Bản án số 144/2026/HS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 144/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 144/2026/HS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 144/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Hữu N và ĐP
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 144/2026/HS-PT Bản án số 144/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 144/2026/HS-PT Bản án số 144/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 144/52026/HS-PT
Ngày: 16-7-2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nam
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Bích Du - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2026/TLPT-HS
ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với các bcáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T,
Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hồng N1Quốc V do có kháng
cáo của các bị cáo N, T, Á, T1, N1, V đối với Bản án hình sự thẩm số:
08/2025/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 -
Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Hữu N (tên gọi khác: N Đầu R), sinh ngày 02 tháng 05 m
1981 tại tỉnh Tây Ninh; Căn cước công dân số: ************, cấp ngày
23/6/2025; Nơi thường trú: số D ấp B, xã N, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện tại: số D
ấp B, xã N, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: chăn nuôi; Trình độ văn hóa (học vấn):
06/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1953 Đỗ Ngọc G, sinh năm 1957; Vợ:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Con: 02 người con, con lớn sinh năm 2004,
con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: không; Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Bị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xử phạt 8.000.000
đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 09/HSST ngày 27/9/2017.
- Bị Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng vhành vi
“Đánh bạc” theo Quyết định số 18 ngày 25/5/2023.
2
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
07/4/2025 đến ngày 21/11/2025; Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Vũ T (tên gọi khác: Tuấn M), sinh ngày 10 tháng 12 năm 1985
tại tỉnh Tây Ninh; Căn cước công dân số: ************. Nơi thường trú và chỗ
hiện nay: ấp B, N, tỉnh Tây NinhNghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá
(học vấn): 08/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch:
Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1961 (đã chết) bà Nguyễn
Thị Q, sinh năm 1963; Vợ: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không;
Nhân thân: Bị Công an huyện T, tỉnh Long An xử phạt 1.500.000 đồng
theo Quyết định số 461 ngày 11/3/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 23/3/2025 chuyển tạm
giam đến ngày 11/6/2025 thì được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; mặt tại
phiên tòa.
3. Phương Minh Á (tên gọi khác: Khanh T2), sinh ngày 14 tháng 7 năm
1972 tại tỉnh Tây Ninh; Căn cước công dân số: ************, cấp ngày
15/11/2021; Nơi thường trú: số 75a C, Khu phố C, phường L, tỉnh Tây Ninh;
Nơi ở hiện tại: số E, Đường số I, khu I, phường L, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp:
lái xe; Trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn
giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phương T3, sinh năm 1949 (đã
chết) Thị Q1, sinh năm 1950; Vợ: Thị Hoàng O, sinh năm 1972;
Con: 05 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền
án: không; Tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
07/4/2025 đến ngày 21/11/2025; Có mặt tại phiên tòa.
4. Quốc V (tên gọi khác: H1), sinh ngày 24 tháng 12 năm 2003 tại
tỉnh Tây Ninh; n cước công dân số: ************, cấp ngày 26/4/2021; Nơi
thường trú: số B, ấp B, N, tỉnh Tây Ninh; Nơi hiện tại: số B, ấp B, N,
tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: thợ bạc; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân
tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Văn T4, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1977; Vợ: Trần Thị
H2, sinh năm 2004; Con: có 01 người con, sinh năm 2024; Tiền án: không; Tiền
sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
07/4/2025 đến ngày 21/11/2025; Có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Văn T1, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Tây Ninh;
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 22/11/2022; Nơi thường trú: ấp
T, K, tỉnh Tây Ninh (trước đây xã H, huyện V, tỉnh Long An; Nơi hiện
tại: ấp A, T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá (học
vấn): 8/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt
Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961 Nguyễn Thị Đ, sinh năm
1964; Vợ: Trần Thị Bảo X (đã ly hôn); Con: 01 người; Tiền án: không; Tiền sự:
không;
3
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 23/3/2025 chuyển tạm
giam đến ngày 11/6/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; mặt tại
phiên tòa.
6. Nguyễn Hồng N1, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1975 tại tỉnh Tây Ninh;
Căn cước công dân số: ************, cấp ngày 29/5/2024; Nơi thường trú: ấp
A, xã T, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện tại: ấp A, xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp:
công nhân; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam;
Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1948
(đã chết) và bà Ngô Thị N2, sinh năm 1952; Vợ: Dương Thị T5, sinh năm 1975;
Con: 02 người con, sinh năm 1997 năm 2006; Tiền án: không; Tiền sự:
không;
Nhân thân: Bị a án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt
04 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 16/HSST ngày 27/4/2021.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2025 đến ngày 23/3/2025 chuyển tạm
giam đến ngày 11/6/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh; mặt tại
phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo hoặc không
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2025, bị cáo Nguyễn Hữu N (Nghĩa Đầu R) cùng
với bị cáo Nguyễn Vũ T, bị cáo Nguyễn Minh T6, bị cáo Nguyễn Ngọc K (Tuấn
K1), bị cáo Văn Đ1 bàn bạc thống nhất cùng nhau tổ chức đá thắng thua
bằng tiền để lấy tiền “xâuchia nhau tiêu xài. Cả nhóm thống nhất bị cáo N
chuẩn bị địa điểm, băng keo, cân đồng hồ, tấm nhựa trong suốt và các công cụ
khác phục vụ cho việc tổ chức đá gà, đồng thời N cũng điện thoại rủ rê, lôi kéo
các con bạc đến tham gia đá quản tiền “xâu” thu được trong ngày; bị
cáo T nhiệm vụ rủ rê, lôi kéo các con bạc đến tham gia đá gà, cáp độ, cân
làm trọng tài các trận đá gà; bị cáo T6 nhiệm vụ sdụng tài khoản ngân
hàng của T6 để chuyển tiền thắng thua cho các con bạc khi không có tiền mặt; bị
cáo Đ1 nhiệm vụ phục vụ nước tắm gà, phát băng keo cho chủ dùng quấn
cựa sắt vào chân gà; bị cáo K nhiệm vụ đưa rước các đối tượng đến tham gia
đá gà. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 02/2025 đến ngày 12/3/2025, lợi
dụng việc nhà ông Nguyễn Minh C không người trông coi từ 10 giờ đến 17
giờ hàng ngày nên bị cáo N ng đồng phạm đã tổ chức hoạt động đánh bạc
thắng thua bằng tiền dưới nh thức đá tại sân nhà của ông C, các đối tượng
hoạt tập trung chủ yếu vào thứ 7 và chủ nhật, mỗi lần tổ chức từ 02 đến 08 trận
gà, số tiền cược mỗi trận từ 1.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng thu tiền
“xâu” là 5% trên tổng số tiền cược bên thắng, số lượng người tham gia cược
mỗi trận từ 10 đến 50 người. Đến ngày 12/3/2025, ông C người nhà phát
hiện N đồng phạm tổ chức đánh bạc tại sân nhà ông C nên đã tiến hành đẩy
4
đuổi, không cho tiếp tục hoạt động.
Trong ngày 12/3/2025, bị cáo T6 bị cáo N liên hệ thuê mướn sân nhà
Nguyễn Thị Thanh X1 tại ấp B, N, tỉnh Tây Ninh, mỗi ngày 300.000
đồng để tiếp tục tổ chức đá thắng thua bằng tiền. Sau khi thỏa thuận xong, bị
cáo Nguyễn Hữu N cùng đồng bọn bắt đầu dọn dẹp sân và chuẩn bị công cụ
(lưới lan, nước uống, băng keo, cựa gà,…) để tchức đánh bạc tại địa điểm nhà
của bị cáo X1 từ ngày 13/3/2025. Thời gian tổ chức đá từ khoảng 11 giờ đến
17 giờ các ngày trong tuần, tập trung chủ yếu vào thứ 7 chủ nhật, mỗi lần tổ
chức từ 02 đến 08 trận gà, số tiền cược mỗi trận t 1.000.000 đồng đến
70.000.000 đồng thu tiền “xâu” 5% trên tổng số tiền cược bên thắng, số
lượng người tham gia cược mỗi trận từ 10 đến 50 người. Bị cáo Nguyễn
Thị Thanh X1 đã nhận số tiền 300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Hữu N và bị cáo
Nguyễn Minh T6 từ hoạt động cho thuê sân nhà thuộc sở hữu, quản lý của bị cáo
X1 để làm địa điểm tổ chức đánh bạc.
Hằng ngày, sau khi tổ chức xong, bị cáo N lấy tiền “xâu” thu được trả tiền
công cho bị cáo T từ 200.000 đồng đến 1.600.0000 đồng, bị cáo K từ 200.000
đồng đến 1.000.0000 đồng, bị cáo Đ1 từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, bị cáo
T6 t100.000 đồng đến 300.000 đồng, bản thân bị cáo N hưởng lợi từ 200.000
đồng đến 1.800.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 02/2025 đến
ngày 15/3/2025, số tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc của các bị cáo
như sau: bị cáo Nguyễn Hữu N số tiền là 5.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn T
số tiền 6.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Minh T6 số tiền 1.800.000 đồng, bị
cáo Văn Đ1 số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Ngọc K số tiền
2.800.000 đồng. Trong ngày 16/3/2025, bị cáo N đồng phạm đã tổ chức 05
trận gà, thu lợi bất chính 5.400.000 đồng. Đến trận thứ 05 cũng trận
bị Công an bắt quả tang bị cáo N đồng phạm chưa lấy tiền “xâu”. Như
thường lệ vào khoảng 11 giờ ngày 16/3/2025, các bị cáo N, T, T6, Đ1 K tiếp
tục mang các dụng cụ đến nhà của bị cáo X1 để tổ chức đá thắng thua bằng
tiền và đã tổ chức được các trận gà cụ thể như sau:
Trận 1: bị o Nguyễn T cáp độ cho con gà, lông màu trắng (gà
bướm), cân nặng 3.2kg của bị cáo Võ Văn Đ1 đá với con gà lông màu vàng, đen
(gà chuối), cân nặng 3,150kg của người nam (không nhân thân, lai lịch) do bị
cáo N liên hệ hẹn gà, đá đồng sổ mỗi bên tham gia cược stiền 18.000.000
đồng. Tổng stham gia cược trần này 36.000.000 đồng. của bị cáo Đ1
do bị o Đ1 dùng băng keo quấn cựa sắt vào chân gà, thả và cược
6.000.000 đồng (bị cáo Đ1 khai nhận, trong đó bản thân Đ1 chtrực tiếp tham
gia cược số tiền 2.000.000 đồng, người nam tên T7 (không rõ nhân thân, lai lịch)
tham gia cược số tiền 1.000.000 đồng, còn 3.000.000 đồng do hai người thanh
niên (không nhân thân, lai lịch) tham gia cược). Số tiền cược còn lại
không xác định người tham gia, gà chuối không xác định người băng cựa, thả gà
cược, bị cáo T trực tiếp làm trọng tài trận này. Kết quả chuối
thắng, bị cáo Tuấn G1 của bị cáo Đ1 số tiền 6.000.000 đồng 12.000.000
đồng của những người khác để chung cho bên thắng cược lấy tiền “xâu”
900.000 đồng giao cho bị cáo N quản lý.
5
Trận 2: bị cáo Nguyễn T cáp độ cho con lông trắng (gà bướm) cân
nặng 3,4kg của bị cáo Phương Minh Á (K) đá với lông màu trắng, vàng (gà
úa) cân nặng 3,4kg của bị cáo Quốc V do N gọi đến, đá đồng sổ mỗi bên
tham gia cá cược số tiền 25.000.000 đồng. Tổng số tham gia cược trận này
50.000.000 đồng. Bên bướm của bị cáo Phương Minh Á do người nam tên
H4, không nhân thân, lai lịch ôm gà cho Minh Á băng ca, th gà, những
người tham gia cá cược gồm: bị cáo Phương Minh Á cá cược 5.000.000 đồng, bị
cáo Nguyễn Cường T8 cược 1.000.000 đồng, số tiền còn lại không xác định
ai tham gia. Bên úa của bị cáo Quốc V do bcáo Nguyễn Quốc D ôm
cho bị cáo V băng cựa và thả gà, những người tham gia cá cược gồm: bị cáo
Quốc V cược 18.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Quốc D cược 3.500.000
đồng, bị cáo Nguyễn Chí C1 cược 3.500.000 đồng, bị cáo T trực tiếp
làm trọng tài trận gà này. Kết quả úa của bị cáo V thắng, bị cáo Tuấn G1
của bị cáo Minh Á 5.000.000 đồng, bị o T8 1.000.000 đồng, còn lại
19.000.000 đồng gom của các con bạc khác không rõ lai lịch, rồi giao cho bị cáo
V và lấy tiền “xâu” là 1.300.000 đồng, đưa cho bị cáo N quản lý.
Trận này do bị cáo Nguyễn Chiến T9 người trực tiếp liên hệ với bị
cáo Nguyễn Hữu N (Nghĩa Đầu R) để hẹn gà cho bị cáo Quốc V bị cáo
Nguyễn Quốc D tham gia cá cược.
Trận 3: bị cáo Nguyễn T cáp độ cho con lông màu trắng, vàng (gà
úa), cân nặng 4kg của bị cáo Minh Á đá với gà lông màu xanh, đen (gà que), cân
nặng 4kg của người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) đá đồng sổ, mỗi bên tham
gia cược số tiền 34.000.000 đồng. Tổng số tham gia cược trần này là
68.000.000 đồng. Bên cánh của bị cáo Phương Minh Á do bị cáo Phương
Minh Á và người nam tên H4 (không nhân thân, lai lịch) băng cựa thả gà,
những người tham gia cược gồm: bị cáo Phương Minh Á cược 5.000.000
đồng, bị cáo Nguyễn Văn S1 cược 3.000.000 đồng, bị cáo Hồ Hoàng L
cược 500.000 đồng, bị cáo Phạm Thanh T10 cược 500.000 đồng, số tiền còn
lại không xác định đươc những ai tham gia. Bên phía que không xác định do
ai băng cựa, thả người tham gia cược. Bị cáo Vũ T trực tiếp làm trọng
tài trận này. Kết quả bị cáo Minh Á thua, bị cáo Tuấn G1 tiền của bị
cáo Minh Á 5.000.000 đồng, bị cáo S1 3.000.000 đồng, bị cáo L 500.000
đồng bị cáo T10 500.000 đồng, số tiền 25.000.000 đồng còn lại do bị cáo N
gom của những người tham gia khác không lai lịch giao lại cho bị cáo T
chung cho bên thắng cược, bị cáo T lấy tiền “xâu” trận này 1.700.000
đồng giao cho N quản lý.
Ngoài ra, trong trận gà này có ông Nguyễn Hoàng P1 và ông Huỳnh Ngọc
S2 trực tiếp tham gia các cược với nhau (đá hàng xáo, không thông qua trọng
tài, biện). Ông P1 tham gia cược vào con gà lông màu đỏ đen (gà que), cân
nặng 4kg, ông S2 bên gà lông màu trắng vàng (gà úa), cân nặng 4kg, với số tiền
cược là 1.000.000 đồng. Kết quả trận gà này gà lông màu đỏ đen (gà que) thắng,
ông P1 thu 1.000.000 đồng tiền thắng cược từ S2.
Trận 4: bị cáo Nguyễn T cáp độ cho con lông màu xanh, đen (gà
6
que), cân nặng 2,540kg của bị cáo Nguyễn Văn T1 đá với lông màu đỏ, đen
(gà điều), cân nặng 2,6kg của bị cáo Nguyễn Đại P2, do của bị cáo P2 nặng
hơn nên chấp của bcáo T1 10 ăn 7” sau đó lên “10 ăn 8” cuối ng
là “đá đồng sổ”, mỗi bên tham gia cá cược số tiền 30.000.000 đồng. Tổng số tiền
cá cược trận gà này 60.000.000 đồng. Bên gà que của bị cáo T1 do bị cáo T1 ôm
cho bcáo Nguyễn Hồng N1 băng cựa, thả gà, trong đó bị cáo Nguyễn Văn
T1 cược 17.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hồng N1 cược 1.000.000 đồng,
bị cáo Đặng Nhựt T11 cá cược 1.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Chí T12 cá cược
500.000 đồng, bị cáo Mai Văn L1 cá cược 500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Duy L2
cược 2.000.000 đồng, bị cáo Phước T13 cược 4.000.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Chí T14 cược 4.000.000 đồng. Bên điều của bị cáo P2, do bị cáo
P2 ôm gà cho bị cáo Huỳnh Bảo A băng cựa và thả gà vào đá, trong đó bị cáo P2
cược 1.000.000 đồng, bị cáo Huỳnh Bảo A cược 6.000.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Hoàng N3 cá cược 3.000.000 đồng, bị cáo Lê Hoàng S3 cá cược
2.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thanh T15 cược 2.000.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Hoàng S4 cá cược 8.000.000 đồng, bị cáo Phạm Tấn T16 cược
4.000.000 đồng, bị cáo Bùi Trần Hồng T17 cược 1.000.000 đồng, bị cáo
Văn H3 cá cược 1.000.000 đồng, bị cáo Ngô Văn N4 cá cược 1.000.000 đồng và
bị cáo Nguyễn Minh H4 cược 1.000.000 đồng. Bị cáo T trực tiếp làm
trọng tài trận gà này. Kết quả gà bên bị cáo T1 thắng, bị cáo Vũ Tuấn G1 số tiền
30.000.000 đồng của bên thua chung cho bên thắng bị cáo T lấy tiền
“xâu” là 1.500.000 đồng giao cho bị cáo N quản lý.
Trận 5: bị cáo Nguyễn T tiếp tục cáp độ cho con lông màu vàng,
trắng (gà úa), cân nặng 3,1kg của bcáo Minh Á đá với lông màu đỏ xanh,
đen (gà que) cân nặng 3,1kg của bị cáo Nguyễn Văn T1, đá đồng sổ mỗi bên
tham gia cược số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền cược trận này
10.000.000 đồng. của bị o Minh Á, do bị cáo Nguyễn Ngọc T18 vận
chuyển đem đến đá cược, ôm cho H4 (không nhân thân, lai lịch) băng
cựa, thả đá, bị cáo Minh Á cược 5.000.000 đồng. của bị cáo T1, do bị
cáo T1 ôm cho bị cáo Nguyễn Hồng N1 băng cựa, thgà, bị cáo T1 cược
5.000.000 đồng. Bị cáo T làm trọng tài, trong lúc hai con đang thả
chuẩn bị đá với nhau, thì lực lượng Công an đến bắt quả tang.
Tại Bản án hình sự thẩm s 08/2026/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Tây Ninh, đã xét xử:
Tuyên bố:
- Các bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
quy định tại điểm a và c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Phương Minh Á, Võ Quốc V, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hồng
N1 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 321 Bộ luật Hình
sự.
1. Về hình phạt:
1.1. Đối với bị cáo Nguyễn Hữu N (Nghĩa Đầu R)
7
Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Nguyễn
Hữu N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
1.2. Đối với bị cáo Nguyễn Vũ T (Tuấn M)
Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Nguyễn
T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành
án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2025 đến ngày
11/6/2025.
…1.7. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm
g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt
bị cáo Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp
hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2025 đến ngày
11/6/2025.
1.8. Đối với bị cáo Phương Minh Á (K)
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm
g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt
bị cáo Phương Minh Á 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp
hành án.
1.9. Đối với bị cáo Võ Quốc V (H1)
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều
17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Quốc V 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
…1.12. Đối với bị cáo Nguyễn Hồng N1
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản
1 Điều 52, Điều 50, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo
Nguyễn Hồng N1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp hành án,
được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2025 đến ngày
11/6/2025….
Ngoài ra, bản án thẩm còn xử phạt các bị cáo khác (29 bị cáo) về các
tội “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” và “Đánh bạc”; các biện pháp tư pháp, án phí,
quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 06, 09, 10, 11 12/02/2026, 06/35 bị cáo kháng cáo, gồm các bị
cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T, Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1, Quốc
V Nguyễn Hồng N1 xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T, Phương
Minh Á, Nguyễn Văn T1, Quốc V Nguyễn Hồng N1 thừa nhận hành vi
phạm tội đúng như Tòa án cấp thẩm đã xét xử xác định bị Tòa án cấp
thẩm xét xử Nguyễn Hữu N, Nguyễn T về tội “Tổ chức đánh bạc” đúng,
8
không oan. Bị cáo Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1, Quốc V Nguyễn
Hồng N1 thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về
tội “Đánh bạc” là đúng, không oan.
Các bcáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T, Phương Minh Á, Nguyễn Văn
T1, Quốc V Nguyễn Hồng N1 chỉ xin giảm nhẹ hình phạt xin hưởng
án treo.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về hình thức và thủ tục kháng cáo của các bị cáo trong thời gian luật định,
những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn Vũ T,
Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1, Võ Quốc VNguyễn Hồng N1 tại phiên tòa
phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng
cứ trong hồ vụ án đã có đcơ sở kết luận hành vi của bcáo Nguyễn Hữu
N, Nguyễn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1,
Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bcáo Phương Minh Á, Nguyễn
Văn T1, Quốc V Nguyễn Hồng N1 đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh
bạc” theo khoản 2, Điều 321 của Bộ luật Hình sự, do đó cấp thẩm xét xử các
bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T, Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1,
Quốc V Nguyễn Hồng N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt xin
hưởng án treo cung cấp những chứng cứ, tài liệu mới để xem xét. Tuy nhiên,
xét về tinh chất mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tan
toàn công cộng nên đề nghị Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của
các bị cáo, giữ nguyên hình phạt đối với các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
xin hưởng án treo.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các bcáo N, T, Á, T1, N1, V kháng cáo trong thời hạn
luật quy định nên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thụ xét xử vụ án theo thủ
tục phúc thẩm có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 340 344 của Bluật
Tố tụng Hình sự.
[2] Vnội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với
nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án nên sở xác định: vào
khoảng cuối tháng 02/2025 đến ngày 15/3/2025, các bị o Nguyễn Hữu N
(Nghĩa Đầu R) cùng với các bị cáo Nguyễn T, Nguyễn Minh T6, Nguyễn
Ngọc K (T), Văn Đ1 bàn bạc thống nhất cùng nhau tổ chức đá gà thắng thua
9
bằng tiền để lấy tiền “xâu” chia nhau tiêu xài, thu lợi bất chính số tiền
18.100.000 đồng. Từ ngày 13/3/2025, bcáo T6 bị cáo N liên hệ thuê mướn
sân nhà bị cáo Nguyễn Thị Thanh X1, mỗi ngày 300.000 đồng để tổ chức đá
thắng thua bằng tiền. Bị cáo X1 đã nhận số tiền 300.000 đồng từ hoạt động
cho thuê sân nhà thuộc sở hữu, quản của bị cáo X1 đlàm địa điểm tổ chức
đánh bạc.
Vào ngày 16/3/2025, các bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T, Nguyễn
Minh T6, Nguyễn Ngọc K, Võ Văn Đ1 tiếp tục tổ chức 05 trận đá gà thắng thua
bằng tiền tại sân nhà bà Nguyễn Thị Thanh X1 gồm:
Trận 1, tổng số tiền cá cược 36.000.000 đồng, đã điều tra làm được
01 người tham gia tổng số tiền đánh bạc 2.000.000 đồng còn lại 34.000.000
đồng không xác định được người tham gia. Trận 2, tổng số tiền cược
50.000.000 đồng, đã điều tra làm được 05 người tham gia tổng số tiền đánh
bạc 31.000.000 đồng, còn lại 19.000.000 đồng không xác định được người
tham gia. Trận 3, tổng số tiền cược 68.000.000 đồng, đã điều tra làm
được 04 người tham gia tổng s tiền đánh bạc là 9.000.000 đồng, còn lại
59.000.000 đồng không xác định được người tham gia. Trận 4, tổng số tiền
cược là 60.000.000 đồng, đã điều tra làm rõ được 19 người tham gia tổng số tiền
đánh bạc 60.000.000 đồng. Trận 5, tổng số tiền cược 10.000.000 đồng
đã điều tra làm được 04 người tham gia tổng số tiền đánh bạc 10.000.000
đồng. Trận th5 trong lúc 02 con đã băng cựa chuẩn bị thả đá với nhau,
thì bị bắt quả tang.
Tổng số tiền cược 05 trận đá trên 224.000.000 đồng, thu lợi bất
chính số tiền 5.400.000 đồng. Cụ thể các bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình
thức đá gà thắng, thua bằng tiền các trận gà nêu trên như sau:
+ Bị cáo tham gia 01 trận đá gà (trận 1 tổng số tiền cá cược là 36.000.000
đồng): bị cáo Võ Văn Đ1 cá cược 2.000.000 đồng.
+ Các b cáo tham gia 01 trận đá (trận 2 tổng số tiền cá cược
50.000.000 đồng) gồm: bị cáo Nguyễn ờng T8 cược 1.000.000 đồng, bị
cáo Võ Quốc V các cược 18.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Quốc D cược
3.500.000 đồng, bị cáo Võ Nguyễn Chí C1 cược 3.500.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Chiến T9 không tham gia cược, nhưng người trực tiếp liên hệ với
bị cáo Nguyễn Hữu N để hẹn cho bị cáo Quốc V bị cáo Nguyễn Quốc D
tham gia cá cược.
+ Các b cáo tham gia 01 trận đá (trận 3 tổng số tiền cá cược
68.000.000 đồng) gồm: bị cáo Nguyễn Văn S1 cược 3.000.000 đồng, bị cáo
Hồ Hoàng L cược 500.000 đồng, bị cáo Phạm Thanh T10 cược 500.000
đồng.
+ Các b cáo tham gia 01 trận đá (trận 4 tổng số tiền cá cược
60.000.000 đồng) gồm: bị cáo Đặng Nhựt T11 cược 1.000.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Chí T12 cược 500.000 đồng, bị cáo Mai Văn L1 cược 500.000
đồng, bị cáo Nguyễn Duy L2 cược 2.000.000 đồng, bị cáo Phước T13
10
cược 4.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Chí T14 cược 4.000.000 đồng, bị cáo
Nguyễn Đại P2 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Huỳnh Bảo A cược
6.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hoàng N3 cược 3.000.000 đồng, bị cáo
Hoàng S3 cược 2.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thanh T15 cược
2.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hoàng S4 cá cược 8.000.000 đồng, bị cáo Phạm
Tấn T16 cá cược 4.000.000 đồng, bị cáo Bùi Trần Hồng T17 cược 1.000.000
đồng, bị cáo Văn H3 cược 1.000.000 đồng, bị cáo Ngô Văn N4 cược
1.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Minh H4 cá cược 1.000.000 đồng.
+ Các b cáo tham gia 01 trận đá (trận 5 tổng số tiền cá cược
10.000.000 đồng): bị cáo Nguyễn Ngọc T18 không tham gia cược, nhưng
hành vi trực tiếp hỗ trợ bị cáo Phương Minh Á trong việc vận chuyển 01 con
đá có đặc điểm lông màu vàng trắng (gà úa), trọng lượng 3,1 kg đến địa điểm tổ
chức đánh bạc và thực hiện hành vi ôm gà để băng cựa.
+ Các b cáo tham gia 02 trận đá (trận 4 tổng số tiền cá cược
60.000.000 đồng và trận 5 tổng số tiền cá cược là 10.000.000 đồng) gồm: bị cáo
Nguyễn Văn T1 cá cược trận 4 số tiền 17.000.000 đồng và cá cược trận 5 số tiền
5.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hồng N1 cược trận 4 số tiền 1.000.000 đồng
và trận 5 Nam không tham gia cá cược nhưng là người băng cựa, thả gà.
+ Các b cáo tham gia 03 trận đá (trận 2 tổng số tiền cá cược
50.000.000 đồng, trận 3 tổng số tiền cược 68.000.000 đồng trận 5 tổng
số tiền cược là 10.000.000 đồng): bị cáo Phương Minh Á tham gia cược
trận số 2, 3, 5, mỗi trận cá cược số tiền 5.000.000 đồng.
[3] Do đó, Bản án hình sự thẩm số 08/2026/HS-ST ngày 06-02-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 Tây Ninh đã xét xử các bị cáo Nguyễn Hữu N,
Nguyễn T, Nguyễn Minh T6, Nguyễn Ngọc K về tội “Tổ chức đánh bạc”
quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; b cáo Văn
Đ1 về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ
luật Hình sự tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
bị cáo Nguyễn Thị Thanh X1 về tội “Gá bạc” quy định tại điểm b, điểm c khoản
1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phương Minh Á, Nguyễn Cường T8,
Quốc V, Nguyễn Quốc D, Nguyễn Chí C1, Nguyễn Chiến T9, Nguyễn Văn
S1, Hồ Hoàng L, Phạm Thanh T10, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Hồng N1, Đặng
Nhựt T11, Nguyễn Chí T12, Mai Văn L1, Nguyễn Duy L2, Phước T13,
Nguyễn Chí T14, Nguyễn Đại P2, Huỳnh Bảo A, Nguyễn Hoàng N3, Hoàng
S3, Nguyễn Thanh T15, Nguyễn Hoàng S4, Phạm Tấn T16, Bùi Trần Hồng T17,
Văn H3, Ngô Văn N4, Nguyễn Minh H4 về tội “Đánh bạc” quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật nh sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T18 về
tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Hành vi nêu trên của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây
ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng luận
xã hội nên phải bị xử lý nghiêm khắc mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị
cáo và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Xét kháng cáo của các bị cáo:
11
[5.1] Đối với các bị cáo Nguyễn Hữu N Nguyễn T những người
đứng ra tổ chức cho các con bạc đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền để lấy
xâu, trong đó Nghĩa là người cầm đầu, rủ con bạc; còn T làm trọng tài, trực
tiếp thu tiền cho các trận đá gà. Xét về nhân thân N T đều nhân thân từng
bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính, lần phạm tội này thuộc trường hợp
nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1,
Điều 322 là 05 năm tù). Do đó, án sơ thẩm xử phạt bị cáo N 02 năm tù và bị cáo
T 01 năm 06 tháng tù là có căn cứ, đáp ứng được tình hình mất an ninh trật tự tại
địa phương. Các bị cáo N và T kháng cáo có cung cấp được những tình tiết giảm
nhẹ như N nội mẹ Việt Nam Anh hùng; ngoại người công. Bị
cáo T ông ngoại Liệt Nguyễn Văn B1 nhưng cũng tình tiết giảm nhẹ
tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không căn cứ
xem giảm nhẹ trách nhiệm hình sự c bị cáo N T cũng không đủ điều
kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội
đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các b cáo Nguyễn Hữu N
Nguyễn Vũ T như quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã
phát biểu tại phiên tòa.
[5.2] Đối với bị cáo Võ Quốc V tham gia 01 trận gà nhưng sát phạt số tiền
18.000.000 đồng trong trận 2, tổng số tiền ăn thua 50.000.000 đồng; người
rủ các bcáo khác T9 C1 đi đánh bạc. Cấp thẩm xử phạt mức khởi
khung hình phạt 03 năm là căn cứ. Bị cáo V kháng cáo cung cấp giấy
xác nhận vợ bị cáo người khuyết tật, nộp tiền thu lợi bất chính tiền dùng
vào việc đánh bạc 43.700.000 đồng. Tuy nhiên, cũng tình tiết được quy
định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình snên không căn cứ giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo V và cũng không chấp nhận cho bị cáo V hưởng án treo.
[5.3] Đối với bị cáo Nguyễn Hồng N1 tham gia 01 trận số tiền
1.000.000 đồng trong trận 4, tổng số tiền ăn thua là 60.000.000 đồng; ngoài ra bị
cáo N1 còn tham gia băng cựa, giúp sức cho trận thứ 5 (trận bị bắt quả tang) nên
đối với bị cáo cũng là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo N1 kháng cáo có xác nhận
hoàn cảnh gia đình khó khăn, có cha là Liệt Nguyễn Văn B hy sinh năm 2008
theo Giấy chứng nhận gia đình Liệt sĩ ngày 22/9/2009; bị cáo N1 bị bắt quả tang
trận thứ 5, chủ động khai ra lần phạm tội trước đó trận thứ 4. Tuy nhiên,
cấp thẩm không xem xét cho bị cáo N1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x điểm r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật
Hình sự thiếu t, cần rút kinh nghiệm. vậy, Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo N1 dưới mức khung hình
phạt được áp dụng. Tuy nhiên, do bị o N1 đã bị kết án về tội “Đánh bạc” vào
năm 2021, lần phạm tội này thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều
kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[5.4] Đối với các bị cáo Phương Minh Á Nguyễn Văn T1, xét thấy: Bị
cáo Á tham gia 03 trận gà, mỗi trận số tiền 5.000.000 đồng, trong đó 01 trận
tổng số tiền ăn thua dưới 50.000.000 đồng; trận thứ 5 chưa đá thì bị bắt quả tang
(đủ mức định tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng); nhân thân tốt, bị cáo
đóng góp cho hội được UBND K T ghi nhận bằng các thư cảm ơn
12
27/10/2025 và 11/02/2026 là những đóng góp trước ngày xét xử thẩm
(06/02/2026). Ngoài ra, bị cáo Á bị bắt quả tang trận thứ 5, chủ động khai ra
các lần phạm tội trước là trận thứ 2 thứ 3tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự
quy định tại điểm r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng chưa được cấp
thẩm áp dụng. Bị cáo Nguyễn Văn T1 tham gia 02 trận số tiền đánh bạc 01 trận
17.000.000 đồng và 01 trận 05 triệu đồng; chủ động khai ra lần phạm tội trận gà
trước đó tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm sự quy định tại điểm r, khoản 1, Điều
51 Bộ luật Hình sự nhưng chưa được cấp sơ thẩm áp dụng, nộp bổ sung gia đình
hoàn cảnh khó khăn, có cậu là Liệt sĩ; bản thân bị cáo bị hoại tử 02 chân (cấp
sơ thẩm đã nhận định tình tiết này, chưa xem xét) nên nếu buộc bị cáo chấp hành
hình phạt tù sẽ gây khó khăn cho bị cáo T1 khi lao động cải tạo. Do đó, xét thấy
bị cáo Á và bị cáo T1 đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65
Bộ luật Hình sự nên không cần cách ly bị cáo Á và bị cáo T1 ra khỏi xã hội cũng
đủ giáo dục bị cáo và mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355 Điều
356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn
Hữu N, Nguyễn T Quốc V. Giữ nguyên bản án thẩm vnh phạt
đối với bị cáo N, T và V.
[7] Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355 và điểm e c, khoản 1, Điều 357
Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn
Hồng N1; chấp nhận kháng cáo của bcáo Phương Minh Á Nguyễn Văn T1;
sửa một phần bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo N1, Á và T1.
[8] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường
vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn Vũ T Quốc V phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo Nguyễn
Hồng N1, Phương Minh Á Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần.
[9] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng
Hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T
Quốc V; giữ nguyên bản án thẩm về hình phạt đối với bị cáo N, T
V.
2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu N Nguyễn T phạm tội “Tổ
chức đánh bạc”.
2.1. Căn cứ điểm a c, khoản 1, Điều 322; điểm s, khoản 1và khoản 2
Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự, xphạt bị cáo
13
Nguyễn Hữu N (Nghĩa Đầu R) 02 (H5) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo
chấp hành án.
2.2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo
Nguyễn Vũ T (Tuấn M) 01 (Một) năm 06 (S5) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
17/3/2025 đến ngày 11/6/2025.
3. Tuyên bố bị cáo Võ Quốc V (H1) phạm tội “Đánh bạc”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều
50, Điều 17, Điều 38 Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quốc V 03
(Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
4. Căn cứ căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355 điểm c, e khoản 1, Điều
357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn
Hồng N1, Phương Minh Á và Nguyễn Văn T1; sửa một phần bản án thẩm về
hình phạt đối với bị cáo N1, Á và T1.
5. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồng N1, Phương Minh Á Nguyễn
Văn T1 phạm tội ”Đánh bạc”.
5.1. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s, x r, khoản 1 khoản
2, Điều 51, điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 38; Điều 58
Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N1 02 (Hai) năm 06 (S5)
tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian
tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2025 đến ngày 11/6/2025.
5.2. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s r, khoản 1 khoản 2;
Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 50; Điều 17; Điều 38; Điều 58 và Điều
65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Minh Á 03 (Ba) năm tù cho hưởng
án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày 16/7/2026.
Giao bị cáo Phương Minh Á về Ủy ban nhân dân phường L, tỉnh Tây
Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
5.3. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 321; điểm s, r khoản 1, khoản 2 pĐiều
51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 50; Điều 17;Điều 38; Điều 58 và Điều 65 Bộ
luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 03 (Ba) năm cho hưởng án treo,
thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày 16/7/2026.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 về Ủy ban nhân dân K, tỉnh Tây Ninh
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
6. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Á T1 cố ý vi phạm nghĩa vụ
theo quy định của Luật Thi hành án hình s02 lần trở lên, tTòa án thể
quyết định buộc bị cáo Á T1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Á và T1 phải
chấp hành hình phạt của bản án này tổng hợp với hình phạt của bản án mới
theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
14
7. Chuyển số tiền 43.700.000 đồng bị cáo Võ Quốc V đã nộp theo biên lai
số 0000966 ngày 16/3/2026 sang khoản tiền bị o V nộp sung tịch thu ngân
sách 43.500.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí hình sự thẩm. Bị cáo V đã
thi hành xong tiền nộp tịch thu ngân sách và tiền án phí hình sự sơ thẩm. Chuyển
số tiền 17.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp theo biên lai số 0000312
ngày 27/01/2026 sang khoản tiền bị cáo T1 phải nộp sung tịch thu ngân sách
42.100.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T1 còn phải tiếp tục nộp 25.100.000 đồng
sung vào ngân sách nhà nước.
8. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình
sự Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Hữu N, Nguyễn T Văn
V2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo
Phương Minh Á, Nguyễn Văn T1 Nguyễn Hồng N1 không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
9. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- Tòa án nhân dân khu vực 5;
- VKSND khu vực 5;
- THADS tỉnh Tây Ninh;
- Công an tỉnh Tây Ninh;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Quốc Khánh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 144/2026/HS-PT Bản án số 144/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 144/2026/HS-PT Bản án số 144/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất