định số 740/KL-KTHS, ngày 13-02-2026, của Phòng
K Công an thành phố C, kết luận: Mẫu vật gửi giám định (ký hiệu M) mà bị cáo
Nguyễn Minh N sử dụng là dao sắc, nhọn, chiều dài 35,5 cm, lưỡi dao bằng kim
loại sắc và nhọn chiều dài 22,5 cm, chiều rộng 5,2 cm, tay cầm được bao bọc và
cố định bằng gỗ chiều dài 13cm, thuộc “Danh mục dao có tính sát thương cao”.
- Tại Bản án số: 48/202/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí
quân dụng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 304, Điều 38, điểm e, điểm s khoản 1 Điều 51,
Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh N.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời
gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, Điều 38, điểm b,
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
Đặng Hoàng Đ1.
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng Đ1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố
ý gây thương tích” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình
4
phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp
hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự,
án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/7/2026 bị cáo Nguyễn Minh N đồng thời
là bị hại trong vụ án có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm.
Với tư cách là bị cáo: Bị cáo cho rằng bị cáo là tự vệ nên không phạm tội.
Với tư cách là bị hại: Nguyễn Minh N yêu cầu xem xét Đặng Hoàng Đ1
phạm tội có tổ chức cùng với Huỳnh Lê Thanh L1, Nguyễn Hữu N2.
Bị cáo đề nghị giám định 02 cây dao là vật chứng thu giữ của bị cáo và bị
cáo Đ1 vì cho rằng cây dao của bị cáo Đ1 được xác định là Vũ khí thô sơ còn
cây dao do bị cáo sử dụng lại xem dao sắc, nhọn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Bị cáo Nguyễn Minh N đồng thời là bị hại trong
vụ án giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm.
Thống nhất về tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo
Nguyễn Minh N. Xét thấy bị cáo Nguyễn Minh N kháng cáo là không có căn cứ.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356
của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn
Minh N. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đồng thời là bị hại Nguyễn Minh N có
đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của người kháng cáo phù hợp với quy định
tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được
xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với kháng cáo của bị cáo cho rằng bản thân chỉ tự vệ, không phạm
tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, xét thấy:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh N thừa nhận toàn bộ
hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Đối chiếu với lời khai của bị cáo
có trong hồ sơ vụ án cùng với lời khai của bị cáo Đặng Hoàng Đ1, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Lê Thanh L1, lời khai của người làm chứng
cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ
xác định:
5
Xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo Đặng Hoàng Đ1 và bị cáo Nguyễn
Minh N trong lúc dự tiệc trước đó dẫn đến cự cãi, xô xát nhau giữa hai bị cáo
nên vào khoảng 23 giờ cùng ngày 15-2-2025, Huỳnh Lê Thanh L1 đi đến gặp bị
cáo Đặng Hoàng Đ1 hỏi: “Có chuyện gì vậy?”, bị cáo Đặng Hoàng Đ1 trả lời:
“Thằng N đánh tao”. Nghe vậy thì Huỳnh Lê Thanh L1 liền đi đến gặp bị cáo
Nguyễn Minh N nói chuyện và kêu N “Sỉn rồi để sáng mai nói chuyện” nhưng N
trả lời “sỉn hay không, không liên quan đến này” nên Huỳnh Lê Thanh L1 dùng
tay đánh vào bị cáo Nguyễn Minh N, do tức giận bị đánh nên bị cáo Nguyễn
Minh N liền chạy vào trong nhà lấy ra cây dao yếm (chiều dài 35 cm), rồi chạy
đuổi theo rượt chém Huỳnh Lê Thanh L1 nhưng không trúng do bị cáo và L1
cùng té, sau khi đứng dậy, N tiếp tục rượt đuổi 01 đoạn nhưng L1 đã chạy thoát
nên N dừng lại rồi đi bộ theo hướng trở về nhà của N. Lúc này bị cáo Đặng
Hoàng Đ1 chạy vào chuồng gà lấy 01 cây dao chiều dài 57 cm (cán dao dài 20
cm, lưỡi dao dài 37 cm, nơi rộng nhất 7,6 cm, nơi nhỏ nhất 2,4 cm) chạy ra
chém vào người của bị cáo Nguyễn Minh N theo hướng xéo từ trên xuống.
Nguyễn Minh N đưa tay trái lên đỡ và bị trúng vào cổ tay trái gây thương tích
với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh N tại thời điểm giám
định là 51%.
Xét hành vi của Nguyễn Minh N dùng dao rượt chém Huỳnh Lê Thanh
L1 thấy rằng mặc dù L1 có đánh bị cáo N trước nhưng L1 chỉ dùng tay đánh một
cái vào người bị cáo N, không có thương tích gì, nhưng bị cáo chạy vào nhà lấy
con dao rượt đuổi chém L1. Do bị cáo bị vấp té, sau khi đứng dậy bị cáo tiếp tục
rượt đuổi nhưng L1 đã chạy thoát. Từ đó có căn cứ xác định bị cáo sử dụng dao
chủ động rượt đuổi theo L1 nhằm mục đích cố ý xâm phạm đến sức khỏe của L1
một cách trái pháp luật, việc không gây được thương tích cho L1 là do bị cáo bị
té nên sau đó đã không đuổi kịp và chém được L1. Do đó, bị cáo cho rằng hành
vi của bị cáo tự vệ là hoàn toàn không có căn cứ.
[2.2] Về xác định vũ khí quân dụng:
Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công
cụ hỗ trợ năm 2024 quy định về vũ khí quân dụng, tại điểm d có xác định vũ khí
quân dụng bao gồm: “Súng săn, vũ khí quy định tại điểm a khoản 4, vũ khí quy
định tại điểm a khoản 5 và dao có tính sát thương cao quy định tại khoản 6 Điều
này sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp
luật”; trong đó tại điểm a khoản 4 quy định vũ khí thô sơ bao gồm “Kiếm, giáo,
mác, thương, dao găm, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ,
phi tiêu thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ C ban hành và tại khoản 6 quy định
6
“Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng
Bộ C ban hành”.
Theo Kết luận giám định số 740/KL-KTHS, ngày 13-02-2026, của Phòng
K Công an thành phố C, kết luận: Mẫu vật gửi giám định (ký hiệu M) mà bị cáo
Nguyễn Minh N sử dụng là dao sắc, nhọn, chiều dài 35,5 cm, lưỡi dao bằng kim
loại sắc và nhọn chiều dài 22,5 cm, chiều rộng 5,2 cm, tay cầm được bao bọc và
cố định bằng gỗ chiều dài 13cm, thuộc “Danh mục dao có tính sát thương cao”.
Như vậy, hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao của bị cáo Nguyễn
Minh N với mục đích xâm phạm đến sức khỏe của người khác nêu trên đủ yếu
tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt
được quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự mà không cần bắt buộc
phải có hậu quả về thương tích xảy ra. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo
Nguyễn Minh N về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội,
không oan cho bị cáo.
[3] Đối với kháng cáo của Nguyễn Minh N với tư cách bị hại yêu cầu xem
xét phạm tội có tổ chức đối với hành vi của bị cáo Đặng Hoàng Đ1 và Huỳnh Lê
Thanh L1, Nguyễn Hữu N2, xét thấy xuyên suốt quá trình điều tra và giải quyết
tại cấp sơ thẩm, Nguyễn Minh N không trình bày về vấn đề này, cũng không có
bất kỳ chứng cứ xác định L1, N2 cùng đồng phạm với bị cáo Đặng Hoàng Đ1
trong việc cố ý gây thương tích cho Nguyễn Minh N, bởi Đ1 chém N là do bộc
phát khi nhìn thấy N cầm dao rượt đuổi chém L1, Đ1 mới vào chuồng gà lấy con
dao cầm đến chém N, hoàn toàn không có sự chuẩn bị từ trước, L1 hoàn toàn
không biết hành vi phạm tội của bị cáo Đ1. Do đó việc kháng cáo của bị cáo N
xem xét phạm tội có tổ chức của bị cáo Đ1 là không có căn cứ.
[4] Đối với kháng cáo của bị cáo N đề nghị giám định lại con dao của bị
cáo Đ1 và của bị cáo đã gây án, xét thấy quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, bị
cáo không có khiếu nại về các kết luận giám định. Việc giám định đã được
Phòng K Công an thành phố C thực hiện theo đúng quy định. Bị cáo kháng cáo
nhưng không đưa ra được căn cứ cho rằng kết luận giám định không thực hiện
đúng quy định nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
[5] Từ các phân tích trên, xét thấy bị cáo Nguyễn Minh N đồng thời cũng
là bị hại trong vụ án kháng cáo nhưng không đưa ra được các căn cứ để chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
7
[6] Phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
liên quan đến kháng cáo, Hội đồng xét xử không xem xét, có hiệu lực pháp luật
kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh N đề nghị xem xét
hành vi của bị cáo N không phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” và
không xem xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Minh N đề nghị xem xét đối với bị
cáo Đặng Hoàng Đ1 phạm tội có tổ chức. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số
48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 –
Cần Thơ.
1. Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 134, khoản 1 Điều 304, Điều 38, điểm b,
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Đặng Hoàng Đ1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt: bị cáo Đặng Hoàng Đ1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố
ý gây thương tích” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành hình
phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp
hành án.
2. Căn cứ: khoản 1 Điều 304, Điều 38, điểm e, điểm s khoản 1 Điều 51,
Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Minh N phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí
quân dụng”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (01-7-
2026).
Giao bị cáo Nguyễn Minh N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố
Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi
nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật thi
hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có
8
thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng Hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Minh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xem xét có hiệu lực kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
- VKSND TP. Cần Thơ;
- TAND KV7 – Cần Thơ;
- VKSND KV7 – Cần Thơ;
- Phòng THADS KV7 – TP. Cần Thơ;
- CQ CSĐT Công an TP. Cần Thơ;
- Phòng HSNV Công an TP. Cần Thơ;
- CQ THAHS Công an TP. Cần Thơ;
- Bị cáo;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thọ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 155/2026/HS-PT Bản án số 155/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 155/2026/HS-PT Bản án số 155/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất