Bản án số 15/2020/KDTM-ST ngày 30/09/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng cho thuê hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2020/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2020/KDTM-ST ngày 30/09/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng cho thuê hàng hóa
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 2 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 15/2020/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2020
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUN 2
THÀNH PH H CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 15/2020/KDTM-ST
Ngày: 30-09-2020
V/v: Tranh chấp về hợp đồng cho
thuê hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Quốc Hưng
2. Bà Nguyễn Thị Chi.
- Thư phiên tòa: Thị Thu Phương Thư Tòa án nhân dân
Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên tòa:
Nguyễn Ngọc Bích Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành ph
Hồ Chí Minh đã xét xử thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý
số: 89/2019/TLST-KDTM ngày 12 tháng 12 năm 2019, về việc “Tranh chấp về
hợp đồng cho thuê hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
219/2020/QĐXXST-KDTM ngày 14 tng 9 năm 2020 Quyết định hoãn
phiên tòa số: 130/2020/QĐST-KDTM ngày 23 tháng 9 năm 2020, giữa các
đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TAP.
Địa chỉ: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pp của nguyên đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm:
1982; địa chỉ: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đại
diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số: 02/GUQ/2020).
Bị đơn: Công ty A.C..
Trụ sở: Đường A1, phường B1, quận C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Đỗ Thanh T vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), bị đơn vắng mặt
không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai các biên bản trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn Công ty TAP có ông Đỗ Thanh T đại diện trình bày:
Ngày 14/6/2018, nguyên đơn Công ty TAP (sau đây gọi tắt Công ty
TAP) và bị đơn Công ty A.C. (sau đây gọi tắt là Công ty A.C.)kết Hợp đồng
cho thuê thiết bị xây dựng số: 72/18/HĐCTTB (sau đây gọi tắt Hợp đồng) về
việc cho thuê thiết bị xây dựng. Trong Hợp đồng nêu trên, các bên thỏa thuận
phía nguyên đơn cho bị đơn thuê các thiết bị xây dựng, các bên còn thỏa thuận
về giá thuê, thời gian thuê, việc thanh toán tiền thuê, vận chuyển, quyền
nghĩa vụ giữa các bên…. Phía bị đơn đã đặt cọc số tiền 35.979.000 đồng cho
phía nguyên đơn để thuê thiết bị.
Thực hiện hợp đồng, phía nguyên đơn đã thực hiện việc giao các thiết bị
xây dựng đầy đủ theo thỏa thuận giữa các bên vào các đợt ngày 15/6/2018, ngày
16/6/2018, ngày 23/6/2018, ngày 01/7/2018, ngày 07/7/2018, tuy nhiên phía bị
đơn đã không thực hiện việc thanh toán tiền thuê đúng như thỏa thuận, cũng như
không trả lại các thiết bị xây dựng đã thuê cho nguyên đơn.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền thuê thiết btheo
giá đã thỏa thuận trong Hợp đồng từ ngày bắt đầu thuê thiết bị tính đến ngày
20/9/2019 là: 505.321.082 đồng, đồng thời phía nguyên đơn xác định ngày
21/9/2020 là thời điểm không tính tiền thuê và chuyển sang bồi thường theo quy
định tại Điều 5 của Hợp đồng. Do phía bị đơn không trả lại các thiết bị đã th
và hiện nay nguyên đơn không biết các tài sản cho thuê ở đâu, do đó nguyên đơn
yêu cầu bị đơn phải bồi thường do không trả các trang thiết bị đã thuê theo đơn
giá các bên thống nhất trong khoản 1.2 của Điều 1 Hợp đồng Bảng báo giá
cho thuê ngày 22/6/2018 với tổng số tiền là: 373.715.000 đồng. Tổng cộng,
nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền là: 879.036.082 đồng, sau khi trừ đi
khoản tiền 35.979.000 đồng phía bị đơn đã đặt cọc thì bị đơn còn phải trả cho
nguyên đơn là: 843.057.082 đồng, yêu cầu trả ngay sau khi bản án của Tòa án có
hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, phía nguyên đơn không có yêu cầu gì về tiền lãi.
Phía bị đơn Công ty A.C. đại diện theo pháp luật của Công ty A.C.
ông Hồ Anh T đã được Tòa án thực hiện việc thông báo về việc giải quyết vụ án
trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình
giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tham gia phiên a phát biểu ý
kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ vụ án cho đến tại phiên
tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án phía
nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Tuy nhiên, ngày 12/12/2019 Tòa án thụ lý vụ án, đến ngày 14/9/2020 Tòa
án mới ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử là vi phạm về thời hạn chuẩn bị
xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Hợp đồng cho thuê số: 72/18/HĐCTTB về
việc cho thuê thiết bị xây dựng được kết là sự tự nguyện thỏa thuận giữa c
3
bên, hình thức nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật nên phát
sinh hiệu lực pháp luật, ràng buộc quyền nghĩa vụ giữa các bên. Phía bị đơn
đã vi phạm các nghĩa vụ thanh toán tiền thuê trong Hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ
trả lại tài sản thuê, do đó căn cứ thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng, quy định
tại Điều 271, 274, 302, 303, 304 Luật Thương mại năm 2005 thì nguyên đơn
khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền thuê, tiền bồi thường tổng cộng là:
843.057.082 đồng sở, đề nghị Hội đồng xét xử chp nhận toàn bộ yêu
cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản tiền do bị đơn
vi phạm Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng, cả nguyên đơn và bị đơn đều là t
chức đăng kinh doanh kết Hợp đồng mục đích lợi nhuận, do đó
quan hệ tranh chấp trong vụ án này “Tranh chấp về hợp đồng cho thuê hàng
hóa, quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Ttụng dân s năm 2015. Bị đơn
Công ty A.C. trụ sở tại Quận 2, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Ttụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời hiệu khởi kiện: Phía nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét
về thời hiệu khỏi kiện, phía bị đơn vắng mặt không có lý do, đồng thời không có
văn bản yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn ckhoản 2
Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu
khởi kiện vụ án.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại
chúng về việc giải quyết vụ án cho bị đơn Công ty A.C. người đại diện theo
pháp luật của Công ty A.C. là ông Hồ Anh T.
Tuy nhiên, bị đơn Công ty A.C. và ông Hồ Anh T vẫn vắng mặt trong quá
trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa thẩm không do. Căn cứ
điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty A.C. và ông Hồ Anh T.
Đối với việc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Thanh T
đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vng mặt của ông T không ảnh hưởng
đến việc gii quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn.
Xét thấy đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Thanh T
đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Công ty A.C. đại diện theo pháp luật ông
Hồ Anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1
4
Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt
tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về yêu cu khởi kiện ca nguyên đơn:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa
lời trình bày của phía nguyên đơn, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 14/6/2018, nguyên đơn Công ty TAP bị đơn Công ty A.C.
Hợp đồng kinh tế số 72-18/HĐCTTB về việc cho thuê thiết bị xây dựng. Trong
Hợp đồng nêu trên, các bên thỏa thuận phía nguyên đơn cho bị đơn thuê các
thiết bị xây dựng, các bên còn thỏa thuận về giá thuê, thời gian thuê, việc thanh
toán, quyền và nghĩa vụ giữa các bên…. Phía bị đơn đặt cọc cho nguyên đơn
số tiền 35.979.000 đồng để thuê thiết bị.
Căn cứ Giấy chứng nhận đăng kinh doanh của nguyên đơn, bị đơn thì
các bên đều các tổ chức đăng kinh doanh. Xét Hợp đồng nêu trên giữa
các bên tự nguyện, nội dung hình thức đúng với các quy định của pháp
luật, việc các bên ký kết Hợp đồng là hợp pháp nên có giá trị ràng buộc các bên
về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng.
Căn cứ các Phiếu xuất kho ngày 15/6/2018, ngày 16/6/2018, ngày
23/6/2018, ngày 01/7/2018, ngày 07/7/2018 của phía nguyên đơn, đủ sở
để xác định Công ty TAP đã thực hiện việc giao các thiết bị xây dựng cho bị đơn
Công ty A.C. theo nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng. Tuy nhiên, từ khi nhận
thiết bị xây dựng đến nay, phía bị đơn Công ty A.C. không thanh toán bất k
khoản tiền thuê thiết bị nào cho Công ty TAP, ng không trả lại các thiết bị
thuê cho phía nguyên đơn, do Công ty A.C. đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán
tiền thuê, trả lại tài sản thuê theo thỏa thuận tại điểm 5.2.5 và điểm 5.2.6 khoản
5.2, Điều 5 của Hợp đồng quy định tại Điều 271 Luật Thương mại năm 2005
về quyền và nghĩa vụ của bên thuê.
Căn cứ thỏa thuận của các bên tại Điều II của Hợp đồng thì thời gian thuê
được tính từ ngày nguyên đơn giao thiết bị đến ngày bị đơn hoàn trả lại thiết bị,
đến thời điểm hiện tại phía bị đơn vẫn chưa hoàn trả các thiết bị xây dng đã
thuê cho nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền thuê tính
từ ngày giao thiết bị xây dựng đến ngày 20/9/2020 theo đơn giá thỏa thuận trong
Hợp đồng với tổng số tiền thuê: 505.321.082 đồng là có cơ sở để chấp nhận.
Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả lại các thiết bị xây dng đã thuê
theo Hợp đồng, mặt khác theo thỏa thuận tại điểm 5.2.3, khoản 5.2, Điều 5 của
Hợp đồng thì khi xảy ra mất mát, hỏng, rủi ro thì phía bị đơn phải bồi
thường cho nguyên đơn theo đơn giá thiết bị xây dựng được ghi ti khoản 1.2
Điều 1 của Hợp đồng, phía nguyên đơn cũng xác định thời gian không tính tiền
thuê và chuyển sang bồi thường là ngày 21/9/2020. Do đó, vic nguyên đơn yêu
cầu bị đơn phải bồi thường số tiền 373.715.000 đồng tương đương với giá trị
thiết bị xây dựng đã cho thuê theo đơn giá quy định tại khoản 1.2 Điều 1 của
Hợp đồng phù hp với quy định tại Điều 274, Điều 302, Điều 303, Điều 304
Luật Thương mại năm 2005.
5
Đối với khoản tiền đặt cọc 35.979.000 đồng, nguyên đơn đồng ý trừ vào
các khoản tiền bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn. Do đó, số tiền bị đơn phải
trả cho nguyên đơn là: (505.321.082 đồng + 373.715.000 đồng) - 35.979.000
đồng = 843.057.082 đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh tn đã lâu nên
việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phi trả toàn bsố tin nêu trên ngay sau khi
bản án hiệu lực pháp luật sở đchấp nhận. Phía nguyên đơn không
yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của đi din Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 tại phiên tòa
hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận tn bộ yêu cầu
của nguyên đơn Công ty TAP, buộc bị đơn Công ty A.C. phải trả cho Công ty
TAP số tiền là: 843.057.082 đồng ngay sau khi bn án của Tòa án hiệu lực
pháp luật.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo:
Về án phí thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ
nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn
không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Về quyền kháng cáo: Các đương s quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt,
thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, khoản 2 Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điu 271, Điều
273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 271, 274, 302, 303, 304 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc bị đơn Công ty A.C. phải thanh toán cho Công ty TAP số tiền :
843.057.082 đồng (Tám trăm bốn mươi ba triệu, không trăm năm mươi bảy
6
nghìn, không trăm tám mươi hai đồng) ngay khi bản án của Tòa án hiệu lực
pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi nh án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Án phí kinh doanh thương mại thẩm là 37.291.712 đồng (Ba mươi bảy
triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn, bảy trăm mười hai đồng) bị đơn Công ty
A.C. phải chịu. Công ty A.C. chưa nộp án phí.
Hoàn lại cho Công ty TAP số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 14.275.376
đồng (Mười bốn triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn, ba tm bảy mươi sáu
đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0027119 do Chi cc Thi
hành án dân sự Quận 2 lập ngày 12/12/2019.
3. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, nời phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hin theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Công ty TAP, Công ty A.C. có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc ktừ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm
yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 2;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ – VP.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trung Thực
Tải về
Bản án số 15/2020/KDTM-ST Bản án số 15/2020/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất