Bản án số 132/2023/HS-ST ngày 10/08/2023 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 132/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 132/2023/HS-ST ngày 10/08/2023 của TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Sơn La (TAND tỉnh Sơn La)
Số hiệu: 132/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/08/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SL
TỈNH SƠN LA
Bản án số: 132/2023/HS-ST
Ngày 10 - 8 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
Các Hội thm nhân dân:
Ông Hoàng Ngọc Hùng
Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố SL,
tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phSL tham gia phiên toà:
Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn
La xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 131/2023/TLST-HS
ngày 07 tháng 7 m 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
131/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 m 2023 đối với bị cáo:
ng Văn D (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 18 tháng 10 m 1996 tại
thành phố SL, tỉnh Sơn La; nơi trú: Bản Hịa, H, thành phố SL, tỉnh Sơn La;
nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Tòng
Văn H (sinh năm 1976) và con bà Thị T (sinh năm 1976); bị cáo chưa có vợ, con;
tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2023 đến nay,
có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Tòng Thị D2, sinh năm 1999; nơi
cư trú: Bản Hịa, H, thành phố SL, tỉnh Sơn La.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Mai Chi T
Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh Sơn La.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Hoàng V
ông Hoàng Tuấn M Cán bđội thinh án Hình sHỗ trợ phápng an
thành phố SL, tỉnh Sơn La.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/4/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội
phạm về kinh tế, ma túy - Công an thành phố SL làm nhiệm vụ tại khu vực t 02,
phường Q, thành phố SL phát hiện bắt quả tang Tòng Văn D, sinh năm 1996, đang có
hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói giấy bạc, n trong có chứa 04 viên n màu hồng đồng dạng, D khai
ma túy Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.
- 01 xe tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu sơn đen, Biển kiểm soát
26B2-872.22, số khung: RLHJA 3924PY719142, số máy: JA 39E 3112719.
Cùng ngày, quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố SL đã tiến hành bóc
mở niêm phong, tách bì, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: 04 viên
nén màu hồng chứa trong gói giấy bạc tổng khối lượng 0,38 gam, lấy 02 viên
tổng khối lượng 0,19 gam làm mẫu giám định ký hiệu A. Còn lại 02 viên có tổng khối
lượng 0,19 gam ký hiệu B niêm phong làm mẫu lưu kho.
Tại Kết luận giám định số: 884/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phòng kỹ thuật
hình sCông an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định hiệu A ma túy; loại
Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định 0,19 gam. Tổng khối lượng
ma túy thu giữ 0,38 gam; loại Methamphetamine, mẫu gửi giám định đã s dụng hết
trong quá trình giám định”.
Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn D khai nhận: Khoảng 16 giờ
40 phút ngày 26/4/2023, Tòng Văn D điều khiển xe nhãn hiệu HONDA, loại
WAVE, màu sơn đen, Biển kiểm soát 26B2-872.22 từ nhà ở bản Hịa, xã H, thành phố
SL, tỉnh Sơn La đến khu vực bản D, C, thành phố SL, tỉnh Sơn La để tìm mua ma
túy về sử dụng. Đến nơi, D thì gặp một người nam giới dáng người gầy (D không biết
tên, tuổi, địa chỉ) và hỏi mua của người này được một gói giấy bạc bên trong có chứa
04 viên nén màu hồng với giá 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua,
D cất số ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi điều khiển
xe mô tô đến khu vực tổ 2, phường Q, thành phố SL, tỉnh Sơn La thì bị cơ quan Công
an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Trên sở lời khai của bị cáo, quan điều tra đã thực hiện điều tra xác minh
đối với người nam giới đã bán trái phép chất ma túy cho Tòng Văn D nhưng không có
căn cđể m rộng điều tra vụ án.
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE,
màu sơn đen, Biển kiểm soát 26B2-872.22 do D sử dụng để mua ma túy là tài sản của
chị Tòng Thị D2, sinh năm 1999, trú tại bản H, xã H, thành phố SL, tỉnh Sơn La (em
gái ruột của Tòng Văn D). Ngày 24/5/2023, Cơ quan Cnh sát điều tra Công an thành
phố SL đã ra quyết định xử vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Tòng Thị D2
chiếc xe trên.
3
Tại bản cáo trạng số: 291/CT-VKSTP ngày 05/7/2023 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố SL, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Tòng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình đúng như ni dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành
phố SL đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL giữ quyền
công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá
tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét
xử:
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp
dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Tòng Văn D từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình s;
điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ
phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc0,19 (không
phẩy ời chín) gam Methamphetamine ký hiệu B.
Chp nhn vic cơ quan điu tra đã tr li chiếc xe mô tô nn hiu HONDA, loi
WAVE, màu n đen, Bin kim soát 26B2-872.22, xe đã qua s dng cho ch Tòng Th D2.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không ý kiến đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, n
gười quyền
lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì thêm.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố SL,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, Kiểmt viên trong qtrình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo những người khác không ý
kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cức định hành vi phạm tội của bịo: Ngày 26/4/2023, Tòng Văn
D đã nh vi cất giti phép 0,38 gam Methamphetamine, nh vi phạm tội của bo
được chng minh bng: Li khai nhận tội của bị o; biên bản bắt ni phạm tội qutang
4
lập hồi 17 giờ 10 phút ngày 26/4/2023 tại t02, png Q, thành phố SL, tỉnh Sơn La đi
vi Tòng Văn D cùng vật chứng thu gi là 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa 04 viên nén
màu hồng đng dạng, D khai ma y Hng phiến; Biên bn niêm phong vật chng; Biên
bn c mniêm phong, n tnh vật chứng lấy mu gửi gm định và niêm phong lại; Kết
luận giám định số 884/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Png kỹ thuật nh s ng an tỉnh
Sơn La; lời khai nhận tội của bịo phù hp vi lời khai ca ông Trương Hng D3, sinh
năm 1995, trú tại: tổ 03, phường T, thành phố SL, tỉnh n La, là người chứng kiến việc bắt
người phạm tội qutang.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tòng Văn D phạm tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ
luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội tàng trữ trái
phép chất ma y với tổng khối lượng là 0,38 gam, loại Methamphetamine, đã vi phạm
vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật
Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm thuộc loại tội phạm
nghiêm trọng.
Hành vi vi phạm của bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến cnh ch độc
quyền quản của Nớc về chất ma túy,y mất trật tự tran tại địa phương. Do đó,
o trạng của Viện kiểmt nhân dân thành phố SL truy tố bị o theo tội danh và điều
luật áp dng là đúng người, đúng tội; tại phiên a đại din Viện kiểm t luận tội quy kết
bị cáo D phạm tội đề nghị phạt tù đối với bị cáo có căn c phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không tình
tiếtng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá tnh điều tra tại phiên a,
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự,
bị cáo thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo
không công việc, thu nhập ổn định, không tài sản riêng giá trị, xét việc áp
dụng hình phạt bổ sung không khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp
tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tngày
26/4/2023 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[8] Về nguồn gốc số ma y: Bị cáo khai mua ma túy của của một người nam
giới, không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực bản D, C, thành phố SL, tỉnh Sơn La.
Ngoài lời khai của bị cáo, quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng
không thu thập được tài liệu chứng cứ , do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình
sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.
[9] Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) 01 xe mô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, u sơn đen, Biển
kiểm soát 26B2-872.22, xe đã qua sử dụng. Qtrình điu tra c định, đây i sản của
chTòng ThD2, sinh m 1999, trú tại bản H, xã H, thành phSL, tỉnh n La (em gái
5
ruột của Tòng Văn D). Ny 26/4/2023, chị D2 cho D mượn chiếc xe mô tô trên, chD2
không biết D mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh t điều tra ng an
thành phố SL đã ra quyết định xử vật chứng bằng hình thức trả lại cho chng Th
D2 chiếc xe trên căn cứ đúng theo quy định.
Đối với 0,19 gam Methamphetamine ký hiệu B hiện đang lưu kho vật chứng,
vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở
01 mảnh giấy bạc, là vật chứng không giá trị sử dụng, căn cứ đim c khoản 1
Điều 47 của Bộ luậtnh sự; đim a, c khon 2 Điều 106 ca B lut Tố tụngnh
s, cần tịch thu và tiêu hủy.
[10] V án phí: Bị cáo phải chịu án phí nh s thm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn c vào đim c khoản 1 Điu 249; Điều 38; đim s khon 1 Điu 51
Bộ lut Hình s.
Tuyên bố: Bị cáo Tòng Văn D phạm tội “ng trtrái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Tòng Văn D 16 (mườiu) tháng , thời hạn tù tính từ ngày tạm
giữ, tạm giam (26/4/2023).
Kng áp dụng nh phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ đim c khon 1 Điều 47 ca B luật Hình s; điểm
a, c khoản 2 Điu 106 ca Bộ lut T tng hình s:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong niêm phong vật chứng ban đầu đã
bóc mở; 01 (một) mảnh giấy bạc 0,19 (không phẩy mười chín) gam
Methamphetamine hiệu B (được niêm phong trong 01 phong công văn dán
giấy niêm phong số 063857 của Công an thành phố SL).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2023 giữa Công an thành
phố SL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SL, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo
Tòng Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phính ssơ thẩm.
4. Vquyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/8/2023).
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sơn La;
- Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
- VKSND thành phố SL;
- Công an thành phố SL;
- Chi cục THA dân sự thành phố SL;
- Bị cáo;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
- THAHS;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lò Thị Mai Hương
6
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hoàng Ngọc Hùng Nguyễn Thị
Ngọc Lan
7
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Sơn La;
- Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
- VKSND thành phố SL;
- Công an thành phố SL;
- Chi cục THA dân sự thành phố SL;
- Bị cáo;
- THAHS;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lò Thị Mai Hương
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT
XỬ
Bồ Thị Thái Hoàng
Ngọc Hùng
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lò Thị Mai Hương
Tải về
Bản án số 132/2023/HS-ST Bản án số 132/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất