Bản án số 152/2018/HS-PT ngày 14/08/2018 của TAND tỉnh Thanh Hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 152/2018/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 152/2018/HS-PT ngày 14/08/2018 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 152/2018/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 152/2018/HS-PT
Ngày 14/8/2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Dương Xuân Tuấn
Bà Hoàng Lan Phương
- Thư phiên toà: Trịnh Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thanh Hoá
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ s 90/2018/TLPT-HS ngày 28/5/2018 đối
với bị cáo Lê Xuân G do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm
số 12/2018/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện V,
tỉnh Thanh Hoá.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Xuân G, sinh năm 1967 tại xã H, huyện H, tỉnh T.
Nơi trú: thôn C, H, huyện H, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình
độ văn hoá: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt
Nam; con ông Xuân Q Đỗ Thị B (đều đã chết); vợ Thị L, 03
con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không;
nhân thân: ngày 20/4/1998, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội
xử phạt 03 năm tù về tội làm hàng giả; btạm gitừ ngày 28/12/2017 đến ngày
31/12/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại
ngoại. Có mặt.
Ngoài ra còn 04 bị cáo khác không kháng cáo cũng không bị
kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu trong hồ diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h50
ngày 28/12/2017, sau khi liên hoan uống rượu tại gia đình
Nguyễn Văn L thôn 9, V, huyện V, thì Nguyễn Bá G, Lê Xuân G, Văn
D, Minh K, Nguyễn Văn L rủ nhau sang nhà bà Thị H để thăm nhà mới,
trong khi ngồi uống nước thấy gia đình H không ai nhà, Xuân G đã
rủ mọi người đánh bài ăn tiền, tất cả mọi người đều đồng ý, Nguyễn Văn L đi
mua bài, Nguyễn G trải chiếu, các đối tượng D, K, L, Xuân G, Nguyễn
G đánh bài dưới hình thức đánh liêng. Mỗi ván đóng nước 10.000đ, đánh tối
đa không quá 50.000đ một ván, đến khoảng 12h40’ thì bị Công an huyện V bắt
quả tang thu giữ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây và 6.620.000đ.
Tại bản án số: 12/2018/HS-ST ngày 18/4/2018 của Toà án nhân dân
huyện V đã quyết định:
Tuyên bố: Xuân G, Nguyễn Văn L, Nguyễn G, Văn D,
Minh K phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật
Hình sự 1999. Xử phạt Xuân G 07 tháng tù, được trừ 03 ngày tạm giữ, còn
phải chấp hành 06 tháng 27 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ
ngày bắt thi hành án. Phạt tiền Lê Xuân G 6.000.000đ.
Ngoài ra, Toà án thẩm n xử phạt các bị o khác từ 07 tháng cải tạo
không giam giữ đến 07 tháng tù cho hưởng án treo. Quyết định xử vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/4/2018,Xuân G kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: Sau khi
phạm tội bị o đã ăn năn, hối hận, bị cáo thời gian phục vụ trong quân đội,
Hội cựu chiến binh H, huyện H đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo có
trách nhiệm giúp đỡ hội viên Xuân G trở thành người tốt, bcáo đã nộp toàn
bộ hình phạt bổ sung án phí thẩm, các tình tiết mới. Đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Xuân G, giữ nguyên hình phạt
và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ ván đã
được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 12h40’ ngày 25/10/2017, Công an huyện V bắt quả tang tại
gia đình Thị H tại thôn 9, V, huyện V, tỉnh T, Xuân G cùng 04 bị
cáo khác đánh bạc bằng hình thức đánh liêng, thu trên chiếu bạc số tiền
6.620.000đ.
3
Do có hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử Lê Xuân G về tội đánh bạc
chính xác, đúng người đúng tội, căn cứ pháp luật. Xuân G chkháng
cáo xin hưởng án treo.
[2] Khi quyết định hình phạt, Tán cấp thẩm xem xét tình tiết giảm
nhẹ: Bị cáo Lê Xuân G thành khẩn khai báo, là tình tiết giảm nhẹ được quy định
tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt Xuân G 07 tháng
căn cứ, tương xứng với hành vi, vai trò của bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án
này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, sau khi liên
hoan uống rượu thì các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc. Về nhân thân Xuân G
năm 1997 bị xử phạt 03 năm về tội làm hàng giả (làm xi măng giả), bị cáo đã
chấp hành xong toàn bộ bản án tính đến ngày phạm tội trên 17 năm, bị cáo đã
được xoá án tích, lần phạm tội này tính chất, mức độ ít nghiêm trọng (đồng
phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không nhiều, thu trên chiếu bạc trong người
các bị cáo 6.620.000đ, nhất thời phạm tội). Hơn nữa, bị cáo thời gian tham
gia quân đội, hiện nay cựu chiến binh đang sinh hoạt tại Hội cựu chiến binh
H, huyện H, Hội cựu chiến binh H đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh
Hoá cho bị cáo được hưởng án treo, trách nhiệm giúp đỡ giáo dục
Xuân G thành người tốt. Sau khi phạm tội, cũng như sau khi xét xthẩm,
tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình,
đã thực hiện xong hình phạt bổ sung hình phạt tiền 6.000.000đ tiền án phí
thẩm, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 46 Bluật
Hình sự được Toà án cấp phúc thẩm xem xét. Lê Xuân G không có tình tiết tăng
nặng, nơi trú ràng. Với các tình tiết được phân tích trên, Hội đồng xét
xử xét thấy Xuân G khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo
không gây nguy hiểm cho hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn
hội, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên
toà căn cứ. Xuân G kháng cáo xin hưởng án treo n cứ nên được
chấp nhận.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Lê Xuân G không phải chịu án phí phúc
thẩm. Lê Xuân G đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Lê Xuân G đã thi hành xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Xuân G, sửa bản án thẩm về hình
phạt.
* Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều
46; Điều 60; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự 1999. Điểm d khoản 2 Điều 23
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
4
* Xử phạt:
- Xuân G 07 (bảy) tháng về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Phạt tiền Xuân G 6.000.000đ sung quỹ Nhà nước (Lê Xuân G đã nộp
6.000.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2010/4018 ngày 14/8/2018 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện V).
Giao Xuân G cho Uỷ ban nhân dân H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá
giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp Lê Xuân G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Án phí thẩm: Xuân G đã nộp 200.000đ án phí thẩm theo biên
lai thu tiền số AA/2010/4018 ngày 14/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện V.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Cấp cao tại HN; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- TAND huyện V;
- VKSND huyện V;
- Chi cục THADS huyện V;
- Công an huyện V;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
Lê Thanh Hùng
Tải về
Bản án số 152/2018/HS-PT Bản án số 152/2018/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất