Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 29/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 14/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Y P và chị H S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/3/2020. Khi chung sống thường xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi, anh Y P có đánh chị H S, đã ly thân 01 năm, anh Y P yêu cầu được ly hôn với chị H S, yêu cầu giao con cho chị H S nuôi dưỡng, anh Y P cấp dưỡng hàng tháng số tiền 2.000.000 đồng đến khi con 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
A ÁN NN N
KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 8 - 2025
V/v yêu cầu ly hôn, giải
quyết về con chung khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK
- Tnh phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Mưng Niê.
2. Ông Vũ Công Đạt.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thuỷ - Thư Tòa án Toà án nhân dân
khu vực 8 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk tham gia phiên
toà: Bà Trương Thị Thảo Ngọc Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 m 2025 ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án
nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình
thụ lý số 57/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, về việc: Yêu cầu ly hôn,
giải quyết về con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên
toà số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Y P Niê, Sh năm 2000.
Địa chỉ: Buôn P A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Buôn PA, xã E, tỉnh
Đắk Lắk).
Nơi làm việc: Hợp tác V, khu phố Ph, phường T, tỉnh Đồng Nai vắng
mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị H S Mlô, Sh năm 2001.
Địa chỉ: Buôn D, C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay Buôn D, K, tỉnh
Đắk Lắk) –mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2025 qtrình giải quyết vụ án, nguyên
đơn anh Y P Niê trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Y P chị H S kết hôn trên sở tự nguyện,
tổ chức đám cưới theo phong tục, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân C, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/3/2020. Đến năm 2022 cùng đến tỉnh B làm việc, thời
gian đầu vợ chồng cũng hoà thuận, được một thời gian khi các mối quan hệ bạn
thì chị H S thái độ với với anh Y P trước mặt bạn bè dẫn đến tranh cãi. Đến
tháng 9 năm 2022 anh Y P phát hiện chị H S ngoại tình với người đàn ông khác dẫn
đến bất hoà, tranh cãi, không tin tưởng nhau, sau khi được hai bên gia đình hoà giải
đã tha thứ cho nhau đtiếp tục làm ăn sinh sống. Đến tháng 3 năm 2024 tiếp tục
mâu thuẫn tình cảm, bất đồng quan điểm trong các vấn đề chi tiêu, việc làm dẫn đến
tranh cãi không thể tìm được tiếng nói chung, khi mâu thuẫn, nóng giận anh Y P
cũng đánh chị H S, hai bên gia đình đã nhiều lần hoà giải nhưng không được, đã
sống ly thân từ khoảng tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Anh Y P xác định mâu thuẫn
đã rất trầm trọng, không còn tin tưởng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, từ
khi ly thân không còn chung sống, anh Y P vsống cùng bố mẹ đi làm tỉnh Đ.
Trong thời gian ly thân không còn liên hệ, không quan tâm, chăm c nhau, không
còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống nên anh Y P kiên quyết yêu cầu được
ly hôn với chị H S.
Anh Y P không đồng ý với việc chị H S Mlô yêu cầu trả tiền sính lễ, cưới
hỏi, yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000 đồng bên gia đình anh Y P cũng tổ
chức đám cưới, chi phí cưới hỏi đã chi xong, anh Y P không chứng cứ liên quan
để cung cấp cho Toà án.
Về con chung: Anh Y P chị H S có một con chung là Y Đ Mlô, sinh ngày
29/02/2020, do đi làm xa, khó khăn về chỗ phải ở trọ, con từ nhỏ vẫn với chị
H S Mlô nên anh Y P đồng ý giao con cho chị H S Mlô được trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Anh Y P không đồng ý việc chị H S Mlô yêu cầu anh Y P
phải trả tiền cấp dưỡng một lần vì hoàn cảnh khó khăn, thu nhập từ lương mỗi tháng
chỉ khoảng 6.000.000 đến 7.000.000 đồng, anh Y P đã cung cấp các phiếu lương
trong 03 tháng gần nhất cho Tán, với thu nhập hiện nay anh Y P không đđiều
kiện, không tiền cấp dưỡng một lần nên chỉ đồng ý cấp dưỡng hàng tháng với số
tiền 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tài sản chung, nợ chung nên không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
3
Bị đơn chị H S Mlô quá trình giải quyết và tại phiên ttrình bày:
Về quan hhôn nhân: ChH S anh Y P kết hôn trên sở tự nguyện,
tổ chức đám cưới, đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân C, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk vào ngày 12/3/2020. Trong thời gian chung sống mâu thuẫn, tranh i, bất
đồng quan điểm đúng, khi nóng giận anh Y P còn đánh chị H S, đã được hai bên
gia đình hoà giải nhiều lần nhưng vẫn xảy ra mâu thuẫn. Việc anh Y P cho rằng chị
H S ngoại tình không đúng sự thật, các chứng cứ anh Y P cung cấp bức hình,
nội dung tin nhắn trên facebook không chứng minh việc chị H S ngoại tình hay
quan hệ với người đàn ông khác, sự việc đã được hoà giải giải thích cho mọi
người biết. Do xảy ra mâu thuẫn nên ngày 19/4/2024 anh Y P bỏ về sống cùng cha
mẹ tại Buôn PA, xã E, tỉnh Đắk Lắk, hai bên sống ly thân từ đó đến nay, trong thời
gian sống ly thân chị H S không liên lạc được với anh Y P, anh Y P cũng không
liên lạc, không quan tâm, không trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình
con.
Ngày 29/4/2025 hai bên gia đình đã thống nhất giải quyết theo phong tục,
nay anh Y P yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn, chị H S thấy mâu thuẫn đã trầm
trọng, không thể tiếp tục chung sống nên đồng ý ly hôn với anh Y P nhưng với
điều kiện anh Y P phải trả lại tiền sính lễ số tiền phạt 40.000.000 đồng. Tại
phiên toà chị H S xác định, biên bản thoả thuận theo phong tục của người đồng bào
Êđê được lập giữa hai bên gia đình trước khi cưới, trong đó có nội dung ghi nhận
việc nếu bên nào đưa ra yêu cầu ly hôn thì phải chịu phạt heo, phạt tiền
40.000.000 đồng nhưng chị H S chỉ yêu cầu anh Y P phải trả số tiền phạt
40.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu trả lại sính lễ hay tài sản nào khác.
Về con chung: một con chung Y Đ Mlô, sinh ngày 29/02/2020, chH
S đồng ý trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18
tuổi.
Về cấp dưỡng: Chị H S đồng ý anh Y P nghĩa vụ cấp dưỡng số tiền
2.000.000 đồng/tháng, quá trình giải quyết vụ án chị H S yêu cầu anh Y P phải trả
tiền cấp dưỡng một lần cho thời gian cấp dưỡng nhưng tại phiên toà chị H S thay
đổi yêu cầu cấp dưỡng theo hướng đồng ý việc anh Y P sẽ cấp dưỡng hàng tháng
cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H S anh Y P không tài sản chung, nợ
chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi
trước thời điểm xét xử vụ án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục của
phiên tòa thẩm. Nguyên đơn, bđơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
kết quả hỏi tại phiên toà, đề nghị tuyên xử:
4
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Y P Niê.
Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Y P Niê ly hôn chị H S Mlô.
Về con chung: Giao con chung cháu Y Đ Mlô, sinh ngày 29/02/2020 cho
chị H S Mlô được trực tiếp trông nom, chăm c, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ
18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc anh Y P Niê tự nguyện cấp dưỡng
nuôi con 2.000.000đồng/tháng, việc cấp dưỡng chi trả hàng tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nghĩa vụ dân sự khác: Quá trình giải quyết vụ án chị H S yêu cầu anh Y
P trả lại tiền sính lễ, anh Y P không đồng ý khi cưới, gia đình anh cũng bỏ một
khoản chi phí tương tự. Tại phiên tòa hôm nay chị H S thay đổi yêu cầu, không yêu
cầu trả sính lễ, chỉ yêu cầu tiền phạt 40.000.000 đồng do anh Y P Niê yêu cầu ly
hôn theo biên bản họp gia đình trước khi cưới theo phong tục của người đồng bào
dân tộc Ê đê. Nhận thấy, chi phí cưới hỏi, sính l nghĩa vụ hai bên cùng tự
nguyên thực hiện khi tổ chức đám cưới theo phong tục, không phải giao kết hợp
đồng, hai bên gia đình tự nguyện thực hiện bỏ ra các khoản chi phí như nhau.
Mặt khác, căn cứ quy định tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định các tập quán
lạc hậu về hôn nhân gia đình cấm áp dụng thì việc đòi lại của cải, phạt vạ khi
vợ, chồng ly hôn là phong tục tập quán lạc hậu cấm áp dụng nên yêu cầu của chị H
S Mlô là không có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu c tài liu trong hồ vụ án đưc thẩm tra tại phiên a
và căn c vào kết quả tranh luận ti phiên tòa, Hi đồng xét x nhn đnh:
[1] Về quan hệ pháp luật, th tục tố tng: Đây quan hệ pháp luật về yêu cầu
ly hôn giải quyết về con chung khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của
Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án tranh chấp này
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk (nay Toà án
nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và quy định v thẩm quyn ca
T án nhân n khu vc.
Anh Y P đơn đề nghị t xử vắng mặt n việc t xử vắng mt anh Y P
đúng quy định tại khon 1 Điều 227, Điều 228 của Bluật ttụng n sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hi đồng t xử nhận định:
[2.1] Về yêu cu lyn: Anh Y P chị H S kết hôn trên sở tự nguyện,
đăng kết hôn tại Uỷ ban nhân dân C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
12/3/2020 (nay Uỷ ban nhân n K, tỉnh Đắk Lắk), quan hhôn nhân hợp
pháp, làm phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Xét lời trình bày của anh Y P
cho rằng quá trình chung sống có mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, xảy ra cãi vã, tình
cảm vợ chồng không còn sở, chị H S ng thừa nhận thời gian chung sống
mâu thuẫn, tranh cãi, bất đồng quan điểm đúng. Khi nóng giận anh Y P
đánh chH S, đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng vẫn không giải
5
quyết được mâu thuẫn, chị H S thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, kng thể tiếp tục
chung sống, chị H S đồng ý ly hôn với anh Y P. Hội đồng xét xử nhận thấy, thực tế
hai bên không còn chung sống, không còn quan tâm, chămc, giúp đỡ nhau, không
cùng nhau trao đổi, chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Do đó, căn cứ xác
định, cuộc sống hôn nhân giữa anh Y P chị H S không hạnh phúc, xảy ra mâu
thuẫn kéo dài thật, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục
đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận cho anh Y P ly hôn với chị H S là phù
hợp.
Quá trình giải quyết vụ án chị H S yêu cầu anh Y P trả tiền sính lễ, tiền phạt
40.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị H S thay đổi yêu cầu, không yêu cầu trả sính lễ,
chỉ yêu cầu số tiền phạt 40.000.000 đồng do Y P Niê đưa ra yêu cầu ly hôn theo
biên bản thoả thuận giữa hai bên gia đình trước khi cưới theo phong tục của người
đồng bào dân tộc Ê đê được lập ngày 22/02/2019. Nhận thấy, chi phí cưới hỏi, sính
lễ nghĩa vụ hai bên cùng tự nguyện thực hiện khi tổ chức đám cưới theo phong
tục, không phải giao kết hợp đồng, hai n gia đình đã tự nguyện thực hiện, bỏ ra
các khoản chi phí, anh Y P không đồng ý với yêu cầu của chị H S. vậy, căn cứ
quy định tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều biện pháp thi hành Luật hôn nhân gia đình, đã ban hành
kèm theo danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình cần vận động xoá bỏ
cấm áp dụng, thì việc đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn là phong tục
tập quán lạc hậu cấm áp dụng. Do đó, việc chị H S Mlô yêu cầu anh Y P phải trả
cho chị H S số tiền phạt 40.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Anh Y P chị H S một con chung là Y Đ Mlô, sinh
ngày 29/02/2020, tkhi không còn chung sống, chị H S người trực tiếp nuôi
con, anh Y P chị H S đều thống nhất giao con cho chị H S được trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi nên cần chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng: Như đã
nhận định ở trên do giao con chung cho chị H S trực tiếp nuôi dưỡng nên anh Y P có
nghĩa vụ cấp dưỡng là phù hợp, anh Y P và chị H S đều đồng ý anh Y P nghĩa vụ
cấp dưỡng số tiền 2.000.000 đồng là phù hợp, cần chấp nhận.
Khi do chính đáng, mức cấp dưỡng thể thay đổi, việc thay đổi mức
cấp dưỡng do các bên thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Về phương thức cấp dưỡng: Qtrình giải quyết vụ án chị H S yêu cầu anh
Y P phải cấp dưỡng một lần cho thời gian cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Tại
phiên toà chị H S thay đổi yêu cầu cấp dưỡng theo hướng đồng ý cho anh Y P cấp
dưỡng hàng tháng, thấy rằng anh Y P hiện nay làm công nhân, thu nhập trung bình
6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nên căn cứ mức thu nhập, nhu cầu thiết yếu của
con, cần chấp nhận việc anh Y P nghĩa cấp dưỡng hàng tháng với số tiền
2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi đúng quy định tại Điều 116, Điều 117 của
Luật hôn nhân và gia đình.
6
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Y P chị H S đều không yêu cầu
nên không xem xét giải quyết là phù hợp.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2, 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1
Điều 26, điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Y P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, được
khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí là phù hợp. Anh Y P phải chịu án phí đối
với nghĩa vụ cấp dưỡng là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 243, khoản 1 Điều 244, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117
Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn byêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Y P
Niê.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Y P Niê được ly hôn với chị H S Mlô.
2. Về con chung: Giao con chung là Y Đ Mlô, sinh ngày 29/02/2020 cho chị
H S Mlô được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ
18 tuổi.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom
con không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc
thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con quyền yêu cầu Tòa án hạn chế
quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi
người nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Y P Niê nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, cấp
dưỡng kể từ tháng 8 năm 2025 đến khi con đủ 18 tuổi.
Khi do chính đáng, mức cấp dưỡng thể thay đổi. Việc thay đổi mức
cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án
giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Y P Niê chị H S Mlô không yêu cầu
nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Y P Niê phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn
thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai
7
thu tạm ứng án phí s 0002184 ngày 27/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện K, tỉnh Đắk Lắk (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Đắk Lắk).
- Anh Y P Nphải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm đối với nghĩa vụ
cấp dưỡng.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo
bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, bị đơn quyền khaùng cáo bản
án sơ thẩm trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 8 - Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Phòng THADS khu vực 8 - Đắk Lắk; (đã ký, đóng dấu)
- UBND xã K, tỉnh Đắk Lắk;
- Lưu hồ sơ; văn phòng. Hoàng Văn Vân
Tải về
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất